Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang7/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

Chương II. CÁC THỂ THƠ CA CỔ TRUYỀN VIỆT NAM


Nói đến các thể thơ ca cổ truyền Việt Nam, tức là nói đến các thể thơ ca dân tộc hoặc các thể thơ ca tuy có chịu ảnh hưởng ít nhiều nước ngoài, nhưng đã được dân tộc hóa.

Các thể thơ ca cổ truyền Việt Nam bao gồm các loại sau đây:

1. Các thể văn vần dần gian như tục ngữ, câu đố, ca dao, dân ca, vè, đó là các thể thơ ca gốc.

2. Các thể thơ ca cổ truyền áp dụng vào các dàn nhạc như dàn nhạc giáo phường, dàn nhạc cung đình, dàn nhạc sân khấu (thí dụ dàn nhạc chèo, dàn nhạc tuồng…), v.v…

3. Các thể thơ ca cổ truyền áp dụng vào văn học viết trong các thể như vãn, ngâm khúc, truyện thơ, sử ca.

Nói chung cả ba loại đều giống nhau, vì thật ra, hai loại dược đều bắt nguồn từ loại thứ nhất là loại các thể gốc.

Các thể gốc đó hoặc mỗi câu hai từ, ba từ, bốn từ, v.v… cho đến ngoài mười từ, thí dụ như tục ngữ, ca dao, dân ca. Vè cũng có vè hai từ, ba từ, bốn từ, năm từ và vè lục bát hay lục bát biến thể. So với vè, thì vãn là một thể thơ ca được nâng cao, số từ trong câu được ổn định và cách kết cấu được chú trọng hơn, do đó có thể nói: vãn là vè được nâng cao, về sau được đưa vào văn học viết và người ta chia ra vãn hai, vãn ba, vãn tư… Vãn lục bát tức thể hai từ, ba từ, bốn từ… lục bát. Những vè dài như vè Chàng Lía, vè Bà Phó hay vãn dài như Tư dung vãn của Đào Duy Từ đều làm theo thể lục bát.

Truyện thơ cũng vậy, tuyệt đại đa số bằng lục bát chỉ sử ca thì có thể bằng lục bát hay lục bát gián thất.

Riêng loại ngâm khúc thì bằng thể lục bát gián thất.

Tất cả loại thơ ca đó nói chung, đều có các nhịp 2,3,4 phổ biến là nhịp 2 và 3 và có các vần chân, vần lưng, phổ biến là có cả hai vần hỗn hợp.

Sau đây sẽ nói riêng từng thể trong bốn từ đến nhiều từ, ở mỗi thể sẽ nói chung cả các loại. Đối với ca khúc sẽ có một mục tổng hợp riêng.


A. CÁC THỂ GỐC TỪ BỐN TỪ ĐẾN NHIỀU TỪ VÀ CÁC THỂ HỖN HỢP KHÁC


1. Thể bốn từ

Thể này là một thể khá phổ biến trong các tục ngữ, ca dao, dân ca, vè và thơ. Những bài vè ngắn thường làm theo thể bốn từ. Ví dụ vè khâm sa. Có hai loại vần: vần chân và vần lưng (thông thường thì xen nhau). Nhịp là nhịp hai.

Tục ngữ:

Gần mực thì đen

Gần đèn thì sáng

Ca dao:


Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất?

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt?

Vè khâm sai (trích):



Lặng lặng mà nghe

Cái vè sai đạo

Danh vi trấp bảo

Vụ di an dân

Khâm sai đại thần

Kéo về Đà Nẵng…

(Khuyết danh)

Ở cả mấy thí dụ nói trên: vần lưng và vần chân đều xen nhau.

Thơ:


Đạo làm mẹ

Con là con nước

Nghĩa phải nghĩa chung

Có con anh hùng

Thời cha mẹ thỏa

Có con khôn cả

Mẹ phải khuyên răn:

Nợ bể ơn non,

Nhờ con đền giả.

Thân hầu phận tớ

Con có vinh gì?

Mẹ bảo con hay:

Hiến thân cho nước

(Phan Bội Châu)

Ở bài thơ này, vần chân là chủ yếu và là vần liền.

2. Thể năm từ

Thể này chỉ phổ biến trong tục ngữ và trong hát giặm Nghệ Tĩnh. Có nhiều bài vè khá dài làm theo thể này. Riêng trong thơ thì mãi sau này người ta mới dùng.

Tục ngữ:

Cơm treo, mèo nhịn đói

Việc bé, xé ra to

Con chị cõng con em



Con em lèn con chị

So trong từng câu một, thì vần lưng.

Hát giặm: Đây là một thể ca năm từ gồm nhiều trổ khổ, mỗi trổ ngắn ít nhất cũng có năm câu trong đó có một câu láy lại. Câu thơ gồm 2 nhịp 3/2 (lẻ trước, chẵn sau), vần là vần liên tiếp và vần chân (bằng hoặc trắc), với nguyên tắc là vần cuối trổ phải trắc thì mới láy và hát được; thí dụ:

HáT Đi ĐƯỜNG

(Trổ I)

Trên năm châu đại lục

Có nước phải có binh

Không phải một nước mình

Có quân gia cơ vệ

Có quân mình cơ vệ

Binh cùng dân một thể

Binh xuất tự dân ra

Cũng con cháu một nhà

(Trổ II)

Cùng ruột thịt màu da

Không quanh quất đâu xa

Xin anh em nghĩ với

Binh lính mình nghĩ với

Bài trên có 2 khổ, tuy gài ngắn khác nhau nhưng đều theo đúng nguyên tắc của hát giặm là nhịp 3/2, vần cuối khổ là vần trắc.

Tuy nhiên, khuôn khổ nói trên không cố định, mà thường là biến dạng: có dạng thiếu và dạng thừa. Có hai cách biến dạng:

a. Thiếu hay thừa câu trong một khổ giống như lối rút khổ và dôi khổ trong một bài hát nói, thí dụ chỉ có loại 4 câu:



Ta chung nhà chung của

Ta chung lợn chung gà,

Ta chung mắm chung cà,

Ta chung giường chung phản.

Hoặc 5 câu là phổ biến.

b. Thiếu từ hay thừa từ trong câu, thí dụ có 4 câu từ, mà cũng có câu 8 đến 9 từ…trong những câu lục bát xen vào

Thí dụ:


Đôi ta ăn ở

Sẽ phận đẹp duyên hài

Đôi ta rày như trúc với mai;

Uớc chi rày trúc bén duyên mai…

Thể này được dùng nhiều trong lối về hát dặm của Nghệ Tĩnh và khi đưa vào vè, thì khuôn khổ bài ca cũng như lời ca thường theo lối biến dạng để cho phù hợp với tính chất tự sự của bài vè. Ngoài ra, một số nhà thơ cũng đã dùng thể này để sáng tác.



Thơ: Đây là loại thơ theo thể hát dặm, có nhịp 3/2 nhưng vần thơ thì thay đổi, không nhất thiết là vần liên tiếp và số câu cũng không hạn định. Thí dụ:

CỬA BUỒNG

Tôi có hai con mắt

Cái cánh cửa buồng lồng,

Mở ra là ngó thấy,

Nào trời đất núi sông

Với muôn ngàn hình sắc,

Lôi cuốn giũa vô cùng,

Nhưng khi tối khép lại

Bốn bề đen hết thảy,

Tôi như người nửa đêm

Lạc đường trong rừng dại

Vì thế tôi cứ muốn

Cửa ấy ngỏ thường thường,

Mà mong đừng có thấy

những cảnh tượng đau thương.

(Võ Liêm sơn: Trích sách Ngắm non Hồng của Ngô Đức Mậu)

Ở đây, tuy ý thơ có chỗ mới, nhưng thể thơ vẫn là thể hát giặm dẫn ra, vần chân và vần cách.

3. Thể sáu từ

Thể này phổ biến trong tục ngữ, nhưng ít dùng trong thơ ca. Về tục ngữ có những câu nhịp 2/4 như:

Áo dài, chớ ngại quần thưa

Đường mòn, nhân nghĩa không mòn.

Nhưng thông thường là những câu nhịp 3/3, như:

Được mùa lúa, úa mùa cau

Được mùa cau, đau mùa lúa

Tất cả đều có vần giữa hai nhịp trong câu: hoặc từ cuối nhịp đầu bắt vần với từ đầu nhịp sau:



Bằng cái sẩy, nẩy cái ung,

hoặc từ cuối nhịp đầu bắt vần với từ thứ hai nhịp sau:



Lanh chanh, như hành không muối,

hoặc từ cuối nhịp đầu bắt vần với từ thứ ba nhịp sau:



Ải thâm, không bằng dầm ngấu,

hoặc từ cuối nhịp đầu bắt vần với từ cuối nhịp sau:



Sông có khúc, người có lúc.

Trong thơ, thể này ít dùng. Nhịp điệu trong thơ làm theo thể này thông thường là nhịp 2/4 giống như thơ lục ngôn (mô phỏng theo thơ Trung Quốc) sẽ nói ở dưới, thí dụ:



Phỉ chí, vén mây bắn nhạn

Bõ công sửa túi nâng khăn

Hồ thỉ ước đà phỉ ước

Khuê phòng Xuân lại thêm xuân…

(Trích một bức thư cổ)

Tuy vậy thỉnh thoảng cũng có bài theo nhịp 3/3, thí dụ:

Tịnh kiền khôn, kẽ một bầu

Bao hình thế, bốn bề thâu

Phong lưu hậu, xây nền hậu

Thủ vị mầu, ngụ ý mầu…

(Bồ đề thắng cảnh thi)

Thỉnh thoảng trong thơ, cũng có bài theo thể đó, ví dụ:

ĐOàN KẾT

Hòn đá to, hòn đá nặng

Chỉ một người nhắc không đặng

Hòn đá nặng, hòn đá bền

Chỉ ít người nhắc không lên.

Hòn đá to hòn đá nặng

Có nhiều người nhắc lên đặng

Biết đồng sức, biết đồng lòng

Việc gì khó cũng làm xong

Đánh Nhật, Pháp dành tự do

Là việc khó, là việc to

Nếu chúng ta biết đồng lòng

Thì việc đó quyết thành công

(Khuyết danh)

Ở thí dụ I: nhịp 2/4 và vần cách, ở thí dụ 2 và 3 nhịp 3/3 và ở thí dụ 3: vần liền. Nhịp điệu ở đây có chỗ giống với nhịp điệu trong thơ ca Trung Quốc, nhưng có chỗ thì lại khác.

4. Thể bảy từ

Thể này là một thể khá phổ biến trong tục ngữ, ca dao, dân ca và một phần ở truyện thơ Lục súc tranh công hay trong một số truyện thơ Tày –Nùng, chèo, tuồng và rất ít dùng vào thơ. Có 2 lối, một lối hoàn toàn bảy từ một lối hỗn hợp (sẽ nói ở sau).

Thể bảy từ của Việt Nam khác hẳn thể thất ngôn của Trung Quốc ở nhịp, vần:

a. Nhịp chủ yếu và phổ biến là nhịp 3/4. Chỉ thỉnh thoảng mới có một số nhịp 4/3 như

Ai đội mũ lệch / người ấy xấu (tục ngữ)

Cơm ăn tiền lấy / giấy trả qua (tục ngữ)

Chậm chèo bơi trước / bước bơi sau (tục ngữ)

b. Vần thì có vần liền, vần chân hoặc vần lưng. Vần lưng thường bắt sang từ thứ năm ở nhịp sau trong một câu, nếu là tục ngữ, thí dụ:

Bói ra ma, quét nhà ra rác

Ăn đi trước, lội nước đi sau

Được lòng ta, xót xa lòng người

Giọt máu đào hơn ao trước lã

Hoặc cũng ở từ thứ năm câu sau, nếu là thơ, thí dụ:

Muông, người cho ăn cháo ăn cơm



Trâu người bắt nhai rơm, nhai cỏ!

Trâu biết nói, trâu không biết xét



Suy mình muông công nghiệp đã đày

(Lục súc tranh công)

Tuy vậy, cũng có trường hợp vần nhịp sau trong một câu (tục ngữ) lại ở đầu hoặc ở cuối.

Chó giữ nhà, gà gáy trống canh (tục ngữ)

Con có mẹ, như măng ấp bẹ (tục ngữ)

Trong thơ, có khi không có vần lưng hay vần rất cưỡng ép:

1.

Ăn, thì ăn cơm thừa canh cặn

Ăn, thì ăn môn sượng khoai sùng,

Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều

Có cũng rằng, không không cũng chớ

(Lục súc tranh công)

2.

Nay em đã nhâm thần kết tử

Chữ tao khang sớm khuya hằng giữ

Đã đủ no chín tháng mười ngày,

Việc chuyên cần khuya sớm hôm mai…

(Lời Trinh Nguyên nói sử, Chèo Tôn Trọng, Tôn Mạnh)

3.

Cùng Tiết–gia tráng sĩ kết duyên

Tôi Kỳ thị Lan Anh là hiệu

Từ phu tướng về kinh tế tảo

Luống phòng khuê đêm vắng u sầu

Khéo lôi thôi sắc liễu bên lầu

Càng thánh thót tiếng oanh trước cửa…

(Lời Lan Anh nói lối, Tuồng Hộ Sanh đàn)

Ở thí dụ 1: từ cặn bắt vần với từ sượng (vần cưỡng ép); ở thí dụ 2 và 3: chỉ có vần chân; không có vần lưng.

Một thí dụ tổng hợp về thơ:

NHóM LỬA

Lửa leo lét, bắt đầu nhóm lửa

Biết bao nhiêu là sự khó khăn

Chỉ đìu hiu một mảnh gió xuân

Cũng bị sợ lửa khi tắt mất

Nghi ngút khói mặc dầu thổi quạt

Che một bên lại tạt một bên.

Khi lửa đã chắc chắn bén lên

Thì mưa gió chi chi cũng cháy

Mưa lún phún lửa càng nóng nẩy,

Gió càng cao ngọn lửa càng cao.

Núi rừng đều bén cháy ào ào

Lửa nung đỏ cả trời nắng tóe…

(Xung phong)

Trong bài thơ này: nhịp là nhịp 3/4 và vần là vần chân còn vần lưng thì thỉnh thoảng mới có; thí dụ lửa và sự, quạt và tạt.

5. Thể tám từ và nhiều từ

Trong tục ngữ, ca dao, dân ca, còn có thể tám từ và nhiều hơn tám từ (có khi đến 19, 20 từ)… Nhưng trong thơ chỉ có thể hỗn hợp, mà không có thể thơ toàn tám từ (trừ thể thơ mới).

Trong một câu tám từ, phổ biến có hai vế nhịp 4, từ cuối của vế trên bắt đầu với từ thứ hai của vế dưới. Thí dụ những câu tục ngữ

Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ

Chim trời cá nước ai được thì ăn

Tuy vậy, cũng có khi vế đầu bắt vần với từ đầu, từ giữa hoặc từ cuối của vế sau, thí dụ:

Ăn thì hà hả, giả thì hi hi

Bạc tinh Tuyên, ai còn duyên thì được.

và do đó nhịp cũng thay đổi thành 3/5 (câu sau). Lại có khi cũng không có vần:

Bán anh em xa, mua láng giềng gần.

Những câu 9 từ, 10 từ… 20 từ cũng chia làm 2 vế, hay nhiều vế với những nhịp khác nhau tùy theo câu dài hay ngắn. Thí dụ: trong tục ngữ và dân ca.

Bà chúa đút tay bằng ăn mày sổ ruột (9 từ).

Chẳng ngon cũng thể sốt, chẳng tốt cũng thể mới (10 từ).

Thấy nói mà chua, bồ hòn có ngọt thì vua đã dùng (11 từ).

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát khe cũng lội, tam thập lục đèo cũng qua (nhiều từ)…

Cách bắt vần ở đây chỉ có một nguyên tắc là một từ ở vế đầu bắt vần với một từ ở vế sau còn vị trí của vần thì cũng không nhất định. Thể này được dùng nhiều trong dân ca.

Dưới đây chỉ trích một thí dụ về ca dao toàn tám từ:

Con gái đang thì nên con gái,

Cái áo em mặc chải chải hoa hồng,

Trong yếm dải hồng, chuỗi xe con toán

Cái quai dấu chạm em đội trên đầu

Cái nhôi dấu gấp quấn vào đỏ chói,

Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền,

Như cánh hoa sen giữa ngày mới nở,

Mẹ em đi chợ, có kẻ gánh gồng.

Anh đứng anh trông, má hồng đỏ thắm,

Anh đứng anh ngắm, đẹp đẽ làm sao.

Con cháu ông nao chân đi đẹp đẽ!



Anh có vợ rồi chẳng lẽ anh siêu?

Và một thí dụ về thơ Phan Bội Châu phỏng theo thể tám từ nói trên trong bài Nghĩa vụ đối với quốc gia:



Góp nghìn ức nhà, mới gây nên nước,

Nước có quyền nước, mới giữ được nhà,

Nước túc là nhà, nhà túc là nước,

Vậy nên nhà nước hai chữ liền nhau.

Nước là nhà to, nhà là nước nhỏ,

Cơ đồ tiên tổ, thành quách non sông

Xương trắng máu hồng, gây nên gấm vóc,

Con Hồng cháu Lạc, nối nghiệp đời đời

Ruộng ta ta cày, rẫy ta ta phở (vỡ)

Nhà ta ta ở, của ta ta ăn.

Ta là quốc dân, nghĩa chung thờ nước,

Mất còn sống thác, cùng nước thủy chung…

Thật ra đây cũng chỉ là thể hỗn hợp của bốn từ mà thành tám từ: vần chân câu trên bắt xuống thành vần lưng câu dưới và cứ thế mà tiếp diễn theo kiểu nói lối.

***

Các thể nói trên là các thể cơ bản từ 4 từ cho đến 8 từ và nhiều từ, sau đây là thể hỗn hợp giữa 6, 7, 8 và nhiều từ…



6. Thể lục bát (sáu tám)

Như ở phần tiểu luận trên đã nói, đây là một thể tổ hợp giữa câu sáu và câu tám. Số câu không hạn định, ít thì hai câu gọi là một cặp, đến 4 câu và nhiều câu không hạn định.

Niêm luật của thể lục bát khá giản dị, có thể tóm tắt theo hai hệ thống như sau:

a. Hệ thống phổ biến:

Vần bằng (từ thứ 6 câu sáu, từ thứ 6 và thứ 8 câu tám:






1

2

3

4

5

6

7

8

Lục



bằng



trắc



bằng







Bát



bằng



trắc



bằng



bằng

Thí dụ:

Đường dài ngựa chạy biệt tăm

Người thương có nghĩa trăm năm cũng về

(Tục ngữ)



Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng

(Ca dao)


Chú ý: Niêm giữa câu lục và câu bát điều theo từng cặp:

bằng

trắc

bằng

bằng

trắc

bằng

Các từ thứ 4, thứ 6, thứ 8 nhất thiết phải theo trắc bằng cố định, riêng từ thứ 2 có thể linh động bằng hay trắc. Thí dụ:

Có oản anh tình phụ xôi

Có cam phụ quít, có tình phụ ta

(Ca dao)


Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Chẳng lịch cũng thể con người thượng kinh

(Ca dao)


b. Hệ thống đặc biệt:

Có hai điểm khác với hệ thống trên:

Vần trắc, thí dụ:

Tò vò mà nuôi con nhện

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

(Ca dao)


Vần lưng gieo ở từ thứ 4 câu tám, thí dụ:

Nước ngược ta bỏ sào ngược

Ta chống chẳng được ta bỏ sào xuôi

(Ca dao)


Núi cao chi lắm núi ơi,

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương

(Ca dao)


Ở thí dụ 2 vần vừa trắc, vừa gieo ở từ thứ 4. Một điểm cần chú ý là từ thứ 6 và thứ 8 trong câu (hệ – thống phổ biến) và từ thứ 4 và thứ 8 trong câu bát (hệ thống đặc biệt) tuy là bằng, nhưng nó không được trùng thanh mà phải một thanh huyền, một thanh không trong hệ thống thanh bằng.

Ngoài ra, trong thể lục bát, cũng cần chú ý thêm nhịp và đối



* Về nhịp:

Như đã nói ở phần thứ nhất, xét về tính chất hoàn chỉnh của nó về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm và ngữ điệu, thì cả cặp lục bát mười bốn từ được coi như một đơn vị nhịp điệu, trong đơn vị đó lại có thể ngắt ra từng tiết tấu tùy theo cách diễn đạt của câu thơ, do đó cũng có thể ngắt thành đơn vị tiết tấu mà ta thường gọi là nhịp 2, nhịp 3, nhịp 4... Nếu quan niệm như vậy, thì ngắt nhịp trong câu thơ lục bát rất uyển chuyển.

Thí dụ: Ngắt nhịp hai rõ nét ở những chỗ như ướt bụi, ướt bờ, ướt cây, ướt lá trong câu ca dao:

Trời mưa ướt bụi / ướt bờ /

Ướt cây / ướt lá / ai ngờ ướt em.

hay ngắt nhịp ba rõ nét ở những chỗ; chồng gì anh, vợ gì tôi trong câu ca dao:



Chồng gì anh / vợ gì tôi,

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây!

Rất ít có những câu lục bát thuần nhất là nhịp hai, ba hoặc bốn… mà thường có lối ngắt nhịp xen kẽ, hỗn hợp.

1.

Lọng vàng che nải chuối xanh

Tiếc cho loan phượng đậu cành tre khô

(Ca dao)


2.

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn–Vũ, canh gà Thọ Xương

Tuyệt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ

(ca dao)

3.

Khách tình lại nhớ thuyền tình

Thuyền tình lại nhớ khách tình là duyên

(Ca dao)


Ở thí dụ 1: câu lục: đối ý, không đối thanh; câu bát: vừa đối ý vừa đối thanh.

Ở thí dụ 2: Câu bát: cũng vừa đối ý vừa đối thanh: ở câu bát: nếu có đối ý thì nhất định có đối thanh vì từ thứ 4 là trắc, từ thứ 8 là bằng, trừ trường hợp vần gieo ở từ thứ 4, còn câu lục, nếu muốn đối cả thanh thì phải chuyển sang nhịp 3/3, thí dụ:



Người quốc sắc, kẻ thiên tài

(Kiều)


Ở thí dụ 3: ở đây lại là lối đối ý chéo nhau trong từng câu và trong cả hai câu lục bát: khách tình và thuyền tình.

Thể lục bát là một thể rất phổ biến trong tục ngữ, ca dao, dân ca, trong các làn điệu chèo, tuồng, v.v… trong các bài vè dài, các bài vãn, các tập diễn ca (như Nhị thập tứ hiếu Lý Văn Phức), các truyện thơ (như truyện Thạch Sanh, truyện Kiều, Truyện Lục Vân Tiên…). Sau này thể lục bát cũng được dùng vào trong các thể thơ mới.

Xét về mặt kết cấu của hình thức câu thơ, câu lục bát trong ca dao, dân ca cũng không có gì khác bởi câu lục bát trong tác phẩm văn học viết, thí dụ truyện Kiều, Truyện Lục Vân Tiên, do đó ở đây không cần trích dẫn thêm về loại sau.

7. Thể lục bát gián thất hay song thất lục bát

Như ở phần thứ nhất đã nói, đây là một thể tổ hợp giữa thể lục bát với thể thốt ngôn. Cứ tính một khổ (trổ) bốn câu, hai câu lục bát tiếp hai câu thất ngôn là lục bát gián thất; có khi bắt đầu bằng hai câu thất ngôn tiếp đến hai câu lục bát là song thất lục bát, thường gọi tắt là thể song thất. Cách này thường phổ biến hơn cách trên, cho nên dưới đây lấy thể song thất làm chuẩn:

Thí dụ về câu song thất lục bát.

Áo xông hương của chàng vắt mắc

Đêm em nằm, em đắp lấy hơi,

Gởi khăn, gửi túi, gửi lời,

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa…

(Ca dao)


Thí dụ về câu lục bát gián thất:

Đêm qua nguyệt lặn về tây

Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài

Trúc với mai, mai về trúc nhớ.

Trúc trở về, mai nhớ trúc không!

Bây giờ kẻ Bắc, người Đông.

Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư.

(Ca dao)


Về niêm luật, thì song thất lục bát hay lục bát gián thất cũng như nhau (chỉ khác ở câu xướng đầu) và thông thường thì người ta bắt đầu bằng câu song thất

Có thể tóm tắt niêm luật của một một trổ 4 câu như sau:






1

2

3

4

5

6

7

8

Câu thất–trắc





trắc



bằng



trắc (vần)




Câu thất–bằng





bằng



trắc (vần)



bằng (vần)




Câu lục



bằng



trắc



bằng (vần)







Câu bát



bằng



trắc



bằng (vần)



bằng (vần)

Ở hai câu thất: 3 từ cần theo niêm luật là: 3, 5, 7

Câu thất trắc: 2 sắc ôm một bằng, từ thứ bảy trắc là vần sẽ bắt xuống từ thứ năm trắc của câu thất–bằng ở sau.

Câu thất–bằng: 2 bằng ôm một trắc, từ thứ bảy bằng là vần, sẽ bắt xuống từ thứ sáu bằng của câu lục.

Câu lục và câu bát thì theo như niêm luật của thể lục bát, từ thứ tám của câu bát là bằng, sẽ bắt vần xuống từ thứ năm bằng của câu thất–trắc kế tiếp, v.v… Thí dụ.



Trong cung quế, âm thầm chiếc bóng.

Đêm nằm canh, trông ngóng lần lần,

Khoảnh làm chi bấy, chúa xuân,

Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi!

Lầu dãi nguyệt, đứng ngồi dạ vũ,

Gác thừa lương, thức ngủ thu phong,

Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng

Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi…

(Cung oán ngâm khúc)

Tuy vậy, từ thứ 3 ở câu thất–trắc cũng có thể theo thể bằng, thí dụ:

Đêm năm canh, lần nương vách quế,

Cái buồn này ai để giết nhau…

(Cung oán ngâm khúc)

Đặc biệt lối bắt vần trong bài Bồ đề thắng cảnh thi có chỗ khác cách: vần chân ở câu bát không bắt với vần lưng ở từ thứ năm câu thất liền đó, mà lại bắt với từ thứ ba của câu thất đó, thí dụ:

Doành la, dong bạc phau phau

Đỉnh đang mấy phút khoan mau dầu lòng

Chợt ngước trông Điêu diêu quán dịch,

Uớc hỏi xem lai lịch nhường bao?

Tắc qua nẻo ngác sông Đào,

Luận công trị thủy, xiết bao công trình

Hướng thần kinh triều tông cuồn cuộn.

Vững âu vàng nguyên bổn đặt an…

Chú ý:


– lòng bắt vần với trông

– trình bắt vần với kinh

Đấy là nói về vần, còn về nhịp thì 2 câu thất theo thể của nhịp thất ngôn Việt Nam và 2 câu lục bát cũng theo nhịp của thể lục bát (đã nói ở trên).

Về đối, thể này không buộc phải đối, nhưng thỉnh thoảng cũng có đối để làm nổi bật ý của câu văn.

Thông thường, trong thể này có ba cách đối:

– Tiểu đối trong một câu (đối trung cú)

– Hai câu đối nhau (đối cách cú)

– Hai trổ (đoạn) đối với nhau (đối cách đoạn), thí dụ:

a. Đối trung cú:

Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi…

b. Đối cách cú:



Lầu dãi nguyệt, đứng ngồi dạ vũ

Gác thừa lương thức ngủ thu phong…

(Cung oán ngâm khúc)

c. Đối cách đoạn: đoạn A đối với đoạn B

Đoạn A:


Thư thường lại, người không thấy lại,

Hoa dương tần trải rêu xanh.

Rêu xanh mấy lớp chung quanh,

Chân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ

Đoạn B:


Thư thường tới, người chua thấy tới;

Bức rèm thứa dần dãi bóng dương,

Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,

Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai

(Cung oán ngâm khúc)

Đặc biệt trong bài Kinh kỳ cảm hoài ngâm (cũng gọi là Thu dạ lữ hoài ngâm), Đinh Nhật Thận lại diễn ca bằng chữ Hán, thí dụ:

Nhân đối cảnh hoa giang nguyệt chiếu,

Cảnh liêu nhân thu diều phong xuy

Giá ban liệu thiều nhân tri,

Nhàn lai phong nguyệt dự thùy vi thu?

Nếu thể lục bát được áp dụng một cách thích đáng vào truyện thơ, thì thể song thất, với sắc thái riêng biệt của nó, lại được chọn cho lối ngâm khúc. Truyện thơ thuộc về thể tự sự, diễn tả một sự tình nào đó, còn ngâm khúc thuộc về trữ tình, biểu hiện một nguồn cảm xúc nhất định. Xét về mặt kết cấu của bài thơ, ngâm khúc cũng có bố cục hoàn chỉnh, nghĩa là có phần mở đầu, phần kết thúc và phần chính của khúc ca. Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (?) và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là hai tác phẩm tiêu biểu nhất về loại này. Ngoài ra còn có các khúc ca có giá trị khác theo thể này thí dụ như Trần tình khúc của Cao Bá Nhạ, Bần nữ thán (khuyết danh).

Cũng như thể lục bát thể lục bát gián thất không phải chỉ cố định trong khuôn khổ như đã nói ở trên, mà tùy trường hợp, nhất là trong việc áp dụng vào dân ca, đã biến thể và giãn ra cho hài hòa với cảm xúc và nhạc điệu. Lục bát biến thể, như đã nói ở phẫn thứ nhất, không phải là tiền đề lục bát, mà chính là thể lục bát hoàn chỉnh giãn ra, nhưng vẫn giữ đúng được cái dạng của thể hoàn chỉnh, thí dụ:

Ba bốn năm ăn ở trên rừng,

Chim kêu vượn hót anh nửa mừng nửa lo

(Hát xẩm)

Lục bát gián thất biến thể cũng vậy, không phải là lối trúc chi từ, câu dài câu ngắn trong những dạng tiền đề của nó, mà chính là từ thể hoàn chỉnh giãn ra, thí dụ:

Mà chớ nghi ngờ, dật dờ thương nhớ



Cái duyên anh đã lỡ, cái nợ anh đã mòn

Như trăng kia đã khuyết, khó biết sao tròn

Mặt tuy cách mặt, dạ em vẫn còn thương anh.

(Dân ca Nam Trung Bộ)

Nếu chúng ta tước bỏ những chỗ giãn trong lời ca, chúng ta sẽ có hệ thống hoàn chỉnh sau đây:

Chớ nghi ngờ dật dờ thương nhớ,

Duyên anh lỡ, cái nợ anh mòn

Như trăng khuyết, biết sao tròn,

Mặt tuy cách mặt, em còn thương anh.

Lục bất biến thể và lục bát gián thất được sử dụng rất nhiều trong ca khúc Việt Nam.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương