Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang8/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

B. CA KHÚC VIỆT NAM


Ca khúc Việt Nam rất phong phú, bao gồm nhiều điệu hoặc thuần tuý dân tộc như các điệu dân ca, các điệu chèo, hoặc có chịu ảnh hưởng ít nhiều ca nhạc nước ngoài như một số điệu ca Huế, một số điệu ca trù, v.v… Có thể nói tuyệt đại đa số ca khúc Việt Nam đều theo thể thơ ca cổ truyền dân tộc. Các loại dân ca như xoan Phú Thọ, quan họ Bắc Ninh, dậm Hà Nam, cò lả, trống quân, sa mạc, ví Nghệ Tĩnh, hò Bình Trị Thiên, hò Liên khu V, hò và lý Nam Bộ đều theo thể lục bát hay biến thể lục bát là chủ yếu, một số ít theo thể bốn từ hay biến thể sáu, bảy từ… hoặc trúc chi từ.

Các loại ca khúc khác như ca Huế, tuồng cổ hay ca trù, tuy cũng có chỗ theo thể lục bát, lục bát gián thất hay biến thể nhưng thiên về trường đoản cú nhiều hơn, trừ một số chỗ theo thể thơ Trung Quốc.

Câu lục bát trong ca khúc của ta cũng chính là câu lục bát trong ca dao, nhưng vì ca khúc là do tiết tấu của nhạc điệu qui địnhh nên cách ngắt nhịp theo nét nhạc có khi giãn ra so với lời thơ. Những tiếng đệm của bài ca ở đây chính là những chỗ giãn ra trong lối biến thể đã nói ở trên, có khác là ở đây, thường là những tiếng láy, tiếng đệm của điệu nhạc, chứ không phải những từ thêm vào về mặt ý nghĩa. Sau đây là hai thí dụ khác nhau về dân ca:

a. Hai câu hò Sông Mã (Hò cập bến):


Lác trông phong cảnh vui thay,

Báo Bồng có phải chốn này hay không.

dạng

S

T

Khi hò lại thành ra:

Dô tà! Dô tà! Lác trông, dô tà! phong cảnh, dô tà!

Vui thay, dô tà! Báo Bộng, dô tà! Báo Bồng, dô tà!

Có phải, dô tà! Chốn này, dô tà! hay không, dô tà?

Ô dô dô tà dô ta dô tà!

Như vậy câu thơ đã theo nhạc điệu mà chuyển sang dạng

S1

T1

b. Hai câu quan họ Bắc Ninh:

Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà dối mẹ: qua cầu gió bay

dạng

S2

T2

khi hát thành ra:

Yêu nhau cởi áo ới à cho nhau,

Về nhà dối rằng cha dối mẹ ơ ờ ơ ớ ơ này a ối a qua cầu, này a ối a qua cầu, tình tình tình gió bay, tình tình tình gió bay.

Ở đây, nhịp điệu thay đổi, cách nhấn và luyến đã dừng ở sau các từ thứ tư câu lục, từ thứ hai, thứ tư, thứ sáu câu bát, làm cho dạng câu thơ đã chuyển thành



S3

T1

So với câu hò Sông Mã ở trên thì nhạc điệu ở đây còn đi sát lời hơn, vì câu thơ ở điệu hò Sông Mã phải ngắt thành nhịp đôi cho hợp với động tác chèo thuyền.

Ca khúc có nhiều loại, nên vần điệu uyển chuyển, bao gồm nhiều nét nhạc khác nhau, so với khuôn khổ của thơ, thì tự do hơn nhiều.

Ca khúc Việt Nam phong phú và khá phức tạp về nguồn gốc cũng như lịch sử phát triển của nó. Hiện nay, chưa đủ điều kiện để nghiên cứu tất cả các hình thức ca khúc Việt Nam, nhất là ca khúc dân tộc thiểu số. Chúng tôi tạm nói qua về ba hình thức ca khúc cổ truyền Việt Nam, khá tiêu biểu sau đây:

– Dân ca đồng bằng Bắc Bộ và chèo

– Ca Huế và tuồng cổ

– Ca trù.



1. Dân ca đồng bằng Bắc Bộ và chèo

Dân ca Bắc Bộ bao gồm nhiều làn điệu khác nhau, khó mà nói hết được. Nhìn chung có thể chia các làn điệu quen thuộc làm hai loại: một loại có tính chất phổ biến cho tất cả các nơi như hát ví, cò lả, sa mạc, bồng mạc, trống quân…, một loại có tính chất địa phương, như xoan Phú Thọ, quan họ Bắc Ninh, dậm Hà Nam… Chèo có thể có đã lâu và các làn điệu của chèo sân đình còn truyền lại, thì rõ ràng phần lớn làn điệu của chèo có nguồn gốc dân ca đồng bằng Bắc Bộ và chính là nhiều làn điệu của dân ca được nâng cao.

Xét về hình thức câu thơ, hầu hết các làn điệu dân ca, từ những làn điệu đơn giản như gọi bê, gọi nghé, đến các làn điệu cao hơn như ghẹo Phú Thọ, đúm Bắc Ninh, hay đến các làn điệu phức tạp hơn nữa như xoan, quan họ… cũng như hầu hết các làn điệu của chèo, đều không ngoài các thể bốn từ, hay thể lục bát và lục bát biến thể. Riêng trong chèo, có một số làn điệu theo lối nói sử, tức là thể bảy từ và bảy từ biến thể và theo lối trường đoản cú.

a. Thể bốn từ

Thể bốn từ hoàn chỉnh trong một bài từ đầu chí cuối được áp dụng vào dân ca và chèo cũng không phải là nhiều. Chúng ta có thể tìm thấy lối đó trong một số bài, thí dụ đoạn sau đây trong bài Gọi nghé ở Kiến An:



Nghé, nghé ơi, nghé

Nghé bầu, nghé bạn

Trâu cày ruộng cạn.

Bò tát ao sâu…

hay trong một số làn điệu của chèo như cách cú, nói đếm, hay nữa trong một số điệu khác như phụ đồng, đọc sớ, đọc tấu: Trong hát Quan họ, cũng có một số bài theo thể bốn từ như thơ đúm, đàn đúm…, còn một số bài khác như Tình tang tôông, Chốn chàng Trung thì đã ít nhiều biến thể hay hỗn hợp với lục bát rồi, sự hỗn hợp này cũng có trong các lối hát cách của xoan Phú Thọ như Kiều giang cách, Xuân cách, Thu cách, hay cả trong dậm Hà Nam như các điệu Hồi quân, Chăn tằm.

Thí dụ một đoạn của bài Xuân cách trong hát xoan Phú Thọ:

Vào chùa thượng uyển

Nhìn xem cho khắp hết mọi nơi

Lá diều rừng rực,

Chim ríu rít đậu cành

Liễu lục xuân xanh

Chim di mới nở

Đào tiên tơi tỏ hồng hồng

Người tiên đủng đỉnh lay nâng…

Đặc biệt trong dân ca, có lối phối hợp của thể bốn từ với tám từ một cách đều đặn, thành thể tứ bát (bốn–tám), thí dụ điệu Nguyệt gác bên thềm trong Quan họ Bắc Ninh:



Nguyệt gác bên thềm

Duyên son chưa cạn, sao tình đã say

Lẩn quất bóng mây,

Làm sao thấy mặt dạ này mới yên

Đánh tiếng trên thềm.

Chớ say nhau lắm, phải tìm thấy nhau

Dòng nước một màu,

Nói sao cho tỉnh, chớ sầu chiêm bao

Đông liễu tây đào.

Nếu lấy quyền Dân ca quan họ Bắc Ninh làm chuẩn, chúng ta thấy rằng trong tổng số 285 bài Quan họ, có 237 bài theo thể lục bát, 29 bài theo thể bốn từ và bốn từ hỗn hợp, 19 bài theo các lối biến thể khác, như vậy là những bài theo thể bốn từ hỗn hợp chiếm 12% những bài theo lối biến thể khác chiếm 8% so với các bài theo thể lục bát.



b. Thể lục bát và lục bát biến thể.

Phần lớn, dân ca Bắc Bộ đều theo thể lục bát và lục bát biến thể, do đó ở đây xin miễn dẫn chứng.

Các điệu hát chèo nói chung cũng như vậy, có điệu thì biến thể ít như Đường trường bắn chim thước. Bình thảo, Con gà rừng, Làn thảm, Nhị đuổi, Cấm giá, v.v… có điệu thì biến thể nhiều như Sa lệch chênh, lão say, Hồi tiếu, Xắp qua cầu v.v…

Sau đây là mấy ví dụ:



CON Gà RỪNG

Con gà rừng ăn lẫn với công

Đắng cay chả có chịu được láng giềng ai hay

Chờ cho cây lúa chín vàng

Để anh đi gặt, để cô nàng mang cơm.

(Lời Xúy Văn trong chèo Kim Nham)



CẤM Giá

Chị em ơi!

Nay mười tư mai đã là rằm

Ai muốn ăn oản thì năng lên chùa

Thế mà Thị Mầu tôi mang tiếng lẳng lơ.

Đò đưa cấm giá tôi lên chùa từ mười ba…

(Lời Thị Mầu trong chèo Quan âm thị Kính)



Đặc biệt trong chèo có thể lục bát đảo (tức bát lục), tức là: câu đầu bài hát tám từ, tiến đến câu sáu từ và ở đoạn sau thì không có gì thay đổi. Thể này không nhiều, chỉ đoạn sau của Xắp dựng hay đoạn đầu của Xắp cổ phong. Thí dụ:

XẮp CỔ PHONG

Khách tình sao chẳng xuống chơi với tình

Chiếc thuyền lan đậu bến Giang đình

Ta không ta chỉ lấy mình mà thôi

Cây khô há dễ mọc chồi

Bác mẹ già, hồ dễ ở đời với ta…

c. Thể bảy từ (chính thể và biến thể).

Thể này chỉ thấy trong chèo, mà hầu như ít thấy ở dân ca, thí dụ như trong bài: Ba mươi sáu thứ chim (Quan họ Bắc Ninh), chỉ hai câu cuối là bảy từ.

Một nong tằm, là năm nong kén.

Một nong kén là chín nén tơ.

Ở dân ca, nếu câu thơ đó phá vỡ thì từ câu lục bát biến dạng ra như trong hát xẩm đã nói ở trên.

Ở chèo, các điệu như Nói lối, Nói sử, (thí dụ Nói sử xuân, sử gối hạc, hay Nói hạnh trong Quan Âm thị Kính) Hát sử đều theo thể bảy từ hoặc các điệu khác theo thể bảy từ biết cách như Sử xếp, Xắp gối, Quân tử vu dịch. Nói chung, tất cả các điệu trên, tuy nét nhạc có khác nhau, nhưng về hình thức thơ thì chỉ là thể bảy từ hay bảy từ biến cách, như đã nói ở phần khái quát trên. Thí dụ:

Nói SỬ XUÂN

Bạch nhật mạc nhàn quá

Thanh xuân bất tái lai

Quê tôi nay vốn ở Lũng tài,

Tên vốn đặt là Sùng Thiện Sĩ

Ơn cha mẹ theo bề kinh sử

Chưa có người nội trợ tề gia

Nay Mãng ông sinh gái hiền hòa

Sắm lễ mọn sang thời sánh vấn

(Chèo Quan Âm thị Kính)



sỬ GỐI HẠC

Nghe thấy lời nói đó,

Xịch động tấm lòng đây,

Thói hồng nhan bạc phận xưa nay

Chợt nghĩ đến mà thương cho đấy

Trách hóa công phũ phàng chi mấy.

Để thuyền quyên cay đắng nhiều bề.

(Chèo Kiều)

Ở đoạn đầu hai điệu trên, có dẫn hai câu thơ thể ngũ ngôn (T.Q) còn nói chung theo lối bảy từ chính thể.

d. Thể trúc chi từ

Thể trúc chi từ là hình thức thơ ca câu dài câu ngắn không ổn định theo một thể nào từ hai, ba đến ngoài mười từ. Chúng ta đã biết trong dân ca đồng bằng Bắc Bộ và chèo, có nhiều điệu theo lối trúc chi từ thay đổi dài ngắn từ ba từ cho đến ngoài mười từ không nhất định. Thỉnh thoảng cũng có những câu tiến đến thể tiền đề lục bát hay tiền đề song thất, hoặc nữa cũng có xen cả những câu ngũ ngôn, thất ngôn Đường luật, hay những câu biền ngẫu, nhưng không phải là phổ biến.

Dưới đây, chỉ cử một số thí dụ tiêu biểu:

* Dân ca:

HÁI HOA

Trèo lên cây bưởi hái hoa

Mình thời hái hết để ta bẻ cành

Cành xanh ấy quít làm cam chịu

Trót đàn dan díu,

Cô bay líu mái tóc

Cô bay bẻ chiếc đũa đồng tiền

Cô bay thề cô bay nguyện,

Cô bay giận cho mẹ cho cha…

(Hát xoan Phú Thọ)

Ở điệu trên, câu thơ lục bát chen với các câu thơ 4 từ, 5 từ, 6 từ, 7 từ không nhất định.

* Chèo:

nh THƯ Hà VỊ

Bóng quế giãi thềm

Dưới mái tranh êm đềm

(Nam hát)

Rượu đào đã rót, chén này mời em

Chén đào toan đượm thắm mối lương duyên

(Nữ hát)

Trăng thề đó, thiếp với chàng, vẫn chung soi đôi bóng.

Trong lúc này giáp mặt soi chung

Thiếp dám khuyên: xin chớ có phụ lòng

Điều uyển chuyển hóa ra người sai ngôn bội ước…

(Lưu Bình và Châu Long trong chèo


Lưu Bình Dương Lễ của Hàn Thế Du cải biên)

BA THAN

Hỡi anh ơi!

Anh có khôn thiêng, xin anh phù hộ cho thiếp ra kinh kỳ.

Thiếp khấn anh rồi thiếp mới dời chân

Bước đi một mình

Hòa than hòa khóc

Thiếp tôi thương chồng

Đòi đoạn anh ơi,

Anh chả thương tôi,

Phận thiếp tôi đàn bà đơn chiếc

Hai con còn trứng nước ngây thơ

Sao cho được bây giờ

Xẩy đàn tan nghé bơ vơ giữa dòng

Chắp đôi tay quì xuống sân rồng

Tâu vua muôn tuổi ngự trào trung vững bền

(Lời Trinh Nguyên trong chèo Tôn Trọng Tôn Mạnh)

Ở Cả hai điệu, lời thơ biến hóa từ ba từ đến mười ba từ không nhất định.

2. CA HUẾ VÀ TUỒNG CỔ

Ca Huế là những khúc hát cổ có nguồn gốc khá phức tạp, trong đó yếu tố dân tộc hòa hợp với yếu tố ngoại lai, nhưng như đã nói ở trên (phần thứ nhất) yếu tố dân tộc vẫn là chủ yếu. Ca Huế được chia ra điệu Bắc điệu Nam; điệu Bắc ý nói chịu ảnh hưởng nhạc Trung Quốc, điệu Nam là nhạc của địa phương, có thể chịu ít nhiều ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành. Theo sử, các vua đời Lý như Lý Thánh tông, Lý Cao tông, đã chú ý đến ca nhạc Chiêm Thành, các vua đời Trần, đời Lê đã chú ý nhiều đến ca nhạc Trung Quốc và đã có những điệu hát kiểu Trung Quốc như Canh lậu trường, Ngọc lâu xuân và có những người đánh cổ cầm giỏi ở đời Trần, như Trần Cu, Nguyễn Sĩ Cố, những người nghiên cứu nhạc Trung Quốc có tiếng ở đầu Lê, như Nguyễn Trãi, Lương Đăng, Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung. Trải qua thời gian, những bài Bắc hay bài Nam ấy đã dần dần biến đổi cho hợp với giọng nói địa phương, chứ không giữ được tính chất thuần túy ban đầu nữa.

Một số bài ca Huế được đưa vào sân khấu tuồng cổ và như vậy phải cách điệu hóa cho hợp với nghệ thuật tuồng cổ. Nhưng khi nghệ thuật tuồng vào đến Lục tỉnh thì các điệu hát lại biến đổi nữa cho hợp với giọng nói địa phương, thí dụ cùng một điệu Nam ai mà Nam ai Huế giọng bi lụy, Nam ai đưa vào tuồng thì giọng trở nên bi hùng, nét nhạc mạnh, nhưng Nam ai kiểu Xuân nữ ở tuồng Lục tỉnh thì lại bi lụy kiểu khác và nét nhạc lại yếu chứ không mạnh.

Sau đây nói qua về một số làn điệu ca Huế và tuồng cổ.



* Ca Huế

Ở đây cần phân biệt với các điệu hò Huế có tính chất dân gian. Những điệu hò Huế, cũng như những điệu hò ở Liên khu Năm, ở Nam Bộ, nói chung về mặt hình thức câu thơ không có gì khác các điệu hò đồng bằng Bắc Bộ, nghĩa là cũng theo thể bốn từ, lục bát song thất hay trúc chi từ. Thí dụ như ở hò Huế, lối bốn từ như Lý trách ai, lục bát như Lý năm canh, song thất như hò mái nhì, hò mái đẩy, trúc chi từ như Lý tương tư. Thuật ngữ ca Huế ở đây xin hiểu như là những bài hát cổ được cách điệu hóa trên cơ sở những điệu hò Huế, có kết hợp với sự tiếp thu ít nhiều nét nhạc nước ngoài để đưa vào dàn nhạc cung đình; và chính vì vậy nên ca Huế, so với hò Huế, đã mất đi một phần đặc tính dân gian của nó. Tuy nhiên về hình thức câu thơ, cũng còn có những bài có thể chứng minh được mối quan hệ giữa hò Huế và ca Huế, thí dụ một đoạn bài Là tương tư, giống thể trúc chi từ trong ca Huế.



Quạnh quẽ màn loan

Tay ôm đàn, tình tang tích tịch

Cung réo rắt bên lòng,

Riêng càng thêm chạnh

Vì ai thêm hận

Ngồi trông bạn

Nào đâu bạn

Mù mịt trời mây

Én nhạn lìa đôi

Tình là tình đau thương, tình ôi

Cao xanh hờn giận chi tôi?…

Sau đây là một số bài ca Huế theo hai loại như đã nói ở trên:



a. Các bài hát Bắc:

Đặc điểm chung của các bài hát Bắc này là nét nhạc vui, dồn dập. Xét về hình thức câu thơ, thì các bài hát này làm theo thể trúc chi từ, chia thành từng trổ, mỗi trổ một vần và vần phổ biến là vần chân, trừ một vài chỗ có kết hợp với vần lưng. Ca Huế có rất nhiều điệu, đây chỉ nêu lên một số điệu quen thuộc còn lưu hành như: Kim tiền, Lưu thủy, Hành vân, Cổ bản, Tứ đại cảnh, Phú lục, Bình bán, Tẩu mã, Long ngâm, Ngũ đối, v.v…

Thí dụ:

1. TỰ TìNH

(điệu Kim tiền) gồm hai trổ:

a) Xa xôi gửi lời thăm

Lúc nhắn nhe đôi bạn sắt cầm,

Mong kết nghĩa đồng tâm

Với người tri âm.

b) Thương nhau hoài, nhớ nhau mãi

Thương nhau hoài, ai chớ phụ tình ai

Duyên vì trúc mai,

Trúc mai hòa hợp, cùng bạn lâu dài

Đặng dài lâu dài

Thương thì xin đó đừng phai (láy 2 lần)

Ấy ai tình tư, tạc dạ chớ phai

Chớ phai hỡi người tình tự!

2. GỬI TìNH NHÂN

(điệu Lưu thủy) gồm bốn trổ:

a) Kể từ ngày (từ ngày) gặp nhau

Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau

Dây tơ mành xe chắp lấy nhau

b) Xe không đặng đem tình thương nhớ

Cảm thương người ngậm ngùi ba thu

Xa cách nhau đêm nằm vẫn thấy,

Thấy là thấy (là thấy) chiêm bao

Biết bao lại vấn vương bên mình

Mình giật mình (giật mình) đòi cơn

c) Biết bao lại quan sơn một đường

Tình (tình thương) tơ vương mọi đường

Xin cho trọn (cho trọn) cương thường

d) Ai đơn bạc thì mặc lòng ai

Xin cùng bạn (cùng bạn) trúc mai

trăm năm lâu dài

3. NHẮN TRI ÂM

(điệu Hành vân) gồm bốn trổ:

a) Một đôi lời, (một đôi lời)

Nhắn bạn tình ơi!

Thề non nước, giao ước kết đôi.

Trăm năm tạc dạ,

Dầu xa cách, song tình thương chớ phụ thì thôi

b) Niềm trọn niềm, xin đừng xao lãng

Trời kia định nợ ba sanh

Đẹp duyên lành

Trọn niềm phu phụ bậc tài danh (tài danh)

c) Dầu tiên có tai non Bồng

Kết mối tơ hồng

Ấy thời trông (thời trông)

d) Nghĩa sắt cầm

Hòa hợp trăm năm

Bởi vì xa cách, nhắn nhe cũng bạn tri âm.

Qua mấy bài Bắc trên đây, chúng ta thấy hình thức câu thơ có chịu ảnh hưởng từ khúc Trung Quốc, nhưng có chỗ lại phảng phất thể bảy từ của ta với nhịp 3/4 như trong điệu Lưu thủy (ba trổ đầu) hay rải rác trong một số câu của các điệu Hành vân…

Về vần, nói chung vần bằng và vần chân, nhưng rải rác ở các điệu đều có vần lưng.

b. Các bài hát Nam:

So với các bài Bắc có nét nhạc vui và dồn dập, thì các bài Nam buồn hơn và nét nhạc chậm rãi hơn. Đương nhiên, trong bài Nam, lại cũng có điệu tương đối vui. Điệu vui lấy Nam bằng làm chuẩn, sau người ta lại đặt thêm các điệu Nam xuân, Nam dựng (điệu Nam dựng có nét nhạc dồn dập, gấp hơn, nên vui hơn). Điệu buồn lấy Nam ai làm chuẩn, sau người ta lại đặt thêm Nam thương hoặc Nam khốc, giọng lại ai oán hơn. Căn cứ ở nét nhạc âu sầu đó, so với các bài Bắc, người ta cho rằng các bài nam ít nhiều có chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành; xét về hình thức câu thơ, thì những bài Nam này cũng theo lối trúc chi từ như những bài hát Bắc. Sau đây là một vài thí dụ:



1. TìNH LY BIỆT

(điệu Nam bằng) gồm ba trổ:

a) Ôi, tan hợp xiết bao, tháng ngày đợi chờ non nước

Ngàn dặm chơi vơi

Mấy lời, nào dễ sai lời

Ai ơi, chớ đem dạ đổi dời

(Ưng tình ưa ý), ý ưng tình thêm càng ưa ý

Thiệt là đặng mấy người

Lại sai lời

b) Trương tri cho đá vàng, thêm lại yêu vì

Nhớ khi cuộc rượu câu thi

Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì.

Nặng vì tình (tình) đôi ta, duyên trao nợ rằng ai.

Buộc lại người sinh

Lời hẹn ba sinh

c) Vấn vương tơ tình

2. KHUYẾN HIẾU

(điệu Nam ai) gồm ba trổ:

a) Khuyên ai gắn bó báo đền công trình thầy mẹ

Ân nặng nhường sông, nghĩa chất non cao

Ơn cúc dục cù lao

Sinh thành lo sợ xiết bao

Lo cơm bữa nhường nao

Ẵm bồng (vào) ra vào.

b) Nâng niu bú mớm đêm ngày, xem tày vàng ngọc

Hay chạy hay đi, lúc nắng lúc mưa

Từ xưa đến giờ

Lúc hãy còn thơ

Đến bây giờ

Chịu nhuốc nhơ

c) Biết bao nhiêu mà

Trông năm trọn ngày qua

Da mồi tóc bạc mây xa

Khuyên trong cõi người ta

Thảo ngay mới là

Chú ý: ở trổ thứ hai bài Nam bằng, có một câu lục bát.



* Tuồng

Trải qua quá trình lịch sử nghệ thuật tuồng chắc chắn đã thay đổi nhiều. Tài liệu tuồng cổ chỉ còn từ triều Nguyễn lại đây; cho nên cũng khó mà biết được thật rõ ràng quan hệ giữa ca Huế và hát tuồng đã chuyển hóa trong từng giai đoạn như thế nào.

Chỉ biết rằng thể hát tuồng cổ hiện nay là một thể tổng hợp giữa một số điệu hò dân gian miền trung như các điệu Lý xẩm, Lý ngựa ô, Bán quán, Quân canh… và các điệu ca Huế xưa như Hát nam, Hát khách (tức Bắc) nhưng đã có biến đổi ít nhiều. Ngoài ra, lại có một số điệu ngâm, xướng qua những bài thơ ca và từ khúc Trong Quốc hay thơ ca của ta mô phỏng theo thơ ca Trung Quốc, v.v… nhưng cách điệu hóa theo thể tuồng.

Trong hát tuồng thường người ta chia ra ba loại:

Nói thường có cách điệu hóa ít nhiều, nói bằng văn xuôi thí dụ trong lời hường (những lời nói chen vào giữa các đoạn thơ).

Nói lối, nói bằng văn vần từ hai, ba bốn từ đến nhiều từ. Hình thức nói lối là một hình thức khá tự do trong tuồng thường phỏng theo thể nói lối trong thơ ca dân gian Việt Nam.

Ca (háo) xướng, ngâm. Ngâm là ngâm thơ, ngâm phú, còn ca và xướng cũng là kiểu hát tuồng, nhưng ca có khác với xướng ở chỗ: trong ca, người ta chỉ dùng giai điệu để mô tả tình ý, còn trong xướng lại phải vận dụng thêm ngữ khí để biểu lộ hành động và thái độ, do đó, có thể nói ca là “hát tĩnh” và xướng là “hát động”. Trong hát tuồng thì ca và xướng chen nhau, giọng khi cao khi thấp, khi nhặt, khi thưa, rất đặc sắc và sinh động.

Về hình thức thơ, nói chung các thể hát tuồng làm theo như các thể đã nói ở các chương và mục trên hoặc theo lối thơ ca, từ khúc, biền ngẫu Trung quốc, hoặc theo lối trúc chi từ trong ca Huế, hoặc nữa là theo các thể thơ ca cổ truyền dân tộc Việt Nam, từ thể nói lối (hai, ba, bốn, bảy… nhiều từ) đến thể lục bát, song thất, v.v… Do đó, dưới đây, chỉ trích một số câu hay một số điệu tiêu biểu mà thôi. Thí dụ:



a) Một vài hình thức trong thể nói lối:

– Có hình thức hai từ, bốn từ

Thậm cấp, thậm cấp

Chí nguy, chí nguy…

Âu vàng rực rục



Đuốc ngọc lầu lầu…

(Thường dùng để mở đầu lời nói hay giáo đầu các vở tuồng).

– Có hình thức năm, bảy hay nhiều từ

Hỉ thậm chân hỉ thậm!

Khoái tai, thiệt khoái tai

Hoa đâu thơm nức vẻ hồng mai,

Trăng nọ sáng lồng gương ngọc thỏ

(Lời Trinh Quận chúa trong tuồng


Đông A song phụng của Nguyễn Hữu Tiến)

Dẫu thương tích, mình này chưa đỡ

Nỗi oán thù lòng nọ khôn nguôi

Ngóng tùng thụ non nước luống xa xôi

Nhìn cung kiếm mặt mày thêm tủi hổ.

(Lời Tiết Cương trong tuồng Hộ Sanh Đàn của Đào Tấn).

Về hình thức thơ ca, thể nói lối không có gì khác so với các thể thông thường đã nói ở trên. Tuy nhiên về giọng điệu thì nói lối tuồng có nhiều cách khác nhau như lối điệu, lối trống, v.v…

b) Một vài điệu có nguồn gốc hò dân gian

1. Lý NGỰA Ô

Í ngựa ô, í ngựa ô,

Yên thắng (là thắng) kim vàng

Tình tình chúng bạn tình ơi,

Yên tra (là yên tra) cái khớp bạc, một bộ lục lạc đồng đen

Cái nón búp sen, bộ dây cương nhuộm thắm,

Một bộ yếm trắng, một bộ yếm đen.

Tình tang tính, tính tang tình

Thiếp đưa chàng, tình tình (thiếp đưa chàng) hồi hương.

2. BàI BáN QUáN

Thân tôi bán quán giữa đàng

Kẻ đi qua, người đi lại, nào đàn ông, nào đàn bà, nào bà già, con nít, đi buôn, đi bán, đi lính, đi tráng cũng đều vô ra.

Tôi bán đủ hết là: thịt heo, thịt chó, thịt gà, cơm canh trà rượu, bánh khô, bánh nổ, bánh tổ, đỗ phụng, xa lam khô khảo, trầu cau, thuốc giấy, gẫm đà thiếu chi.

Chú ăn ở rồi chú mới bò, chú mới đi.

Đòi tiền không trả, chú nói lếu nói lá, đòi đập đòi đá đòi phá quán đi, tôi nghĩ đà (đã nghĩ đà) ngang chưa?

Hình thức thơ cả hai điệu trên đây cũng đều là hình thức thể nói lối, có chỗ giãn ra thành thể trúc chi từ.



c) Một vài điu có nguồn gốc ca Huế hay nguồn gốc phúc tạp khác.

Đây là chỉ chung các thể ngâm vịnh hay ca, xướng theo điệu hát nam, hát khách. Hát nam, hát khách lại chia ra nhiều lối khác nhau, nhưng nói chung hát nam đi từ ca Huế, có xu hướng chuyển hóa sang thể lục bát hay song thất Việt Nam, còn hát khách cũng đi từ ca Huế nhưng có xu hướng thiên về sử dụng các thể thơ, phú của Trung Quốc, thí dụ Hát nam tẩu mã hay dùng lục bát mà Hát khách tẩu mã hay dùng thơ thất ngôn hay văn biền ngẫu.



HáT KHáCH

1. (Ới con ơi)!

Ức tích: phân hề khuất chi cửu thu dư;

Cầm thước cô thôn cam ẩn đôn,

(Nào ai ngờ)

Sạ văn: Viễn tín thương tân thiên lý ngoại,

Sơn thành chỉ nhật đắc đoàn viên

(Lời Đồng mẫu trong tuồng Sơn Hậu của Đào Tấn)



2. Anh hỡi Đồng Kim Lân, tấc dạ thuỷ chung, núi hiểm hang cùng khuôn bỏ bạn

Em thật Khương Linh Tá, lời nguyền sinh tử, đèo leo suối lội quyết theo nhau.

(Lời Khương Linh Tá, tuồng Sơn Hậu)

Ở đây:

Đoạn trên theo thể thơ



Đoạn dưới theo thể phú.

HáT NAM

Tấc lòng son vẹn chữ ân tình

Trông ải tía nào chi bạt thiệp

Bạt thiệp nào chỉ viễn lộ

Dốc vuông tròn tình cũ ân xưa

Một tay kinh tế còn thừa

Giao long luống đợi, mây mưa những ngày

Quan thành đoái đã gần đây,

Mau mau tới đó tỏ bày sự do

(Lời Trương Liêu trong tuồng Cổ thành của Đào Tấn)

Sau đây là một đoạn trong tuồng Hộ sanh đàn của Đào Tấn, bao gồm cả các thể văn xuôi trong lời hường, văn vần trong nói lối thơ trong hát nam hát khách:

Đã tìm tòi hết đường hết ngõ

(Răng mà) Lại quạnh hiu vắng ảnh vắng hình

(Đường đá lạnh lùng cha chả này! Thôi thôi)

Lối sơn khê chi sá gập ghềnh

(còn) Tiếng viên điểu càng thêm đau đớn

(Phu quân ơi! Em ở đây còn phu quân đi đường mô? Phu quân ơi)

Rủi so sợ đầu tên mũi đạn

Bơ vơ thương góc biển chân trời

(Các ngươi)! Có điều nguy xin chớ mựa nài

Dầu lao khổ miễn là cho gặp

Hát nam:


Cho gặp kẻo còn man mác,

Giục con sầu nước mắt khôn lau

Hò lý:


Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ chủ chín chìu ruột đau;

Hát khách:



Cuộc thế não lòng đà cách biệt

Cảnh đời đâu xứ khỏi lo âu

Hát nam:


Lạnh lùng gió lọt hơi thu

Càng vươn đoạn thảm càng cưu chữ thù.

Ở đây chỉ ghi lời văn một cách giản đơn, chứ ở nhạc tuồng thì rất uyển chuyển, thí dụ cũng một thể bảy từ mà nói lối khác, hát nam khác, hát khách khác, v.v…



3. Ca trù

Ca trù là một từ ghép có ý nghĩa rất rộng, chỉ chung tất cả những ca khúc được nâng lên mức độ chính quy và được thừa nhận dùng để diễn xướng trong các buổi lễ long trọng ở cung miếu, ở cửa quyền, ở đình…. Nói về tính chất giai cấp, nhạc xưa chia làm hai loại: nhã nhạc là nhạc của quý tộc, tục nhạc là nhạc của dân gian. Nhạc dùng ở cung miếu và cửa quyền chủ yếu là nhã nhạc; tục nhạc được dùng một phần ở đình và phổ biến trong dân gian. Nói về tính chất giọng điệu, thì nhạc lại chia làm giọng nam, giọng nữ, điệu nam, điệu nữ. Như vậy, ca trù gồm những ca khúc cho nam hát gọi là giáp công ca và những ca khúc cho nữ hát gọi là đào nương ca, thí dụ điệu Hà nam là giáp công ca, điệu Dâng hương là đào nương ca. Dần dần về sau, kép hát chỉ làm công việc đệm nhạc, có cần thiết lắm mới hát chen vào lời; do đó hầu hết các điệu đều chuyển cho đào hát và người ta không phân biệt được giáp công ca với đào nương ca nữa, thí dụ điệu Hát nói trong ca trù vốn vừa là giáp công ca (kép hát) vừa là đào nương ca (đào hát), nhưng dần dần người nghe chỉ thích cho đào hát, do đó hát nói biến thành đào nương ca.

Đào nương ca, tục gọi là hát ả Đào, vốn có nguồn gốc trang trọng, bao gồm nhiều điệu khác nhau, sắp xếp theo năm cung bậc:

– Cung Nam: giọng bằng mà thấp

– Cung Bắc: giọng rắn rỏi mà cao

– Cung nao: giọng chênh chênh giữa cung Nam và cung Bắc (Nao nao: có nghĩa là không thẳng, chếch chếch).

– Cung pha: giọng lơ lớ, không như chính âm nữa, có thể so với các giọng thượng áp cung và hạ áp cung.

– Cung huỳnh: giọng gấp, dồn dập.

Ngoài ra: có hai cung phụ là cung trầm (giọng thật trầm) và cung hãm (giọng vừa cao, vừa hãm lại, không phát ra).

Hiện nay, không đủ tài liệu để biết rõ tất cả các thể ca trù, đặc biệt là các thể hát ả đào. Đại khái, có thể biết được hát ả đào gồm mấy thể dưới đây:

a) Xét về nguồn gốc của hình thức thơ, thì có những điệu theo thể lục bát hay song thất Việt Nam như: Gửi thư, Sa mạc, Bồng mạc, Lý, Xẩm, Ngâm khúc… hay có những điệu theo các thể thơ cổ Trung Quốc như Cổ thi, Thiết nhạc, Thiên thai, Tỳ bà…

Đặc biệt, có thể Hát nói là một thể được sáng tác dựa theo thể nói sử hiến cách của Việt Nam, tức là một câu có thể từ bốn, năm, bảy, tám đến mười, mười hai từ… đồng thời lại có xen vào một số câu thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn của Trung Quốc.

b) Xét về lối của dàn nhạc, thì có những điệu mở đầu như Dâng hương, Giáo trống, tiếp đó là các điệu hát chính nghiêm trang, sau này có thêm các điệu lẳng lơ như Bợm gái tỉnh, Bợm gái say (vừa hát vừa làm điệu bộ dở tỉnh, dở say).

Để thay đổi nét nhạc cho đỡ chán, có các điệu như Dịp ba cung bắc (trong khúc hát có ba chỗ đổi điệu: chen cung Nam, cung Bắc, rồi chuyển cung pha), điệu ngâm thơ, hò ví, điệu hát thổng (đọc thông đi không ngâm nga gì), điệu hãm (dùng trong tiệc rượu), v.v…

Hát ả đào rất phong phú: có nhiều điệu được đưa vào trong các loại hát dân gian của ta như Xoan Phú Thọ, Quan họ Bắc Ninh hay ca trong Chèo, Tuồng… Sau đây, chỉ dẫn chứng một vài thể tiêu biểu, đặc biệt là thể Hát nói.

a. Thiết nhạc

Đàn ai đàn một tiếng dương tranh

Chưng thuở ngọc ô đã não nùng ai oán

Chày ai nện tiếng bẻ hai

Ghẹo người trướng gấm như xui cơn sầu

Lặng nghe tiếng nhạc Thiều tâu

Xa nghe chuông đóng lâu lâu lại dừng

Trộm nhớ thuở hồi dương đầm ấm

Năm thức mây rờ rỡ ngất trời

Nhà ai có chánh võ thôi

Chạnh lòng người thiêm thiếp hồn mai

Hận sầu này biết tỏ lòng ai

Khánh ai, Khánh ai

Xa nghe tiếng khánh, sầu gọi bên tai

Niềm tây, niềm tây

Hiềm vì một nỗi niềm tây

Tiếng đỉnh đang đủng đỉnh ca khoan

Đủng đỉnh đã thôi khoan lại nhặt

Cuốn nam hiên giãi vẻ mây rồng

Mây rồng rờ rỡ mừng xuân ngọt ngào

Lá ngô đồng rụng

Một hè thu bay

Ấy sương tỏ lọt mây

Lặng ngồi nghe tiếng chầy

b. Cổ thi

Hơi kim hây hẩy

Vầng quế chênh chênh

Giọt bàn sương lác đác ố chồi ngô,

Da Bích Hán lâm dâm bầy trận nhạn

Thoang thoảng lô trầm hun lửa kiếp, truyện Dương phi đêm thất tịch mơ màng.

Nao nao đông Hán bắc cầu ô, duyên Chức nữ buổi sơ thu chập ngập.

Quang cảnh ấy trăm chiều bát ngát,

Nỗi mềm này chín khúc ngẩn ngơ

Ơ khi vui miệng khéo là, đọ thanh sắc dám đâu chiều liễu yếu

Trộm thấy ghi lòng từ đấy, vâng tài tình thương đến phận đào non.

Bỗng nên dan díu sợi tơ hồng,

Lọ phải hẹn hò thơ lá thắm.

Đêm phong vũ bóng tri âm chợt thấy mừng mừng thẹn thẹn xiết bao tình.

Bến Vị Trăn cành thược dược cùng trao, nói nói cười cười khôn xiết kể.

Tình tình nghĩa nghĩa

Ái ái ân ân

Trăm năm chỉ núi với thề non

Treo mảnh gương nguyền soi vạn cổ

Trong bài Thiết nhạc, hình thức câu thơ biến đổi theo nhiều thể như lục bát, song thất của ta và trường đoản cú trong từ khúc của Trung Quốc.

Trong bài Cổ thi, trừ hai câu theo thể song thất của ta là:

Quang cảnh ấy trăm chiều bát ngát

Nỗi niềm này chín khúc ngẩn ngơ.

còn thì đặt theo các lối bát tự song quan, cách cú trong thể văn biền ngẫu.



c. Thiên thai

Gọi là thể Thiên thai, vì là mượn năm bài thơ Lưu Nguyễn nhập Thiên thai của Tào Đường trong Đường thi. Theo thể này, nghệ nhân ngâm xong một bài thơ Đường, rồi hát tiếp bốn câu lục bát tóm tắt đại ý của bài thơ. Vần cuối của bài thơ Đường lấy làm vần đầu của bài lục bát. Thí dụ bài đầu trong chùm thơ Thiên thai:



Thu nhập Thiên thai thạch lộ tân

Vân hòa thảo tinh, quynh vô trần

Yên hà bất tinh sinh tiền sự

Thảo mộc không nghi mộng hậu thân

Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,

Thời thời khuyển phệ động trung xuân

Bất tri thử địa quy hà xứ

Tu hướng Đào nguyên vấn chủ nhân

Cỏ cây chẳng chút bụi trần

Lối vào chẳng biết rằng gần hay xa

Xinh thay hỡi thú yên hà,

Nguồn đào muốn hỏi ai là cố nhân?

***


Một số điệu hát (kiểu nửa hát nửa ngâm) khác như Chức cẩm hồi văn, Kiều, Chinh phụ, Tỳ bà cũng na ná như vậy. Trong bài Tỳ bà, nghệ nhân ngâm một bài Thu hứng của Đỗ Phủ, tiếp đó hai bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị. Tuy vậy, đối với từng loại thơ, nghệ nhân ngâm và hát bằng một giọng điệu thế nào cho biểu hiện được nội dung và tính chất từng loại thơ đó, thí dụ ngâm Kiều có khác với ngâm Chinh phụ ngâm và ngay trong Kiều, ngâm đoạn Thúy Kiều đi thanh minh khác với đoạn Thúy Kiều gặp Từ Hải…

d. Hát nói

Đấy là một thể rất thông dụng trong ca trù, thường được các văn nhân dùng làm thơ (không nhất thiết dùng để hát). Gọi là hát nói vì trừ những câu mưỡu, câu hãm cuối bài và những đoạn ngâm thơ, thì thể này là một thể nửa hát nửa nói, có tính cách kể chuyện. Thể hát nói vốn bắt nguồn từ thể nói sứ cổ truyền của Việt Nam (thí dụ nói sử trong chèo, tuồng cổ) với hình thức cơ bản của thể bảy từ và bảy từ biến cách, nhưng có chỗ kết hợp cả hình thức trúc chi từ và hình thức văn biền ngẫu (đây chưa nói mấy câu thơ Đường luật thường được xen vào trong bài). Tuy nhiên, so với thể nói sử, thì hát nói là một loại ca khúc đã được cách điệu hóa và nâng cao: bài hát phải có một bố cục nhất định và dù chỉnh thể hay biến thể, cũng phải theo một nhạc điệu nhất định toát ra từ bố cục nói trên.

Một bài hát nói thường có hai phần:

Mưỡu

Bài hát nói

+ Mưỡu:

Mưỡn là mấy câu lục bát đi kèm theo với bài hát nói để nêu lên ý nghĩa bao trùm của bài. Chính vì thế cho nên có người nói mưỡu là do chữ mạo mà ra. Nếu chỉ có một cặp lục bát thì gọi là mưỡu đơn, thí dụ mưỡu bài Vịnh tiền của Nguyễn Công Trứ:



Hôi tanh chẳng thú vị gì

Thế mà ai cũng kẻ vì người yêu

và nếu là hai cặp lục bát, thì gọi là mưỡu kép, thí dụ bài Phỗng đá của Nguyễn Khuyến:



Người đâu tên họ là gì.

Khéo thay chính chính chi chi nực cười

Giang tay ngửa mặt lên trời

Hay là còn nghĩ sự đời chi đây?

Hai bài mưỡu trên là hai bài mưỡu đầu, tức là đặt ở đầu bài hát nói. Tuy nhiên, có khi mưỡu lại đặt ở sau bài hát nói gọi là mưỡu hậu. Mưỡu hậu đặt ở sau bài hát nói, nhưng thường thì ở trước câu kết thúc (gọi là câu keo) cho dễ hát. Như vậy, câu lục bát của mưỡu hậu phải hiệp vần với câu xếp ở trên và hiệp vần với câu keo ở dưới, thí dụ đoạn sau bài Cầm kỳ thi tửu của Nguyễn Công Trứ:

Một chữ nhàn giá lại đáng muôn chung

Người ở thế, dẫu trăm năm là mấy

Sách có chữ: “Nhân sinh thích chí”

Đem ngàn vàng chác lấy chuyện cười

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các, cho người biết tay

Tài tình dễ mấy xưa nay.

Chú ý ở đây: chơi bắt vần với cười (câu xếp) tay bắt vần với nay (câu keo).

Có những bài hát nói, vừa có mưỡu đầu, vừa có mưỡu hậu như bài Vịnh Tiền Xích bích của Nguyễn Công Trứ.

Gió trăng chứa một thuyền đầy

Của kho vô tận biết ngày nào vơi

Ông Tô tử qua chơi Xích bích

Một con thuyền với một túi thơ

Gió hiu hiu mặt nước như tờ

Giăng chếch chếch đầu non mới ló,

Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch lộ

Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương

Ca rằng: Quê trạo hề lan tương

Kích không minh hề tố lưu quang

Diến diếu hề dư hoài,

Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương

Người ý ca réo rắt khúc cung thương

Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang đáy nước

Sực nhớ kẻ quay ngọn giáo vịnh câu thơ thuở trước,

Nghĩ sự đời thêm cảm nỗi phù du,

Đành hay trời đất dành cho

Hai kho phong nguyệt nghìn thu hãy còn

Còn trời còn nước còn non.

+ Bài hát nói:

Bài hát chính cách gồm 11 câu nói chung theo thể nói sử hoặc biến cách của thể nói sử, thường thường có xen 2 hay 4 câu thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn đường luật. Câu cuối cùng gọi là câu tóm (nhất cú hoàn chi) bao giờ cũng bằng câu lục trong thể lục bát.

Toàn thể 11 câu chia là 3 trổ (hoặc khổ) như sau:

Trổ đầu: 4 câu

Câu 1: từ 4, 5 đến 7 từ

Câu 2, 3 và 4: từ 7, 8 đến 9, 10 từ

Trổ giữa: 4 câu

Câu 5 và 6: thường các câu thơ Trung Quốc (ngũ ngôn hay thất ngôn) nằm ở đây.

Câu 7, và 8: từ 6, 7 đến 8, 9 từ.

– Trổ xếp: 3 câu

Câu 9: từ 7, 8 đến 9, 10 hay 13, 14 từ…

Câu 10: câu này thường láy lại hay tiếp nghĩa câu trên

Câu 11: Câu “tóm” bằng lục bát (chỉ câu lục)

Về vần, các câu sắp xếp như sau:

Trổ đầu:

Câu 1: trắc

Câu 2: bằng

Câu 3: bằng

Câu 4: trắc

Trổ giữa:

Câu 5: trắc

Câu 6: bằng

Câu 7: bằng

Câu 8: trắc

Chú ý: Thanh của vần như vậy là theo đúng quy luật của niêm trong một bài thơ

Trổ xếp:

Câu 9: trắc

Câu 10: bằng

Câu 11: bằng

Về nhạc, có lối gọi riêng từng câu như sau:

Trổ đầu:

Câu 1, 2: lá đầu

Câu 3, 4: xuyên thưa

Trổ giữa:

Câu 5, 6: thơ

Câu 7, 8: xuyên mau

Trổ xếp:

Câu 9: dồn

Câu 10: xếp

Câu 11: keo

Thí dụ: một bài chính cách theo khuôn khổ trên



TRÊN Vì NưỚc, DưỚi Vì NHà

1. Tang bồng hồ thỉ nam nhi trải,

2. Cái công danh là cái nợ nần!

3. Nặng nề thay, đôi chữ quân, thân

4. Đạo vi tử vi thần đâu có nhẽ?

5. Cũng rắp điền viên vui thú vị,

6. Trót đem thân thế hẹn tang bồng

7. Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung

8. Hết hai chữ “trung trinh” báo quốc

9. Một mình dễ vì dân vì nước,

10. Túi kinh luân từ trước để nghìn sau

11. Hơn nhau một tiếng công hầu.

(Nguyễn Công Trứ)



+ Biến cách:

Tuy nhiên, bài hát cũng có khi biến cách, trở thành thiếu trổ hay dôi trổ.

Thiếu trổ thường là thiếu trổ giữa, chứ không thể thiếu trổ xếp được. Thí dụ:

TIỄn BiỆt

Ngán cho nỗi xoay vần thế cục

Sum họp này, chả bõ lúc phân ly

Hỡi ông tơ! Độc địa làm chi,

Bắt kẻ ở người đi mà nỡ được!

Thôi đã trót cùng nhau nguyện ước.

Duyên đôi ta chả trước thời sau,

Yêu nhau nhớ lấy lời nhau!

(Cung Thúc Thiềm)

Dôi trổ cũng chỉ có thể dôi trổ giữa (hoặc dôi một trổ hay hai, ba trổ). Thí dụ:

HỒ Tây

Dập dìu trăng mạn, gió lèo

Lòng ngâm vân thủy, lơi chèo yên ba

Cảnh Tây hồ khen ai khéo đặt,

Trong thị thànhh riêng một áng lâm tuyền

Bóng kỳ đài trăng mặt nước như in

Tàn tháo thụ lum xum tòa cổ sát

Chiếc cô lộ, mạnh lạc hà bát ngát,

Hỏi năm nao vũ quán điếu đài

Mà cỏ hoa man mác dấu thường dài

Để khách rượu làng thơ ngơ ngẩn

Yên tiêu Nam quốc mỹ nhân tận,

Oán nhập đông phong phương thảo đa

Đồ thiên nhiên một áng yên ba

Dễ khiển hứng câu thơ chén rượu

Buồm nửa lá trăng thanh gió dịu

Chiều đâu đâu một tiếng chuông rơi

Tây hồ cảnh biết mấy mươi.

(Nguyễn Công Trứ)

Trong bài này, trổ giữa gồm 8 câu, như vậy là dôi một trổ.

***


Thể hát nói theo cách gieo vần (vần chân và vần lưng) của thể nói sử, nhưng vì cần nhịp với trổ phách, nên phải theo quy luật nhất định của thanh, điệu, không được thất niêm, không được khổ độc, lạc vận, vả lại vì là một hình thức thơ có bố cục, có đủ khai thừa, chuyển, hợp, như một bài thơ Đường luật, nên cũng không được điệp lời, điệp ý.

Về sau cũng có người phỏng theo thể hát nói để làm những bài thơ dài hơi như bài Hương sơn phong cảnh của Vũ Phạm Hàm (?) hoặc để làm một lối thơ cắt thành những câu ngắn ở giữa, thí dụ:



NGHE TIN SẮP BỊ ĐƯA ĐI ĐàY

Vũ trụ giai ngô phận sự

Nhân sinh hà xứ bất phong lưu

Cầu gì đâu mà sợ cóc gì đâu?

Đâu đâu cũng như đâu đâu đó

Đâu không núi,

Đâu không sông,

Đâu không cây cỏ?

Đâu chẳng nhà

Đâu chẳng nước

Đâu chẳng anh em?

Tấm son sắt giữ vững một niềm,

Nghìn muôn dặm nhìn xem bằng gang tấc

Trong cuộc đấu tranh từng góp sức

Trên tường thành bại quyết bền gan

Đã chung vai xốc gánh giang san,

Chốn nguy hiểm bước gian nan đâu có nệ

Sinh đứng làm người trong bốn bể,

Dầu chi chi cũng chẳng kể là chi

Côn lôn, Lao bảo thấm gì,

(Phan Trọng Bình)

Bài này là thể hát nói phá cách, nhưng vẫn giữ được cái dạng một bài dôi trổ (6 câu ngắn coi như 2 câu dài ở giữa).

***


Trong ca khúc của ta, hiện nay chưa đủ tài liệu để xác minh được rằng thể nào có trước, thể nào có sau, thể nào đã ảnh hưởng trước đến thể nào, chỉ biết rằng các thể đều ảnh hưởng lẫn nhau, thí dụ như thể ca trù, có ảnh hưởng đến nghệ thuật chèo, tuồng cổ, cũng như ảnh hưởng đến cả thể dân ca như Xoan Phú Thọ, Quan họ Bắc Ninh, v.v… Ngược lại, trong ca trù lại cũng có một số làn điệu chèo, tuồng hay dân ca.



1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương