Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang6/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

Phần thứ hai. CÁC THỂ THƠ CA

Chương I. TÍNH CHẤT CHUNG CỦA CÁC THỂ THƠ CA CỔ


Các thể thơ ca cổ nói đây chỉ chung tất cả các thể thơ và văn của ta không kể các thể thơ và văn chịu ảnh hưởng phương Tây sau này. Thơ văn cổ của ta có thể chia làm hai loại lớn: một loại thơ ca cớ tính chất dân tộc như lục bát, song thất và biến thể của nó…, một loại thơ ca mô phỏng theo Trung Quốc như thể cổ văn, thơ Đường luật, văn biền ngẫu, v.v… Trong thơ ca cổ cần chú ý hai yếu tố: đối và vần. Do đó, có thể dựa theo yếu tố trên mà chia ra bốn lối như sau:

1. Có vần mà không đối nhau,

2. Không có vần mà đối nhau,

3. Có vần mà đối nhau,

4. Không có vần mà không đối nhau.

Để hiểu thơ văn cổ, cần phải hiểu một số tính chất chung như thanh và đối, vần và nhịp.


A. THANH VÀ ĐỐI


1. Thanh

So với tiếng Trung Quốc thì tiếng ta nhiều hơn một thanh, chính vì vậy mà ta có thể mô phỏng một cách dễ dàng nhiều thể thơ văn Trung Quốc. Theo sách Quảng vận, tiếng Trung Quốc có năm thanh: hai thanh bằng là đoản bình và trường bình, ba thanh trắc là thượng, khứ, nhập. Thí dụ từ đông biến theo hai hệ thống:

đoản bình: đông (lúc đánh thanh không đánh thanh này)

trường bình: đồng

thượng: đổng

khứ: đống

nhập: độc

hoặc:


đoàn bình: đông (lúc đánh thanh không đánh thanh này)

trường bình: đồng

thượng: đống

khứ: động

nhập: độc

Tiếng ta có sáu thanh tương ứng với sáu dấu là: không, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Trong sáu thanh đó, thì thanh không giống với đoản bình thanh của Trung Quốc, thanh huyền giống với trường bình thanh của Trung Quốc, còn các thanh khác thì không giống, tuy nhiên nếu quy ra bằng, trắc thì vẫn phù hợp.

Trong tiếng ta, từ nào bằng thì có đủ sáu thanh thí dụ từ nam:


thanh không

thanh huyền



: nam

: nàm


hai thanh bằng

thanh sắc

thanh hỏi

thanh ngã

thanh nặng



: nám

: nảm


: nãm

: nạm


bốn thanh trắc

Riêng từ nào trắc, thì chỉ hai thanh trắc, thí dụ: từ nước: nước, nược.

Cách biến thanh phải theo đúng luật thuận thanh âm của tiếng Việt, mà chúng ta có thể tóm tắt như sau:



huyền – ngã – nặng

hỏi – sắc – không

2. ĐỐI

Trong thơ văn cổ của ta cũng như của Trung Quốc, đối là một yếu tố quan trọng. Đối nghĩa là thành đôi và tương xứng với nhau. Phép đối có: đối thanh và đối ý. Cả hai phép đối đó đều theo một nguyên tắc chung có số từ ngang nhau và thanh, ý phải đối nhau.



a. Đối thanh:

Bằng đối với trắc, trắc đối với bằng.

Thí dụ: trời đối với đất (bằng – trắc; trời cao – đất thấp (bằng bằng – trắc trắc); chìm đáy nước – lửng da trời (bằng trắc trắc – trắc bằng bằng)

Thật ra, trong một từ, thanh và ý gắn với nhau. Thường thường khi người ta chọn thanh, là phải chọn ý. Thanh và ý đều đối được ngang nhau thì gọi là đối cân, nếu thanh cân mà ý không cân hay ý cân mà thanh không cân thì gọi là đối lệch.



b. Đối ý:

Ý của hai từ phải ngang nhau mới đối với nhau được, có khi ý của hai từ có tính chất phản thác, thí dụ: đen đối với bạc, cao đối với thấp; nhưng cũng có khi ý của hai từ lại có tính chất bồi thán, thí dụ: gió mát đối với trăng thanh, long lanh sắc nước đối với bát ngát hương trời.

Thời xưa từ loại chưa được phân biệt, người ta chia ra thực tự và hư tự (thực tự như danh từ, hư tự như phó từ); nay thì chúng ta dựa theo từ loại mà vận dụng phép đối, thí dụ:

danh từ dối với danh từ

động từ – động từ:

tính từ – tính từ

phó từ – phó từ, v.v…

Có hai cách đối ý:



Tiểu đối: Trong văn vần của ta, thí dụ như trong tục ngữ, ca dao hay trong thơ lục bát, song thất nói chung, thỉnh thoảng từng vế trong một câu cũng đối nhau, người ta gọi đó là tiểu đối. Thí dụ:

Giơ cao, đánh sẽ (khẽ) (Tục ngữ).

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng (Tục ngữ)

Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài tan (Ca dao)

Người quốc sắc, kẻ thiên tài (Kiều)

Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa (Kiều)

Trong tiểu đối này, nếu từng từ trong mỗi vế đối nhau được thì tốt, nhưng ít nhất mỗi từ cuối vế là phải đối nhau, như cao đối với sẽ (khẽ)

đen – sáng

tĩnh – động

sắc – tài

mới - xưa

Bình đối: Toàn bộ ý câu trên đối với toàn bộ ý câu dưới, như vậy là từ đối từ, vế đối vế, câu đối câu. Phép đối ở đây đòi hỏi một sự tổng hợp toàn diện. Đối thanh nói chung là giản đơn, nhưng đối ý có khi thật lắt léo. Phép đối tất nhiên là phải dựa vào luật thơ có những từ trong câu bắt buộc phải đối, lại cũng có những từ có thể linh động đối ý mà không cần đối thanh. Thí dụ:

* Trong thể song thất của ta:

Thể song thất của ta thường thường không bắt buộc phải đối, nhưng thỉnh thoảng cũng có đối:



Chìm đáy nước, cá lừ đừ lặn

Lửng da trời, nhạn ngẩn ngơ sa.

(Cung oán ngâm khúc)

Ở đây từng tư đối nhau như: nước đối với trời; lặn đối với sa; từng vế đối nhau như: chìm đáy nước đối với lửng da trời “cá lừ đừ lặn” đối với “nhạn ngẩn ngơ sa”; và câu trên đối với câu dưới.

Phép đối như vậy là hoàn chỉnh về thanh cũng như về ý. Tuy nhiên, trong câu song thất, nếu đối cả được thì tốt, hay ít nhất, từ cuối vế phải đối nhau như: nước–trời; lặn–sa.



* Trong thể thơ Đường luật:

Trong thể Đường luật, 4 câu giữa (2 câu thực và 2 câu luận) bắt buộc phải đối nhau. Thí dụ:



Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Đường cũ lâu đài bóng tịch dương.

(Bà huyện Thanh Quan)

Hai câu này nói chung là được về ngữ nghĩa (hai từ “xe ngựa” đối với “lâu đài” là chỉnh); nhưng về thanh thì lối đối với đường, xe đối với lâu, chưa cân.

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.

(Nguyễn Công Trứ).

Hai câu này, so với hai câu trên có hơn một mức; nhưng từ đã đối với từ phải thì thanh vẫn chưa cân.

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà,

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

(Bà huyện Thanh Quan)

Bốn cây này vừa đạt về thanh vừa đạt về ý.

* Trong thể Đường phú:

Đường phú là thể phú đời Đường bắt buộc các câu phải có vần và đối với nhau. Có 4 loại câu đối nhau:

– Câu bát tự gồm 2 câu, mỗi câu 4 từ.

– Câu song quan (hai cánh cửa) gồm 2 câu, mỗi câu từ 5 từ đến 8, 9 từ.

– Câu cách cú gồm 2 câu, mỗi câu 2 vế, từng vế câu trên đối với từng vế câu dưới.

– Câu hạc tất (gối chim hạc) gồm 2 câu, mỗi câu 3 vế, cứ từng vế câu trên đối với từng vế câu dưới.

Thí dụ: bài Xuân thiên chú (Phú trời xuân) (phòng vận):


Vườn hoa rắc gấm (I)

rặng liễu buông mành (II)



bát tự: (I) đối với II)

Phấp phới bướm bay trước gió (I)

nỉ non chim hót đầu cành (II)



song quan: (I) đối với (II)

Giang sơn mở mặt tươi cười (I)

trời êm mây tạnh, (II)

Tạo hóa ra tay tô điểm, (II)

nụ thẫm màu xanh (IV)



cách cú:

(I) đối với (II)

(II) đối với (IV)


Mới ngày nào thu ủ dòng rầu, (I)

sương sa như bạc, lá rụng như vàng (II)

chiều tịch mịch vừa trêu vừa gọi (III)

mà nay đã trời tươi đất tỉnh (IV)

núi vẽ ra mày, hoa cười ra miệng (V)

cảnh xuân thiều càng ngắm càng xinh (VI)

(Khuyết danh)


hạc tất:

(I) đối với (IV)

(II) đối với (V)

(III) đối Với (VI)



(Chú ý từ giữa vế và từ cuối của từng vế bắt buộc phải đối)

B. VẦN VÀ NHỊP


1. Vần

Đối với thơ Trung Quốc, thì tất cả vần đã được quy định thành từng bộ trong quyển Thi Vận lập thành. Tất cả là 106 bộ vần, gồm 30 bộ loại bình từ vần Nhất đông đến vần Thập ngũ hàm. 76 bộ loại trắc từ vần Nhất đông đến vần Thập thất hiệp:

– đoản bình: 15 bộ; trường bình: 15 bộ

– thượng: 29 bộ; khứ: 30 bộ; nhập: 17 bộ.

Một bài thơ đã gieo vần ở bộ nào thì chỉ được lấy vần ở bộ ấy; không được lấy sang bộ khác.

Sau đây là 30 bộ loại bình mà chúng ta có thể thường gặp trong thơ Đường.



a. Đoản bình:

Nhất đông, nhị đông, tam giang, tứ chi, ngũ vị, lục ngư, thất ngư, bát tề, cửu giai, thập khói, thập nhất châu, thập nhị văn, thập tam nguyên, thập tứ hàm, thập ngũ san.



b. Trường bình:

Nhất tiên, nhị tiêu, tam hào, tứ hào, ngũ ca, lục ma, thất dương, bát canh, cửu thanh, thập chưng, thập nhất vưu, thập nhị xâm, thập tam đàm, thập tứ diêm, thập ngũ hàm.

Thí dụ: một bộ nhất đông gồm 172 vần như đông, đồng, đồng, đồng trung, trung v.v…

Vần đứng đầu bộ là vần chính, vần trong cùng bộ là vần thông. Nếu làm thơ mà gieo vần lạc sang bộ khác là lạc vận. Trong bài thơ Việt mô phỏng Đường luật mà có vần là chữ Hán cũng phải theo luật này, thí dụ trong bài Thăng Long thành hoài cổ của bà huyện Thanh quan thì từ trường ở câu I, thông vần với từ trường ở câu 8 (đều thuộc bộ thất dương).

Trong thơ Đường, vần điệu rất chặt chẽ, ngay như thơ cổ phong, tuy không phải đối thanh đối ý, nhưng cũng phải gieo vần theo bộ. Cũng nên chú ý rằng, âm tiếng. Trung Quốc đã thay đổi theo sự tiến triển của lịch sử, nhưng vần bộ thì lại tập thành cố định, do đó, ngày nay chúng ta mới ngạc nhiên là tại sao đông là phương đông lại không thể hiệp vần với đông là mùa đông được.

Đối với tiếng Việt, không có một sự quy định vần bộ nào cả, từ nào có quan hệ với Trung Quốc thì có thể phỏng theo, còn từ nào thuần túy của ta thì tùy thuộc vào quy luật âm thanh của ta.

Vì không có sự quy định tập thanh, nên vần chính trong một bài thơ Việt là do người làm thơ chọn lấy, coi như là vần chủ, vần chủ đó có thể ghép với những vần đọc với một giọng na ná, gọi là vần thông. Có thể tóm tắt quy luật như sau:

a– Về thanh của vần:

– Hai thanh bằng thông với nhau: ban, bài

– Bốn thanh trắc thông với nhau: tính, tĩnh, tỉnh, tịnh.

Nếu cùng một thanh thì phụ âm đầu phải khác nhau, trừ trường hợp khi dùng một từ mà nghĩa khác nhau, thí dụ Nguyễn Khuyến viết trong bài Thơ điếu:

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo…

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo…

 2 từ “teo” nghĩa khác nhau

Nếu khác thanh, thì phụ âm đầu có thể giống nhau, như thí dụ ở trên: ban, bàn…



b– Về âm của vần:

+ Vần chính:

1. Phải có âm giống nhau.

2. Phụ âm cuối (nếu có) phải giống nhau

3. Phụ âm đầu (nếu có) phải khác nhau

Mục 2 và 3 theo quy luật của thanh ở trên

Thí dụ:


– trường, đương, vương

– ang, hoang, trang

– càng, vãng, láng, trạng

+ Vần thông:

1. Có âm na ná như nhau.

2. Phụ âm cuối (nếu có) có thể hơi khác nhau (tức na ná như nhau)…

Mục 2 theo quy luật của thanh ở trên.

3. Phụ âm đầu (nếu có) có thể giống nhau.

Thí dụ:


– trong, tong, tùng, tuồng

– an ăn, lâng

– quen, quên, in, yên

– Tú Quỳ viết trong bài Vịnh hát bội:



Nhỏ mà không học lớn làm ngang…

Trống đánh ba hồi đã thấy quan

– Chu Mạnh Trinh viết trong bài Kiều đi thanh minh:



Màu xanh ai khéo vẽ nên tranh…

Ngàn liễu rung cương sóng gợn tình…

Trong thơ Đường, người làm thơ buộc phải theo thanh âm và vần bộ của vần, trong thơ ta (dù theo Đường luật) cũng chỉ cần theo thanh âm của vần là được, do đó có rộng rãi hơn.

Về lối gieo vần, giữa thơ ca của ta và thơ ca Trung Quốc, cũng có chỗ khác nhau. Đương nhiên, thơ ca ta hay thơ ca Trung Quốc thì cũng bắt nguồn từ ca dao, dân ca của mỗi nước. Thơ ca Trung Quốc bắt nguồn từ Kinh Thi, Sở từ. Thơ ca Trung Quốc có hai loại vần là vần lưng và vần chân. Vần lưng chỉ thấy rớt lại trong một số ca dao đời Hán, thí dụ:

Thiên hạ trung thành, Dậu Du Bình

Thiên hạ nghĩa phủ, Trần Trọng Cử

Thiên hạ đức hoằng, Lưu Trọng Thằng

(Tam hiền quân phụ lục: Tam quân)

Trong mấy câu này, ta thấy thành hiệp vần với Bình, phủ hiệp vần với Cử, hoằng hiệp vần với Thằng.

Đến đời Đường, lối hiệp vần này bị loại bỏ, vì theo Đường luật, thì đó là bệnh phong yêu.

Do đó, có thể nói thơ ca Trung Quốc từ xưa đến nay thiên về lối gieo vần chân. Theo Kinh thi, có thể chia làm ba loại vần chân:

+ Loại vần liền (cũng gọi là vần trên châu):

Nam hữu kiều mộc

Bất khá hữu túc…

+ Loại vần cách:

Đào chi yêu yêu

Hữu phần kỳ thực

Chỉ tứ vu quy,

Nghi kỳ gia thất

+ Loại vần hỗn hợp:

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu…

Loại thơ bốn câu ba vần bắt nguồn từ loại này (tức là loại ba vần bằng ôm một từ trắc, hay ba vần trắc ôm một từ bằng). Sở từ, nhạc phủ cũng như thơ ca các triều đại về sau, tuy từng thể có một số đặc điểm riêng, nhưng nói chung về mặt hiệp vần cũng không ngoài ba cách nói trên.

Thơ ca ta khác thơ ca Trung Quốc ở chỗ thiên về vần lưng. Tất nhiên ban đầu cũng chưa hẳn vần gieo ở giữa câu, mà có khi: – từ cuối câu đầu hiệp vần với từ đầu câu sau, thí dụ:

Khôn cho người ta dái

Dại cho người ta thương

– Từ cuối câu đầu hiệp vần với từ thứ nhì câu sau, thí dụ:



Cơn đằng đông,

Vừa trông vừa chạy,

Cơn đằng nam,

Vừa làm vừa chơi.

– Từ cuối câu đầu hiệp vần với từ thứ ba câu sau.

Thí dụ:

Đãi cứt sáo lấy hạt dưa,

Đãi cứt gà lấy tấm mẳn.

– Có hai lối hiệp vần, sau chuyển thành hai thể thơ chính thức, thường dùng: đó là lối hiệp vần ở từ thứ 5 câu dưới, thí dụ:



Gái không chồng như nhà không nóc,

Trai không vợ như cọc long chân.

thể này sau chuyển thành thể song thất.

Lối thứ hai là lối hiệp vần ở từ thứ 4 hoặc từ thứ 6 câu sau, thí dụ:

Cái cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,

Ông ơi, ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đùng xáo nước đục đau lòng cò con…

Lối hiệp vần ở từ thứ 6, về sau trở thành thể lục bát. Lối gieo vần ở từ thứ 4 câu bát, thì thỉnh thoảng vẫn có, nhưng không phổ biến bằng lối lục bát (thường dùng).

Xem vậy, thì cách gieo vần trong thơ ca của ta cũng biến hóa qua nhiều lối, cuối cùng mới trở thành hai thể phổ biến là song thất và lục bát. Từ hai thể đó, sau này lại có những biến thể, có tính chất phá vỡ hai thể đó để trở thành những thể có tính chất co dãn hơn. Qua mấy cách gieo vần trên, chúng ta cũng có thể biết được lối thơ ca nào là lối thơ ca mô phỏng theo Trung Quốc, lối thơ ca nào là của dân tộc ta: thơ ca Trung Quốc thiên về hiệp vần ở cuối câu, còn thơ ca ta lại thiên về hiệp vân ở giữa câu.

2. Nhịp

Để phân biệt thơ ca ta với thơ ca mô phỏng theo thơ ca Trung Quốc, chẳng những cần nhận rõ sự khác nhau giữa cách gieo vần, mà còn phải nhận rõ sự khác nhau về tiết tấu trong cách ngắt nhịp. Ở đây, không nói đến các thể từ khúc của Trung Quốc và tất cả các loại dân ca của ta, mà chỉ so sánh thể hát giặm của ta với thể ngũ ngôn của Trung Quốc, thể song thất của ta với thể thất ngôn của Trung Quốc.

a. Thể hát giặm Nghệ Tĩnh phổ biến nhất là thể năm từ ngắt thành nhịp 3/2 (lẻ trước chẵn sau), thí dụ:

Họ đứng ra / diễn thuyết

Nói thật giỏi / thật hay

Thiên hạ phải / vỗ tay,

Khen ngợi tài / hùng biện.

(Vè “Người phụ nữ thành Vinh” Hát giặm Nghệ Tĩnh tập I Nhà xuất bản Khoa học–1963)

Sau này, có những bài thơ năm từ cũng làm theo thể hát giặm nói trên, thí dụ bài Mồ côi của Tố Hữu:

Con chim non / rũ cánh

Đi tìm tổ / bơ vơ

Quanh nẻo rừng / hiu quạnh

Lướt mướt dưới / dòng mưa…

Đương nhiên, trong những bài thơ mới như bài Mồ côi thì nhịp điệu đã co dãn, không cứng nhắc theo một thể nào, nhưng nhìn chung khi ngâm lên, vẫn thiên về nhịp 3/2.

Vì thể thơ ca 5 từ ngắn hơi, nên phải tinh ý mới phân biệt được nhịp thơ 3/2 của ta với nhịp thơ 2/3 của Trung Quốc. Thể thơ ngũ ngôn mô phỏng theo thơ Trung Quốc ngắt thành nhịp 2/3, chẵn trước lẽ sau, thí dụ:

Lởm chởm / vài hàng tỏi

Lơ thơ / mấy khóm gừng

Vẻ chỉ / tèo teo cành

Thế mà / cũng tang thương!

(Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều)

Thơ song thất của ta với thơ thất ngôn của Tnmg Quốc cũng khác nhau về lối ngắt nhịp.

b. Thơ song thất của ta ngắt theo nhịp 3/2/2, thí dụ:



Bến Tầm dương / canh khuya / đua khách

Quạnh hơi thu / lau lách / đìu hiu…

Trái lại, thơ thất ngôn của Trung Quốc lại ngắt theo nhịp 2/2/3, thí dụ:



Tầm dương / giang đầu / dạ tống khách

Phong diệp / địch hoa / thu sắt sắt

Chúng ta thấy rõ hai câu song thất của ta dịch hai câu thất ngôn của Bạch Cư Dị (trong bài Tỳ bà hành), nhưng đã chuyển sang nhịp điệu khác, đó là chưa nói cách gieo vần cũng khác.

Như vậy, trừ các thể thơ bốn từ (vì ngắn quá) hay các loại biến thể còn các thể như hát giặm Nghệ Tĩnh, song thất và lục bát đều thiên về lối ngắt nhịp chẵn ở sau, trái lại thơ Trung Quốc như ngũ ngôn, thất ngôn lại thiên về ngắt nhịp lẻ ở sau.

Như vậy vần và nhịp giữa thơ ca của ta và thơ ca Trung Quốc cũng có chỗ khác nhau, đấy là một điểm mà chúng ta cần chú ý khi đi tìm tính cách dân tộc qua hình thức thơ ca Việt Nam.





1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương