Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang9/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

Chương II. CÁC THỂ THƠ CA MÔ PHỎNG THƠ CA TRUNG QUỐC


Hình thức thơ ca trong văn học viết của Trung Quốc nói chung bắt nguồn từ Kinh Thi, Sở từ. Thể thơ trong Kinh Thi thay đổi từ 4, 5 đến 7, 8 từ, nhưng phổ biến là 4 từ, rồi 5 từ. Thể thơ trong Sở từ thay đổi từ 4, 5 từ đến 8, 9 từ nhưng phổ biến là 6 từ và 7 từ.

Lối trường đoản cú trong dân ca, sau đưa vào nhạc phủ, nên người ta gọi là thể nhạc phủ về sau bắt nguồn từ đây. Hai thể ngũ ngôn và thất ngôn chắc dần dần về sau mới hình thành. Hai thể này ban đầu chỉ cần có vần mà không cần niêm luật, gọi là thể cổ phong, đến đời Đường mới có niêm luật, nên gọi là thể Đường luật.


A. THỂ THƠ CỔ PHONG


1. Tính chất chung

Người ta gọi thể thơ cổ phong hay gọi tắt là thể cổ phong tức thể thơ phổ biến ngũ ngôn (5 từ) hay thất ngôn (7 từ) có trước thơ Đường luật, thể thơ này chỉ cần có vần (hoặc bằng, hoặc trắc, mà không cần đối nhau hay không cần theo một niêm luật bằng trắc nhất định nào cả. Như vậy:



a. Về vần:

Thơ cổ phong có thể có một vần (độc vận) hay nhiều vần theo kiểu vần liền, vần cách không nhất định, nhưng phải có vần mới thành thơ. Vần thì phải theo quy định ghi ở Thi vận tập thành.



b. Về câu:

Thơ cổ phong cũng không hạn định số câu, có thể 4 câu, 6 câu, 8 câu, 10 câu hay rất nhiều câu theo lối trường thiên cũng được. Tuy nhiên, lối phổ biến là 4 câu và 8 câu, sau đó đến lối trường thiên (lối hành).



c. Về luật bằng trắc:

Thơ cổ phong tuy không có niêm luật nhất định và chặt chẽ như thơ Đường luật, nhưng tất nhiên phải thích ứng với quy luật âm thanh của tiếng nói (Trung Quốc, Việt Nam…), do đó cũng phải có tiếng bằng, tiếng trắc xen nhau thế nào đó để đọc cho dễ nghe hoặc dễ ngâm… Trong thơ Việt Nam sau này, có vài người đưa ra một lối thơ thất ngôn mà câu toàn tiếng bằng hay toàn tiếng trắc có tính chất hiếu kỳ, chỉ được coi như là biệt lệ. Thí dụ: câu thơ toàn tiếng bằng:

Oanh già theo quyên: quên tin chàng

Đào theo phù dung: thư không sang…

(Bích Khê)

Và câu thơ toàn tiếng trắc:

Lắng tiếng gió núi thấy tiếng khóc,



Một bụng một dạ một nặng nhọc…

(Thế Lữ)


2. Lệ chứng về thơ cổ phong

Sau đây là một thí dụ tiêu biểu về thơ cổ phong:



a. Mỗi bài 4 câu.

Thơ 4 câu người ta cũng gọi là thơ tứ tuyệt, tức là thơ gồm 4 câu có ý nghĩa thật hay. Trong văn học Trung Quốc, người ta không gọi là tứ tuyệt, mà gọi là tuyệt cú cũng với ý nghĩa như vậy. Cũng có người cho rằng thơ tứ tuyệt nghĩa là thơ 4 câu cắt ra từ thơ 8 câu (xem: Thơ Đường luật).

Thí dụ 1: Ngũ ngôn tứ tuyệt (vần trắc và một vần):

Quy TiỀu

Rừng lau gió lác đác

Chim hôm bay xao xác

Gánh củi lững thững về

Đường quen không sợ lạc

(Khuyết danh)

Thí dụ 2: Ngũ ngôn tứ tuyệt (vần cách):

ĐiỀn GIA LẠc

Năm ngoái ruộng được mùa,

Nhà ba bốn cót thóc,

Ăn tiêu hãy còn thừa

Bán cho con đi học…

(Khuyết danh)

Bài này hai vần cách: một vần bằng, một vần trắc.

b. Mỗi bài 6 câu hoặc 10 câu:

Thí dụ 1: Thất ngôn (một vần và vần trắc):



TỬu HỮu

Hôm qua có bạn, rượu lại hết.

Hôm nay có rượu, bạn không biết

Cất đi đợi bạn đến lúc nào,

Cùng uống cùng vui trời đất tít,

Khi say quên cả ai là ta,

Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt.

(Khuyết danh)

Thí dụ: Thất ngôn (vần liền, vừa vần trắc vừa vần bằng):

Đá xanh như nhuộm, nước như lọc

Cỏ cây hoa lá dệt như vóc

Trời quang mây tạnh gió hiu hiu,

Ai thấy cảnh này mà chẳng yêu

Mới biết hóa công tay khéo vẽ

Không mực không thuốc mà đủ vẻ

Tay người điểm xuyết ra nước non,

Bể cạn, non bộ nhỏ con con

Sao bằng tiêu dao cùng tạo hóa,

Bốn mùa phong cảnh thật không giả

(Khuyết danh)

Bài này 10 câu gồm ba vần trắc và hai vần bằng, đều vần liên châu (vần liền).

c. Mỗi bài 8 câu, tức gọi là thơ bát cú, nếu mỗi câu 5 từ thì gọi là ngũ ngôn bát cú, mỗi câu 7 từ thì gọi là thất ngôn bát cú.

Thí dụ 1: Ngũ ngôn bát cú (vần trắc):

ĐÊM MùA Hè

Tháng tư đầu mùa hạ,

Tiết trời thực oi ả

Tiếng dế kêu thiết tha,

Đàn muỗi bay oi ả

Nỗi ấy biết cùng ai,

Cảnh này buồn cả dạ,

Biếng nhắp năm canh chầy,

Gà đã sớm giục giã.

(Nguyễn Khuyến)

Thí dụ 2: Ngũ ngôn bát cú (vần bằng, chiết vận ở câu đầu):

KHEN TRẦN BìNH TRỌNG

Giỏi thay Trần Bình Trọng

Dòng dõi Lê Đại Hành

Đánh giặc dư tài mạnh.

Thờ vua một tiết trinh

Bắc vương, sống mà nhục,

Nam quỷ, thác cũng vinh

Cứng cỏi lời trung liệt,

Nghìn thu tô đại danh…

(Khuyết danh)

(Trích lục Truyện Trần Hưng Đạo)

Thí dụ 3: Thất ngôn bát cú (vần trắc):



ĐùA Cô HàNG NưỚc

Bán hàng nay cô đà mấy tuổi?

Nước có còn nóng hay là nguội?

Lủng lẳng trên treo dăm nắm nem,

Lơ phơ dưới móc một buồng chuối

Bánh rán, bánh dầu đều xoa mỡ,

Ăn uống xong rồi tiền chưa đủ,

Biết nhau cho chịu một vài buổi.

(Khuyết danh)

d. Mỗi bài gồm nhiều câu, tức là thể trường thiên (cũng gọi là thể hành, nghĩa là thể thơ làm có thể kéo dài mấy cũng được): thể này có khi dùng một vần, dùng vần liền hay vần cách tùy ý, có thể kéo dài, nên có thể viết thành truyện thơ. Thể hành này khá phổ biến ở Trung Quốc, bài nổi tiếng là bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, ở ta, có bài Hương miết hành đều theo thể thất ngôn trường thiên. Thí dụ một bài theo lối này (thất ngôn, một vần và vần bằng):

PHONG CẢNH VẠN KiẾp

Trời Nam riêng một cõi doanh hồng,

Sơn thủy thiên nhiên cảnh lạ lùng

Bắc đẩu, Nam tào chia tả hữu,

Huyền đăng trăm ngọn đá chông vông

Mấy chòm cổ thụ bóng sầm uất,

Một dây cao phong thế trập trùng.

Bãi nổi sè sè hình lưỡi kiếm.

Nước trong leo lẻo một dòng sông

Véo von vượn hót trên đầu núi,

Lác đác hươu ăn dưới rặng tùng.

Ráng tỏa chiều hôm chim ríu rít,

Mây tuôn ban sớm khói mịt mùng

Phong quang bốn mặt đẹp như vẽ,

Một tòa lâu đài cao sát không

Rèm ngọc sáng choang mây núi bắc,

Gác hoa bóng lộn sóng chiều đông.

Đại vương khi nhàn lệ trượng trúc,

Theo sau vài một gã tiểu đồng

Khi đeo bầu rượu qua sườn núi,

Lúc dạo cung đàn bơi giữa dòng

Thủng thỉnh cuộc cờ khí gió mát,

Ung dung ngâm vịnh lúc trăng trong

Nghĩ mình thú hứng vui ngày sót,

Ngắm cảnh non sông thỏa tấc lòng.

Tuổi già, cảnh thú, công danh trọn,

Than ôi! Đại vương thực anh hùng.

(Khuyết danh)

(Trích Truyện Trần Hưng Đạo)

đ. Lối thơ hiếu kì: một biệt lệ.

Trong thơ cổ phong, dù là một vần cũng phải có tiếng bằng tiếng trắc xen nhau cho hợp với quy luật âm thanh. Tuy nhiên cũng có một số người hiếu kỳ đưa ra một lối thơ cổ phong một vần (bằng hoặc trắc) mà câu nào cũng có vần, không có một tiếng bằng hay tiếng trắc xen vào ở cuối một câu nào đó để ngắt quãng. Thể thơ hiếu kỳ này mất sự cân đối về âm thanh, do đó khổ độc, không thể ngâm bình thường được.

Thí dụ: Thơ toàn bộ các câu đều một vần trắc:

Thờ quấy tin vờ sao chẳng hổ

Hổ rày đành phận sao thêm khổ

Khổ vì câu: hoàng thiên chấn nộ

Nộ bởi câu: tri nguyên bất cố.

Bất cố nguyên bất tầm chính lộ

Chính lộ trước sau hằng hằng có

Đạo xuất ư thiên nguyên là đó

Nhiều kẻ ngâm thơ mà chẳng rõ…

(Khuyết danh)

Thí dụ: Thơ toàn bộ các câu đều vần bằng

THU KHUÊ OáN

Gió thu lạnh lẽo mây trời quang

Sân thu đêm khuya rơi lá vàng

Trăng tà chìm lặn, nhạn kêu sương,

Gối chiếc chăn đơn thiếp nhớ chàng

Chàng đi xa cách nhớ quê hương

Quê hướng đất khách người một phương

Mong chàng chẳng thấy lòng ngùi thương

Buồng không, canh vắng, bóng in tường…

(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Khối tình con I)


B. THỂ THƠ ĐƯỜNG LUẬT


1. Tính chất chung

Luật thơ áp dụng cho các thể ngũ ngôn và thất ngôn, được đặt ra từ đời nhà Đường, nên gọi là thơ Đường luật. Các thể thơ này buộc phải theo sự quy định thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và trong toàn bài.

Hệ thống thanh bằng, thanh trắc cân xứng được kể từ câu đầu ở từ thứ nhì. Nếu từ thứ nhì thanh bằng là luật bằng, từ thứ nhì thanh trắc là luật trắc.

Thí dụ 1: Luật bằng (câu đầu thể ngũ ngôn)

b(t) b t t b

Tứ bề cảnh vắng teo…

Thí dụ 2: Luật trắc (câu đầu thể ngũ ngôn)

t (b) t t b b

Vằng vặc bóng thuyền quyên…

Thí dụ 3: Luật bằng (câu đầu thể thất ngôn)

b (t) b t (b) t t b b

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom…

Thí dụ 4: Luật trắc (câu đầu thể thất ngôn)

t t t b t t b

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường…

Đây là hệ thống ngang luật bằng trắc của bài thơ, các câu thơ trong toàn bài lại phải dính với nhau theo một hệ thống dọc mà người ta gọi là niêm. Niêm có nghĩa là câu trên dính với câu dưới: bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống như sau (tính theo từ thứ nhì):

Từ thứ nhì câu 1 niêm với từ thứ nhì câu 8.

Từ thứ nhì câu 2 niêm với từ thứ nhì câu 3.

Từ thứ nhì câu 4 niêm với từ thứ nhì câu 5.

Từ thứ nhì câu 6 niêm với từ thứ nhì câu 7.

Tóm lại:


Nhất bát, nhị tám

Tứ ngũ, lục tht

Hễ thấy câu 1 và câu 8 mà thanh bằng, thanh trắc giống nhau là hợp niêm.

Về cách gieo vần: thơ Đường luật chỉ dùng vần bằng và chỉ được gieo một vần (độc vận), theo hai cách: hoặc hạn vận, hoặc phóng vận, thông thường thì bài 4 câu (tứ tuyệt) là ba vần, bài 8 câu (bát cú) là 5 vần (trừ biệt lệ, sẽ nói ở sau).

Về cách đặt câu của một bài bát cú; thì các câu được sắp đặt như sau:

– Câu đầu gọi là phá đề (tức mở đề)

– Câu nhì gọi là thừa đề (chuyển ý vào nội dung)

– Hai câu ba, bốn gọi là thực (tức là cắt nghĩa đầu đề cũng gọi là hai câu lĩnh)

– Hai câu năm, sáu gọi là luận (tỏ tình, ý của người làm thơ, cũng gọi là câu cảnh)

– Câu bảy, tám tức là hai câu kết luật (Bốn câu thực và luận phải đối nhau từng cặp).



2. Bảng lập thành luật các thể bát cú

Thí dụ 1: Luật bằng ngũ ngôn bát cú.

Câu 1: b b t t b (vần)

Câu 2: t (niêm) t t b b (vần)

Câu 3: t t b b t đối nhau

Câu 4: b (niêm) b t t b (vần)

Câu 5: b b b t t đối nhau

Câu 6: t (niêm) t t b b (vần)

Câu 7: t t b b t

Câu 8: b b t t b (vần)

Chú ý:

– từ thứ nhì câu 1 là bằng (luật bằng)

– từ thứ nhì câu 8 là bằng (đúng niêm)

Thí dụ 2: Luật sắc ngũ ngôn bát cú.

Câu 1: t t t b b (vần)

Câu 2: b (niêm) b t t b (vần)

Câu 3: b b b t t đối nhau

Câu 4: t (niêm) t t b b (vần)

Câu 5: t t b b t đối nhau

Câu 6: b (niêm) b t t b (vần)

Câu 7: b b b t t

Câu 8: t t t b b (vần)

Chú ý:

– từ thứ nhì câu 1 là trắc (luật trắc)

– từ thứ nhì câu 8 là trắc (dùng niêm)

Thí dụ 3. Luật bằng thất nn bát cú.

Câu 1: b b t t t b b (vần)

Câu 2: t (niêm) t b b t t b (vần)

Câu 3: t b b b t t đối nhau

Câu 4: b (niêm) b t t t b b (vần)

Câu 5: b b t t b b t đối nhau

Câu 6: t (niêm) t b b t t b (vần)

Câu 7: t t b b b t t

Câu 8: b b t t t b b (vần)

Chú ý:

– từ thứ nhì câu 1 là bằng (luật bằng)

– từ thứ nhì câu 8 là bằng (đúng niêm)

Thí dụ 4: Luật trắc thất ngôn bát cú

Câu 1: t t b b t t b (vần)

Câu 2: b (niêm) b t t t b b (vần)

Câu 3: b b t t b b t đối nhau

Câu 4: t (niêm) t b b t t b (vần)

Câu 5: t t b b b t t đối nhau

Câu 6: b (niêm) b t t t b b (vần)

Câu 7: b b t t b b t

Câu 8: t t b b t t b (vần)

Chú ý:

– Từ thứ nhì câu 1 là trắc (vần trắc)

– Từ thứ nhì câu 8 là trắc (đúng niêm)

3. Biệt lệ

Thật ra, niêm luật chặt chẽ nói trên cũng ít ai theo được, vì quá gò bó, nên lại phải đặt ra một số biệt lệ:



a. Biệt lệ vì luật bằng trắc gọi là “lệ bất luận” (nghĩa là không theo luật bằng trắc, mà vẫn không coi là thất luật.

Nhất tam bất luận: tức là từ đầu và từ thứ ba trong câu không kể bằng trắc; lệ này dùng cho thơ ngũ ngôn.

Nhất tam ngũ bất luận: tức là từ đầu, từ thứ ba và từ thứ năm trong câu không kể bằng trắc; lệ này dùng cho thơ thất ngôn.

Từ biệt lệ đó lại nảy ra một khó khăn cho phép làm thơ: đó là bệnh khổ độc. Chính để chữa tính trúc trắc trong thơ cổ phong, mới đặt ra thơ Đường luật, nhưng thơ Đường luật gò bó quá, nên lại đặt ra biệt lệ, biệt lệ có khi lại gây ra khổ độc. Muốn tránh bệnh khổ độc cần chú ý điểm sau đây: nói chung khi lấy thanh bằng thay cho thanh trắc thì ít gây ra khổ độc, ngược lại lấy thanh trắc thay cho thanh bằng lại thường gây ra khổ độc nếu có ba thanh trắc liền nhau.



b. Biệt lệ về cách trn vần gọi là chiết vận”

Theo luật, bốn câu thì 3 vần, tám câu thì 5 vần, nhưng có thể trốn vần, như bốn câu chỉ 2 vần, tám câu chỉ 4 vần, 16 câu chỉ 8 vần (loại 16 câu như hai bài ngũ ngôn bát cú chắp lại). Muốn trốn vần như vậy phải theo một nguyên tắc là hai câu có vần trốn đó (tức 2 câu đầu của một bài bốn câu hay một bài tám câu) phải đối nhận gọi là song phong (hai đỉnh núi đối nhau). Một bài bát cú trốn vần như vậy phải có sáu câu đối thau (cũng gọi là Đường luật).Thể này thường thấy trong các kỳ thi Hội; ngoài ra người ta ít dùng.



c. Ngoài ra, thơ Đường luật còn cấm không được phạm một số bệnh thơ khác như bệnh phong yêu: tức là từ thứ tư không được điệp vần với từ thứ bảy (tức giống như lối bắt vần lưng của ca dao đời Hán (xem mục “vần” chương “Tính chất chung”). Thí dụ:

Ngắm cảnh non sông sống thỏa tấc lòng…

(Phong cảnh Vạn Kiếp)

hay là điệp thanh: thí dụ nếu từ thứ 4 là bằng, mà vần cũng bằng (từ thứ 7), thì không được cùng một thanh, mà phải một thanh huyền, một thanh không thì mới dễ đọc, hay một bệnh khác nữa là bệnh hạc tất (tức một câu thơ mà ngắt làm 3 nhịp). Thơ mô phỏng Trung Quốc phải theo nhịp 4–3 (tức 2–2–3) và kiêng nhịp 3/4 (tức 3/2/2). Nhưng câu nào ngắt nhịp như kiểu sau coi như không thuần thục, đọc lên nghe như ngắt thành 3, thí dụ:

Kẻ vọng trần / thêm nặng / gánh tình.

(Bài Tiễn quan trấn thủ của Phan Huy ích)



4. Thơ tứ tuyệt

Thể chính quy Đường luật là thể tám câu (bát cú), xưa được dùng trong thi cử. Thường người ta còn làm cả thể bốn câu gọi là tứ tuyệt (xem phần “Tính chất chung”). Theo nghĩa chữ tứ tuyệt ở đây, thì thể thơ này gồm 4 câu cắt ra từ một bài bát cú. Có bốn cách cắt:



a. Cắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau. Thí dụ:

XUÂN

Khí trời ấm áp đượm hơi dương

Thấp thoáng lâu dài vẻ ác vàng

Rèm liễu líu lo oanh hót gió,

Giậu hoa phấp phới bướm châm hương

(Khuyết danh – Phỏng dịch thơ chữ Hán của bà Ngô Chi Lan)



b. Cắt bốn câu giữa, thành ra bài thơ hai vần, bốn câu đều đối nhau. Thí dụ:

KHI TẦu CẬp BẾN

Gió đưa dương liễu cành cành nguyệt

Cụm tỏa ngô đồng lá lá sương

Thuyền mọn năm canh người bãi Hán

Dịch dài một tiếng khách Tầm dương

(Phan Thanh Giản)



c. Cắt bốn câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu đầu đối nhau, hai câu dưới không đối. Thí dụ:

ĐỜi NGƯỜI

Người hết danh không hết,

Đời còn việc vẫn còn

Tội gì lo tính quẫn,

Lập những cuộc con con

(Khuyết danh)

d. Cắt hai câu đầu, hai câu cuối, thành ra bài thơ ba vần, cả bốn câu không đối. Thí dụ:

TrỜi Nói

Cao cao muôn trượng ấy là tao

Dẫu pháo thăng thiên chả tới nào

Nhắn nhủ dưới trần cho chúng biết:

Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào.

(Nguyễn Khuyến)



5. Lệ chứng về thơ bát cú đường luật

a. Phần đã nói trên là phần niêm luật, biệt lệ của thể thơ Đường trong đó có loại tứ tuyệt là loại cắt ra từ những bài bát cú. Sau đây là những thí dụ về các bài Đường luật hoàn chỉnh gọi là bát cú Đường luật (có châm chước theo biệt lệ):

Thí dụ 1: Ngũ ngôn bát cú



MẶT TRĂNG

(Hạn vần: lên)

Vằng vặc bóng thuyền quyên

Mây quang gió bốn bên,

Nề cho trời đất trắng.

Quét sạch núi sông đen

Có khuyết nhưng tròn mãi

Tuy già vẫn trẻ lên

Mảnh gương chung thế giới,

Soi rõ mặt hay, hèn.

(Khuyết danh)

Bài thơ trên thuộc thể trắc (từ thứ 2: vặc là trắc), lấy van lên và vần này được trả ở câu thứ 6.

Thí dụ 2: Thất ngôn bát cú



THĂNG LONG Hoài CỔ

(Phóng vận)

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thắm thoắt mấy tinh sương,

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn chau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

(Bà huyện Thanh Quan)

Bài này thuộc thể trắc (từ thứ 2: hóa là trắc). Hai chữ cuối mỗi câu đều chữ Hán. Chữ trường câu 1 với chữ tường câu 8 tuy cùng âm, nhưng khác nghĩa.

Nếu thể thứ hai là bằng, thì bài thơ theo thể bằng, thí dụ như bài Tự tình của Hồ Xuân Hương, bắt đầu bằng câu:



Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom…

b. Qua hai thí dụ trên, chúng ta thấy cách hiệp vần bố cục, đổi ý, đối thanh đều chỉnh. Đó là loại 8 câu 5 vần. Sau đây là loại 8 câu 4 vần, tức là trốn 1 vần ở câu đầu (gọi là chiết vận). Muốn vậy, phải theo một điều kiện là 2 câu đầu đó phải đối nhau (gọi là song phong) như đã nói ở trên.

Thí dụ 1: Ngũ ngôn bát cú (chiết vận):



NĂM MỚi

Tuổi mới non sông cũ

Người xưa vận hội nay

Trải bao cơn nóng rét,

Đeo mãi cái râu mày

Tháng tháng mòn con mắt,

Năm năm bấm đốt tay

Trẻ thơ khôn lớn mãi,

Tuổi tác vẫn còn đây

(Khuyết danh)

Thí dụ 2: Thất ngôn bát cú (chiết vận):

TỰ THáN

Lờ đờ mắt trắng đời không bạn,

Lận đận đầu xanh tuổi đã già

Sống nổi không chìm nên mến nước,

Người ta muốn hợp phải lo nhà

Rạp tuồng vân cẩu còn đông khách,

Góc túi càn khôn, đủ chứa ta

Hơn kém cõi đời vinh với nhục,

Nhục vinh rồi cũng hóa ra ma

(Khuyết danh)


C. CÁC THỂ THƠ ĐẶC BIỆT


Từ thể cổ phong và thể Đường luật, các nhà thơ Trung Quốc và các nhà thơ ta lại sáng tạo ra một số thể thơ đặc biệt sau đây:

1. Song điệp

Đây là một thể thơ mà trong mỗi câu đều có hai từ trùng điệp

Thí dụ 1:

NGUYỆT HOA

(bài này có 5 vần)

Hoa là quốc sắc nguyệt hằng nga

Nguyệt tỏ hoa thơm khéo mặn mà

Hoa ngó nguyệt tròn hoa chúm chím,

Nguyệt nhìn hoa nở, nguyệt lân la

Chiều xuân bóng ngả hoa chào nguyệt,

Đêm tới sương đầm nguyệt ghẹo hoa

Đất có hoa thơm, trời có nguyệt,

Nguyệt hoa, hoa nguyệt mặc tình ta

(Khuyết danh)

Thí dụ 2:

DẠi KHÔN

(bài này chỉ 1 vần)

Làm người có dại mới nên khôn,

Chớ dại ngây si, chớ quá khôn

Khôn được ích mình, đừng để dại,

Dại thì giữ phận chớ tranh khôn

Khôn mà hiểm độc là khôn dại,

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại,

Gặp thời dại cũng hóa nên Khôn

(Nguyễn Bình Khiêm)



2. Triệt hạ (hoặc tiệt hạ)

Trong thể này, sau mỗi câu đều chấm lửng, ý thơ dường như chưa dứt, nhưng thật ra thì nghĩa vẫn rõ mà người đọc có thể hiểu được. Thí dụ:



CHỢT THẤY

Thác bức rèm châu chợt thấy mà…

Chẳng hay người ngọc có hay đà…

Nét thu gợn sóng hình như thể…

Cung nguyệt quang mây chắc ngỡ là…

Khuôn khổ ra chiều, người ở chốn…

Nết na xem phải thói con nhà…

Dở dang nhắn gửi xin thời hãy…

Tình ngắn tình dài chút nữa tá…

(Khuyết danh)



3. Vĩ tam thanh

Trong thể này, ba từ cuối cùng có âm tương tự như nhau.

Thí dụ:

BUỔI SáNG

Tai nghe gà gáy tẻ tè te

Bóng ác vừa lên hé hẻ hè

Non một chồng cao von vót vót

Hoa năm sắc nở lóe lòe loe

Chim tình bầu bạn kia kìa kia,

Ơn nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè

Danh lợi mặc người ti tí tị,

Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe

(Khuyết danh)



4. Thủ vĩ ngâm

Trong thể này câu đầu và câu cuối giống nhau gọi là Thủ vĩ ngâm, thí dụ:



KHóC ÔNG PHỦ VĩNH TƯỜNG

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

Cái nợ ba sinh đã trả rồi

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Tung xa hồ thỉ bốn phương trời

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất,

Miệng túi kiền khôn thắt lại rồi

Hăm bảy tháng trời là mấy chốc

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi.

(Hồ Xuân Hương)



5. Hồi văn

Đây là thể thơ đọc xuôi đọc ngược đều có nghĩa và đúng vần do đó cũng gọi là thuận nghịch độc.

Thí dụ 1:

XUÂN HỨNG

Đọc xuôi: Hán

Thi đàn tế liễu lộng hoa hài

Khách bộ tuy sương ấn bích đài

Kỳ cục đả thanh phong giáp trận,

Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi

Sơ liêm thấu nguyệt hương lung trúc,

Tuyết án lăng hoa vị áp mai.

Phi phất thảo am dầu tĩnh điếm,

U tình cố nãi thuộc quyên ai.

Đọc ngược: Việt

Ai quen thuộc ấy có tình ư

Đêm tĩnh đầu am cỏ phất phơ

Mai ép mùi hoa lừng án tuyết

Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa

Bôi hòa tuyết bạch nghiêng hồ rượu

Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ

Rêu biếc in sương theo bước khách

Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ

(Khuyết danh)

Thí dụ 2:

ĐÊM TRĂNG GỢN SóNG

Đọc xuôi: Việt

Thuyền chèo sóng vỗ nước trắng pha

Hẹn ước tìm thơ khách bước qua!

Viền thắm núi xa, sao lóe sáng,

Nhuộm mờ sông biếc sóng buông sa.

Xuyên lòng áng mộng dòng theo nhịp

Phả nhớ nguồn tình gợi khúc ca

Chen sóng đuổi thơ, người lẳng lặng,

Duyên tơ dấu gợn nước lờ xa…

Đọc người: Việt

Xa lờ nước gợn dấu tơ duyên

Lẳng lặng người thơ đuổi sóng chen

Ca khúc gợi tình, nguồn nhớ phả,

Nhịp theo dòng mộng, áng lòng xuyên

Sa buông bóng biếc sông mờ nhuộm,

Sáng lóe sao xa, núi thắm viền

Qua bước khách thơ tìm ước hẹn,

Pha trăng nước vỗ sóng chèo thuyền…

(Hùng Nam Yến)



8. Yết hậu

Một thể thơ mà câu sau cùng chỉ có một từ, nghĩa là cụt ở sau, thí dụ:



ANH NGHIỆN RƯỢU

Sống ở dương gian đánh chén nhè

Thác về âm phủ cắp kè ke.

Diêm vương phán hỏi rằng: chi đó?

Be.

(Phạm Thái)

7. Liên hoàn và ô thước kiểu

Trong hai bài thơ hay nhiều bài mà câu cuối cùng bài trên được nhắc lại thành câu đầu bài dưới, thì gọi là thể liên hoàn. Thí dụ:



TùNG

Thu đến cây nào chẳng lạ lùng

Một mình lạt thuở ba đông

Lâm tuyền ai rặng già làm khách

Tài đống lương cao, ắt cả dùng.

Đống lương tài có mấy bằng mày

Nhà cả đòi phen chống khỏe thay!

Cội rễ bền, đời chẳng động,

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,

Có thuốc trường sinh càng khỏe thay!

Hổ phách, phục linh nhìn mấy biết,

Dành, còn để trợ dân này.

(Nguyễn Trãi)

Tuy vậy, cũng có khi ở câu dưới chỉ nhắc lại có một vài hay ba bốn từ, thì gọi là thể ô thước kiều.

Ở thí dụ trên, bài thơ thứ nhất chuyển xuống bài thơ thứ hai bằng thể ô thước kiều, bài thơ thứ hai chuyển xuống bài thơ thứ ba bằng thể liên hoàn.



8. Lục ngôn và phong yêu

Thể lục ngôn là thể gồm mỗi câu 6 từ. Thí dụ:



1. ĐỀ BỨc TRƯỚNG THỦY MẶc

Cây đỏ một khe nước chảy

Non xanh nghìn dặm bóng chênh

Muốn gọi thuyền con trở lại,

Thân này xuất, xử chưa dành.

(Phạm Mại)



2. CHùA NON NƯỚC

Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược

Hai bên góp làm Non nước

Đá chồng hòn thấp hòn cao,

Sóng trục lớp sau lớp trước

Phật hư vô cảnh thiếu thừa

Khách danh lợi, buồm xuôi ngược

Vẳng nghe trên gác boong boong,

Lẩn thẩn trước chùa liền bước

(Hồng Đức quốc âm thi tập)

Trong thơ quốc âm ta thời xưa, thể thơ thất ngôn bát cú, có xen vào một số câu 6 từ, người ta cũng gọi là thể lục ngôn, thật ra nên gọi là thể pha lục ngôn, và những câu 6 từ đó thường xen vào ở giữa bài, thí dụ:

THUẬT HỨNG (bài 5)

Đến trường đào mận ngạt chăng thông

Quê cũ ưa làm chúa cúc thông

Sầu nặng Thiếu Lăng biên đã bạc,

Hứng nhiều Bắc Hải chén chưa không

Mai chăng bẻ, thương cành ngọc

Trúc nhặt vun, tiếc chiếu rồng

Bởi một tấc lòng ưu ái cũ,

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông

(Nguyễn Trãi)

Những câu 6 từ xen vào cũng phải theo đúng niêm, luật và vần trong toàn bài, niêm vẫn tính ở từ thứ hai, thí dụ: từ chấm niêm với từ nhiều ở câu thứ tư, từ thứ ba làm nhiệm vụ của từ thứ tư và từ thứ năm là nhiệm vụ của từ thứ 6 trong câu bảy từ, thí dụ: từ bê niêm với từ hảo ở câu thứ tư, từ cành niêm với từ chưa ở câu thứ tư, v.v…

9. Tập danh

Đây là một thể thơ là mỗi câu bắt buộc phải nêu lên một giống vật hay một loài vật nào đó, thí dụ:



1. RẮN ĐẦU CỨNG CỔ

(Mỗi câu có tên một giống rắn)

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà

Rắn mà chẳng học chẳng ai tha!

Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,

Nay thét mai gầm rát cổ cha

Ráo mép chi quen tuồng nói dối

Lằn lưng cam chịu tiếng roi tra

Từ nay Trâu Lỗ chăm nghề học,

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia

(Khuyết danh) (2)



2. TẶNG CÔ KHẾ

(Mỗi câu có tên một thứ quả)

Song the mơ ước bấy lâu xa

Khế thoát duyên may cũng mặn mà

Trông thấy của chua tình quấn quít

Gẫm nghe lời ngọt bước cần ca

Chát lòng vội vã sao cho đáng

Đắng chuyện dây dưa chút gọi là

Lạ dạ chưa cam đường cội rễ

Vườn hồng cay nỗi khách lân la.

(Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ)



10. Xướng họa

Họa thơ là làm lại một bài thơ khác, theo đúng những vần mà bài xướng đã gieo, để đáp lại ý trong bài xướng, hoặc đồng tình, hoặc phản đối. Thí dụ: Tôn Thọ Tường đã làm bài bát cú thất ngôn Tôi phu nhân quy Thục để thanh minh chủ trương đầu hàng giặc Pháp của mình. Nhà nho yêu nước là Phan Văn Trị đã họa lại đúng nguyên vận bài thơ trên, để phê phán hành động sai lầm của Tường. Sau đây là bài họa:



Cài trâm xốc áo vẹn câu tòng

Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông

Ngút tỏa trời Ngô un sắc trắng

Duyên về đất Thục đượm mầu hồng

Hai vai tơ tóc bền trời đất,

Một gánh cương thường nặng núi sông

Anh hỡi, Tôn Quyền anh có biết,

Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng.

(Phan Văn Trị)



11. Liên ngâm (cũng gọi là liên cú)

Đây không phải là một thể riêng biệt mà chỉ là một cách làm thơ của nhiều người, cứ lần lượt mỗi người đọc một vài câu cho đến khi nào muốn dừng thì thôi. Thường thường lối liên ngâm làm theo thể trường thiên. Thí dụ:



TỨc CẢNH HỒ Tây

(Tương truyền chúa Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan và một ông họ lý, một ông họ Ngô chơi hồ Tây, xướng họa liên ngâm làm ra)



Chúa Liễu Hạnh xướng một câu:

Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời

Lý:

Phong cảnh xa nhìn tự thảnh thơi

Cây cổ quanh nhà lá xanh biếc

Phùng:

Trâu Vàng” Đầm vũng nước trắng ngời



Vài gian nhà lá đủ nương náu

Ngô:

Một chiếc thuyền con tìm sinh nhai;

Nấu trà vách nát khói nghi ngút

Lý:

Cách giậu phên thưa chó sủa hoài

Chèo quế tay cầm nhè nhẹ đẩy

Phùng:

Áo tơi mình khoác thừa khoan thai,

Vẫn cảnh Động đình kìa Phạm Lãi…

12. Tiến thoái cách

Thể thơ này đã thấy xuất hiện từ thời Tống, vượt ra ngoài khuôn khổ lối hiệp vần gò bó theo các bộ trong Thi vật tập thành. Theo thể này, đúng với tên của nó là có tiết có thoái tức là nếu vần câu trên gieo theo bộ nọ, thì vần câu dưới gieo theo bộ kia có tính chất xen kẽ lẫn nhau, phải chú ý mới nhận ra được. Thể này ở nước ta chỉ thấy áp dụng trong một số bài thơ chữ Hán đời Thánh Tông. Thí dụ:



TƯ GIA TƯỚNG Sĩ

Bắc phong huề thú dữ thùy câu

Bất dạ thiên cao nguyệt ảnh cô

Mai lạc ngũ canh tăng viễn hận,

Sầu lai nhất nhật tự tam thu

Hồn năng dẫn mộng tồn tâm phủ?

Tửu đáo vong hình tích túy vô?

Dục thức cố nhân cựu tiếu tức (chính là tiêu tức)

Khủng hy tiện nhạn đáo thần châu

(Lê Thánh Tông)

Ở đây, chúng ta thấy rằng 5 vần tuy ở loại đoản bình nhưng lại ở hai bộ khác nhau:

– câu, cô và vô (vế tiến) thuộc bộ thất ngu.

– thu và châu (vế thoái) thuộc bộ thập nhất châu.

Thể này không dịch ra thơ quốc âm đúng cách được.

Xem bài họa của Lương Thế Vinh theo đúng vần bài xướng, chỉ khác bài xướng là chuyển sang thể trắc (chú ý: từ “nghĩa” là từ thứ hai ở câu đầu: trắc).

13. Minh, Trâm, Tán, Kệ

Minh là một thể văn vần đối nhau hay không đối nhau, dán ở chỗ làm việc hay khắc vào một vật gì (như chuông, bia) để ghi nhớ sự việc hay ghi công lao…

Trâm cũng thể văn như minh, nhưng thiên về khuyên răn (tự răn mình hay răn người khác).

Tán là thể văn lại thiên về ca ngợi (tự ca ngợi hay ca ngợi người khác).

Kệ là thể văn nhà chùa, thường là một bài thơ tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một bài kinh, để răn đệ tử.

Cả mấy thể minh, trâm, tán, kệ đều có thể làm bằng thể thơ 4 từ, 5 từ hay 7 từ, có khi những lối trâm và tán cũng có thể làm bằng thể lục bát hay thể biền ngẫu.

Thể cách rất rộng rãi chỉ cần có vần, dài ngắn tùy ý, không cần đối nhau cũng được. Thật ra các thể trên chỉ khác nhau về nội dung hơn là hình thức. Thí dụ: một bài về thể minh ca ngợi Lý Thường Kiệt:

Bài MINH Ở BIA CHùA LINH XỨNG

(trích)



Việt có lý công



Theo dấu nguồn cổ,

Coi quận yêu dân.

Đánh đâu được đó

Tiếng động Chiêm thành

Danh lừng trung thổ,

Dựng chùa chốn này;

Qui sùng Phật tổ

Núi cao thay, hề! ngất từng không

Hiền tể coi, hề! Đã mở công

Điện tháp cao, hề! lớp chập chùng

Tượng vàng nghiêm, hề, vẽ tráng hùng

Điền tốt nhiều, hề: Chúc Thượng hoàng

Trị vì lâu, hề, đời Xương long

Biến tích khắp, hề! đến hang cùng

Bia đá bền, hề! với núi sông!”

(Hải Chiếu thiền sư)

Bài minh này đoạn đầu làm theo thể 4 từ, đoạn sau lại làm theo thể 7 từ (ở đây có từ hề cũng như “chừ” tiếng Việt là vì pha lối Sở từ).

14. Một biệt lệ: truyện thơ đường luật

Đây là một thể đặc biệt trong văn học Việt Nam. Truyện thơ Đường luật bao gồm một hệ thống các bài thơ Đường luật, nhằm diễn đạt một câu truyện. Mỗi một bài thơ như vậy đều có tính chất độc lập của nó, như có tiểu mục riêng, có một nội dung ý nghĩa tương đối đầy đủ, và hoàn chỉnh về hình thức như niêm, luật, vần, nhịp. Tuy nhiên, tổng thể các bài thơ đó, được sắp xếp với một trật tự nhất định, thì lại hòa thành một câu truyện. Nhược điểm của loại truyện thơ này là mạch lạc thiếu rõ ràng, sự việc thiếu sinh động, do tính chất gò bó của thơ Đường luật không thích hợp cho lối kể truyện, nhất là những truyện dài.

Trong văn học cổ ta, hiện còn lại ba truyện thơ Đường luật:

a) Một truyện ngắn gồm 24 bài Đường luật: Tô công phụng sứ kể truyện Tô Vũ đời Hán đi sứ sang nước Hung Nô.

b) Một truyện vừa gồm 45 bài, trong đó có 35 bài bát cú, Đường luật, 10 bài tứ tuyệt. Đó là Truyện Vương Tường kể việc Vương Tường bị ép đi cống Hồ.

c) Một truyện dài gồm 146 bài thơ bát cú Đường luật, một bài thơ tứ tuyệt và một bài ca khúc, miêu tả cuộc tình duyên giữa một nho sinh và một con vượn trắng đã hóa thành người, gọi là truyện Lâm tuyền kỳ ngộ.

D. TỪ KHÚC


Từ khúc là tên gọi chung cho tất cả những bài hát cổ của Trung Quốc, hoặc có tính chất dân gian, hoặc do văn nhân nghệ sĩ dựa theo các lối Sở từ, Nhạc phủ mà sáng tác. Đây là những khúc ca, khúc ngâm, làm theo thể trường đoản cú hoặc trúc chi từ (câu dài câu ngắn). Theo nhạc điệu, câu ngắn có thể 4 hay 5 từ, dài thì có thể 9 hay 10 từ… không nhất định. Vần và nhịp cũng không cố định: có thể là vần bằng, có thể là vần trắc hay bằng và trắc xen kẽ,… nhịp thì có thể lẻ trước, chẵn sau hay ngược lại v.v... Từ khúc đời Đường rất phát triển có đến hàng mấy trăm điệu, không thể kể xiết. Một số điệu được các văn nhân nước ta mô phỏng thí dụ như Bồ Tác man, Tây giang nguyệt, Nguyễn lang qui, Xuân quang hảo, Cách phố liên, Bộ bộ thiềm, Nhất tiễn mai, Phong hoa lạc, v.v… Các văn nhân ta xưa hầu hết sáng tác từ khúc bằng hán văn, mãi sau này vào khoảng đầu thế kỷ một số người như Nguyễn Khác Hiếu, Đoàn Tư Thuật… mới sáng tác bàng quốc ngữ.

Sau đây là thí dụ một số điệu quen thuộc mà ngày nay còn được các nhà thơ sử dụng.



1. Điệu bồ tát man:

LÂU THƯỢNG XUÂN

(Xuân trên lầu)

Dương liễu buông mành rủ quanh gác

Gió hòa phất phất rung dây nhạc

Cái én chẳng biết sầu

Ngậm hoa lượn quanh lầu

Xe ngọc đưa mộng tới,

Có sông quyện lòng lại

Rượu nồng còn ngà say

Ánh xuân vẻ lung lay

(Nguyễn Húc)



2. Điệu tây giang nguyệt:

XUÂN HẬN

(Hận xuân)

Bệnh cũ đã nhờn phương thuốc

Đa sầu: món nợ tình thương

Lầu tây mộng đẹp rủ cành dương

Cành dương từng phen ủ rũ

Nước chảy hoa trôi đâu tá?

Để rộng cỏ thơm ai trồng?

Tựa lan im im nép tà dương

Hận cũ nhiên nhiên chẳng khác.

(Nguyễn Húc)



3. Điệu xuân quảng hảo:

XUÂN TỪ

(Bài từ mùa xuân)

Xuân như vẽ

Ánh mờ soi

Uớc ngày dài.

Hoa đào mỉm miệng liễu đưa mày

Bướm đua bay

Trong bụi oanh vàng nói mỉa

Trên rường én tía hót hay

Buồng khuê lai láng lòng như ngây

Làm thơ này

(Khuyết danh)



4. Điệu cách phố liên:

HẠ TỪ

(Bài từ mùa hạ)

Đất trời từng phen nóng bức

Trong có ếch nhao nhác

Trên cành ve xào xạc

Tiếng cuốc kêu hậm hực

Giọng oanh nghe náo nức

Dường cùng nhắc

Chúa xuân đi rồi, chừ lòng thêm bực;

Dường kia: cảnh sắc

Cho tình luống phần rạo rực

May sao Chúc dong dàn vang Nam huân một khúc

Mùi sen thêm sực nức

Gió thổi tan tành

Khối tình uất ức.

(Khuyết danh)



5. Điệu bộ thiềm

THU TỪ

(Bài từ mùa thu)

Núi in nước biếc ánh như ngọc,

Gió vàng hiu hắt khua cụm trúc.

Hoa lau nghìn dặm trắng phau phau,

Cành cây sương đọng hồng chen lục.

Ả Hằng cung Quảng riêng thao thức,

Dạo bước thềm hoa lòng rạo rực,

Chi bằng đến thẳng tìm hương bên giậu cúc;

Ngồi khểnh, ôm đàn xoang một khúc.

(Khuyết danh)



6. Điệu nhất tiễn mai:

ĐÔNG TỪ

(Bài từ mùa đông)

Huyền minh giữ lệnh khắp giang san.

Hồng đã về Nam,

Nhạn đã về Nam,

Hắt hiu gió bất tuyết lan tràn,

Đứng tựa lan can,

Ngồi tựa lan can!

Ôm lò mà vẫn lạnh dung nhan;

Ngồi lòng không an,

Nằm lòng không an!

Dậy xem mai rụng khắp trần gian:

Rét: hoa không sờn

Rét: người không sờn

(Khuyết danh)



7. Điệu hoa phong lạc:

TIÊN NỮ TIỄN Lưu NGUYỄN

Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,

Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi.

Nửa năm tiên cảnh.

Một bước trần ai,

Uớc cũ duyên thừa có thế thôi.

Đá mòn rêu nhạt,

Nước chảy hoa trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời,

Trời đất từ đây xa cách mãi

Của động đầu non đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Khối tình con, quyển II)



8. Một biệt lệ: “chinh phụ ngâmcủa đặng trần côn

Đây là một khúc ngâm gài, nổi tiếng trong văn học ta được sáng tác dựa theo các lối Sở từ, Nhạc phủ và Từ khúc, câu ngắn, dài thay đổi từ 4, 5 đến 9, 10 từ… Thí dụ:

Bốn từ đi với tám từ:

Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân

Du du bi thương hề, thùy tạo nhân

Năm từ đi với sáu, tám từ:



Tương cố bất tương kiến,

Thanh thanh mạch thượng tang,

Mạch thượng tang, mạch thượng tang

Thiếp ý quân trung tâm thùy đoản trường?

Năm từ đi với bảy từ có pha lối Sở từ:



Lão nhân hề ý môn

Anh nhi hề đãi bộ

Cung thần thực hề thiếp vi nam

Khóa nhi thư hề thiếp vi phụ.

Mười từ đi với năm từ:



Quân yêm lưu nhị niên tam niên cánh tứ niên

Thiếp tình hoài bách lũ thiên lũ hoàn vạn lũ.

An đắc tại quân biên,

Tố thiếp trung trường khổ!



1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương