Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang5/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

4. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC THƠ CA TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM


Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một con đường mới cho sự sáng tạo thơ ca. Sau những năm dài sống trong cảnh nô lệ, giờ đây dân tộc ta được tự do, nhân dân ta thoát khỏi mọi xiềng xích. Cuộc sống mới đã chắp cánh cho thơ ca, dẫn thơ ca ra khỏi lối mòn heo hút của cuộc đời cũ. Lý tưởng của cả của nhà thơ là phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng. Nội dung của thơ ca không hướng về những tâm trạng cô đơn nằm trong vòng vây của chủ nghĩa cá nhân tư sản, mà bắt nguồn từ sự nghiệp lao động sáng tạo của quần chúng cách mạng.

Nội dung mới đã dẫn đến và xây dựng cho thơ ca những hình thức biểu hiện mới. Nhìn tổng quát thì xu hướng phát triển của hình thức thơ ca từ sau cách mạng tháng Tám có những điểm cơ bản như sau:

1. Quy luật hài hòa và thống nhất giữa nội dung và hình thức dần được thực hiện trong thơ ca. Ở những năm đầu của Cách mạng, các nhà thơ còn vận dụng nhiều phương tiện biểu hiện cũ.

2. Hình thức biểu hiện ngày càng có một vẻ đẹp lành mạnh, mang tính chất dân tộc và đại chúng. Truyền thống tốt đẹp của hình thức thơ ca dân tộc được phát triển. Những khuynh hướng vị nghệ thuật, hình thức chủ nghĩa, cầu kỳ, lai căng dần dần bị đào thải.

3. Nhiều phong cách mới trong thơ được phát triển. Cả tính sáng tạo được thể hiện có trong nội dung lẫn hình thức. Khuynh hướng sơ lược, dễ dãi dần được khắc phục. Tính chất sáng tạo về hình thức biểu hiện ngày càng rõ nét.

4. Sự mở rộng và giãn ra của các thể thơ. Một số hình thức thơ truyền thống được khôi phục, nhiều hình thức mới xuất hiện. Quy luật hình thức phục vụ nội dung được vận dụng triệt để làm cho hình thức phù hợp với nội dung.

Những đặc điểm trên của hình thức được biểu hiện trên nhiều mức độ khác nhau ở từng giai đoạn cách mạng và qua từng tác giả cụ thể.

Hai mươi năm qua, thơ ca ngày càng gần đời sống. Cái đẹp của cuộc sống và con người được thể hiện trong thơ. Trên cơ sở của nội dung mới, hình thức biểu hiện mới phù hợp đã ra đời.

Tuy nhiên trong những năm đầu cách mạng, thơ còn mang tính chất ước lệ và tượng trưng. Tiếng thơ lúc này như vừa mang theo những cảm hứng dạt dào của những thắng lợi trong đấu tranh cách mạng, lại cũng như còn mang theo không khí bỡ ngỡ buổi ban đầu của những con người vừa mới từ trong tăm tối choàng ra ánh sáng. Tuy có ngợi ca lý tưởng cách mạng và cuộc sống tự do với những xúc cảm mãnh liệt và chân thành nhưng thơ hồi này còn thiếu những hình ảnh cụ thể về cuộc sống mới và con người mới. Các nhà thơ còn vận dụng những hình tượng ước lệ và tượng trưng với những xúc cảm chủ quan khi ca ngợi chế độ mới. Xuân Diệu trong trường ca Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông cũng như nhiều nhà thơ khác còn dùng những phương tiện diễn tả cũ để biểu hiện những tư tưởng và tình cảm mới. Chính điều đó làm cho hình tượng thơ trở nên chung chung, kém tình gợi cảm.

Cờ bay sáng! Cờ bay hồng! Rạng rỡ!

Hỡi dân Việt! Cờ của ta vẫy đó

Tiến lên! Tiến lên! Theo sứ mạng non sông!

Cờ là ta, là dân chúng, cờ mọc tựa vừng đông.

Sống hay chết chẳng nhục dòng giống Việt.

Dân là nước, nước là ta đã quyết

Kìa sao vàng máu đỏ đã cao treo!

Một số nhà thơ như Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh… hướng sáng tác thơ ca phục vụ Cách mạng. Nhưng vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của những quan điểm siêu hình tôn giáo nên vẫn còn vương lối suy tưởng và biểu hiện cũ. Nằm giữa lòng thế kỷ, Huy Cận nghe xôn xao cuộc đời mới đang trỗi dậy trên cái cũ đang tàn tạ. Hình ảnh ngôn ngữ của câu thơ Huy Cận ở đây vẫn còn mang theo ít nhiều dấu vết của lối diễn tả tượng trưng và có phần siêu hình của thơ Huy Cận trước cách mạng.

Nằm giữa lòng thế kỷ

Nghe bay thoát lên tự lòng thế kỷ

Dòng tâm tư ấp úng buổi tiền thân

Nghe sương sống ca bài ca hùng vĩ

Của ngàn muôn thế hệ ngẩng lên dần

(Giữa lòng thế kỷ, 8-1946)

Cũng như niềm vui của Nguyễn Xuân Sanh, một niềm vui thanh thoát nhưng dàn trải trên những ý niệm mơ hồ, hình ảnh thơ được ghép lại bên nhau theo những liên tưởng chủ quan:

Ta khát vô biên ngọn sóng vang

Ta mừng hội gió lú lên đàng

Ta hát vô biên trên sách mới

Và trên thế giới được tràng giang

(Những quyển sách)

Ngôn ngữ thơ ca ở thời kỳ này còn mang nhiều tính chất ồn ào, và đôi khi sáo rỗng. Những từ mới về sinh hoạt chính trị và đời sống đã được vận dụng vào thơ ca, nhưng còn thiếu nhuần nhuyễn. Các thể thơ không có gì thay đổi đặt biệt.

Qua thực tế trên rõ ràng chúng ta thấy có một sự không phù hợp giữa hình thức và nội dung trong thơ ca. Sở dĩ có hiện tượng đó vì sự thay đổi về hình thức thường đi chậm hơn nội dung, và phần quan trọng là ở chỗ sự hiểu biết của nhà thơ về cuộc sống mới còn chưa sâu sắc; những quan điểm nghệ thuật cũ còn chi phối lối cảm nghĩ và biểu hiện của họ.

Những điểm hạn chế trên ít thấy hơn ở những nhà thơ mà sáng tác thơ ca vốn đã bắt nguồn từ hiện thực đấu tranh cách mạng thời kỳ 1930 –1945, tiêu biểu là Tố Hữu. Một số bài thơ của những tác giả không thuộc thế hệ những nhà thơ lớp trước cũng không biểu hiện rõ rệt nhược điểm trên. Thực tế đó tạo nên hiện tượng xen kẽ và cùng tồn tại trên thi đàn những hình thức thơ giản dị và trong sáng bên cạnh những bài thơ cầu kỳ, sáo rỗng ảnh hưởng của lối thơ cũ.

Từ toàn quốc kháng chiến, đi vào cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ của dân tộc, các nhà thơ đã rèn luyện và tự đổi mới rất nhiều về nội dung cũng như hình thức. Nhịp điệu phát triển kỳ diệu của cuộc chiến đấu, với vai trò tiên phong của quần chúng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu đã đặt những vấn đề quan trọng cho văn học. Quần chúng là lực lượng nòng cốt và hùng hậu của cách mạng, vậy văn nghệ có thể là một hoạt động thoát ly khỏi khối người đông đảo đó chăng? Vấn đề viết cho ai và viết như thế nào được đặt ra trực tiếp và cụ thể trong sáng tác Những cuộc tranh luận để phê phán quan điểm nghệ thuật tư sản đã nổ ra. Các văn nghệ sĩ đã đi trên con đường của cách mạng lại tiếp tục “nhận đường”, không khí văn nghệ trong những năm đầu kháng chiến thật sôi nổi lạ thường. Bước chuyển biến quan trọng đó trong tư tưởng và nội dung đã quyết định sự phát triển của hình thức văn học, đặc biệt là hình thức của thơ ca. Thơ ca, một thể loại văn học “vốn được xem là dễ thoát ly đời sống hiện thực” đã trở về làm người bạn gần gũi với quần chúng cách mạng. Chính trong giai đoạn này hình thức của thơ ca biến đổi rất mạnh mẽ. Quần chúng không phải chỉ là người thưởng thức mà còn là người nghệ sĩ sáng tạo. Tất cả đội ngũ đông đảo những nhà thơ không chuyên nghiệp và chuyên nghiệp đều có đóng góp về mặt này hay mặt khác cho hình thức câu thơ mới. Thơ tự do phát triển, thơ không vần xuất hiện, thơ báng súng trong quân đội, thơ trên báo hấp, báo tường trong xí nghiệp, hò, vè, độc tấu phổ biến khắp nơi. Thơ ca quả là nguồn động viên thực sự trong sản xuất và chiến đấu. Tuy hình thức của thơ thay đổi nhiều nhưng quy tụ ở những điểm cơ bản:

– Thơ càng ngày càng đi đến một hình thức giản dị chân thực có một vẻ đẹp lành mạnh. Những khuynh hướng vị nghệ thuật, hình thức chủ nghĩa, cầu kỳ, lai căng mất dần.

– Truyền thống tốt đẹp của các hình thức thơ ca dân tộc được khai thác và phát triển, rất phù hợp để biểu hiện nội dung yêu nước của sáng tác.

Quá trình đi đến một vẻ đẹp chân thực, giản dị trong thơ ca là một quá trình đấu tranh chống lại những xu hướng hình thức chủ nghĩa. Và chính cuộc chiến đấu gian khổ và vinh quang của dân tộc có tác dụng quyết định cho bước chuyển biến đó, đúng như Tế Hanh đã suy nghĩ về sáng tác của mình ở thời kỳ này: “Từ đầu cho đến những năm 1948 –1949 những bài thơ tôi viết phần nhiều trừu tượng xa thực tế chiến đấu của quần chúng nhân dân, cách thể hiện trí thức cầu kỳ. Thí dụ để kỷ niệm ngày vào Đảng tôi viết:

Sang bờ tư tưởng, ta lìa ta

Một tiếng gà lên, tiễn nguyệt tà.

“Năm 1950 tôi đi công tác vùng tạm bị chiếm cực Nam Trung Bộ. Chuyến đi này đối với tôi rất có ích. Sống trong một vùng gian khổ nhất của Liên khu V lúc ấy, tôi thấy có những thay đổi sâu sắc trong tình cảm của mình. Bài thơ khá nhất tôi viết lúc này là bài Người đàn bà Ninh Thuận. Đó cũng là bài thơ đáng ghi nhớ trong đời làm thơ của tôi”.

Thơ ca kháng chiến đã để lại nhiều sáng tác có giá trị, chân thực và phong phú về nội dung, giản dị trong sáng về hình thức. Hình ảnh và ngôn ngữ thơ ca ở đây thật là gần gũi, thân thuộc như chính cuộc sống ta vẫn gặp đây đó hằng ngày. Hình ảnh người chiến sĩ ngoài mặt trận, người dân công, bà mẹ kháng chiến, người nữ du kích, em bé liên lạc đều được ghi đậm nét trong thơ ca kháng chiến. Tình quân dân, tình đồng đội trong chiến đấu, tình đồng chí, đồng bào đoàn kết yêu thương, như những sợi tơ vàng ràng buộc lấy nhau. Thơ ca kháng chiến cũng khẳng định những tiêu chuẩn thẫm mỹ mới về nghệ thuật biểu hiện. Trong những năm đầu kháng chiến, những rơi rớt cũ của chủ nghĩa hình thức, duy mỹ, vẫn còn dấu vết trong một số bài thơ như Ngày về của Chính Hữu, Tây tiến của Quang Dũng. Tính chất “anh hùng cá nhân” và màu sắc tiểu tư sản trong những bài thơ này thường được diễn đạt bằng một hình thức cầu kỳ với những từ hào nhoáng và sáo rỗng như “mê vận hội”, “kiều thơm”, “nợ anh hùng”, “giày vạn dặm”, “bụi trường chinh”, “gót lưu ly”, “trấn ngự”, “oan cừu, “nguy nga”, “huy hoàng”, “dung nhan”. Thơ ca kháng chiến luôn khai thác và phát triển truyền thống thơ ca dân tộc về nội dung cũng như về hình thức. Ca dao kháng chiến phát triển nhiều, diễn ca được vận dụng với mức độ nghệ thuật khá điêu luyện. Các nhà thơ đã khéo kết hợp tính hiện đại với nếp cảm nghĩ của dân tộc, lấy hơi thở của Kiều, Chinh phụ ngâm, ca dao dân ca, vận dụng vào thơ của mình. Hình ảnh thơ gần gũi quen thuộc, ngôn ngữ của thơ giàu nhạc điệu truyền thống. Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là kết tinh những ưu điểm đó. Chủ nghĩa yêu nước anh hùng được biểu hiện cụ thể qua những xúc cảm tiêu biểu và những hình trong nhân vật đẹp, nhất là các nhân vật phụ nữ, từ người phụ nữ trong Phá đường, bà mẹ trong Bà bủ, Bầm ơi, đến cô gái tượng trưng trong Việt Bắc.

Chúng ta bắt gặp trên những trang thơ hình ảnh những người chị, người mẹ đảm đang việc nhà việc nước, cần cù lao động, giàu lòng yêu thương người, có nhiều đức tính cổ truyền và lối cảm nghĩ của người phụ nữ Việt Nam.

Thành công của tập Vệt Bắc không phải là một điều ngẫu nhiên mà gắn liền với cả quá trình sáng tác của Tố Hữu từ trước cách mạng. Tố Hữu đã chín tự Từ ấy hay nói đúng hơn thì hồn thơ Tố Hữu đã hòa nhịp với bước đi của thời đại từ ngày nhà thơ bước vào đời hoạt động Cách mạng. Tố Hữu không chịu chung quy luật chín lại với thực tế mới của một nhà thơ lớp trước, và đã vượt qua được bước sôi nổi ban đầu nhưng còn chưa vững chắc của lớp nhà thơ mới lớn lên với Cách mạng tháng Tám. Bên cạnh những sáng tác của Tố Hữu, tính cách dân tộc cũng được biểu hiện đậm đà trong nhiều sáng tác thơ của thời kỳ này như Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Người đàn bà Ninh Thuận của Tế Hanh, Lên Cấm Sơn của Tân Sắc, Thăm lúa của Trần Hữu Thung, Một cuộc hành quân của Khương Hữu Dụng, Kể chuyện Vũ Lăng của Anh Thơ, Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông, Viếng bạn của Hoàng Lộc, Nhớ của Hồng Nguyên, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ. Tú Mỡ với tập Nụ cười kháng chiến đã phát huy được bản sắc dân tộc trong nội dung đả kích cũng như trong hình thức biểu hiện của loại thơ trào phúng, châm biếm.

Thơ ca kháng chiến có một vẻ đẹp chân thực, giản dị hồn nhiên, nhưng chưa phong phú, đa dạng. Phong trào thơ có chiều rộng, nhưng chưa có chiều sâu, có những thành tựu đang kể nhưng chưa đều. Hình tượng trong thơ nhiều lúc còn đơn giản sơ lược. Các nhà thơ lớp trước đang chín dần lại trong thực tế mới. Con tằm ăn lá của cây đời xanh tươi đã bắt đầu nhả kén nhưng chưa chín rộ mùa tơ. Quá trình tích luỹ vốn sống mới, xúc cảm và thi tứ mới là một quá trình thật phức tạp, diễn biến theo quy luật hài hòa giữa lý trí và tình cảm, theo quy luật lượng biến thành chất với độ chín của tâm hồn. Tế Hanh viết được vài bài thơ hay nhưng anh cũng phải nhận rằng:

“Sự mò mẫm của tôi có thể nói kéo dài trong suốt cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp”.

Huy Cận viết được rất ít nếu so với chặng đường thơ sau này, và tác giả đã giải thích:

“Trong cái thế giới xúc cảm của tôi lúc bấy giờ chưa thật nảy nở những yếu tố xúc cảm mới. Mà trong việc sáng tác thơ thì tư tưởng phải nhào nặn với xúc cảm thành một trạng thái tâm hồn duy nhất, thôi thúc thì mới sinh ra tác phẩm được”.

Tập Gửi các anh của Chế Lan Viên giàu chất sống thực và rạo rực lửa chiến đấu nhưng còn thiếu chiều sâu của sức sáng tạo. Xuân Diệu cũng chịu sự chi phối chung của quy luật đó tuy anh có viết được nhiều hơn.

Từ một quan niệm nghệ thuật có tính chất thoát ly trở về gắn bó với cuộc sống thực tế chiến đấu và sản xuất, từ chỗ xem nghệ thuật là sản phẩm tinh thần mầu nhiệm của một thiểu số người đến chỗ xem nghệ thuật là món ăn tinh thần của quần chúng cách mạng –quá trình chuyển biến ấy không diễn ra một cách thuần nhất mà có lúc đi từ cực này sang cực khác. Hiện tượng sơ lược và dễ dãi trong sáng tác thơ ca cũng đã từng xảy ra với các nhà thơ lớp trước, những tác giả vốn được xem là có “nghệ thuật già dặn”.

Trở lại với trường hợp các nhà thơ lớn lên với Cách mạng tháng Tám, chúng ta lại thấy có những biểu hiện khác biệt. Họ không đi theo chặng đường “chín lại với thực tế mới” mà đi theo chặng đường “lớn lên với thực tế mới”. Hai chặng đường thơ đó cũng dẫn về một nẻo đường chung. Trong thời gian kháng chiến Nguyễn Đình Thi viết được nhiều bài về hình ảnh người chiến sĩ và cuộc chiến đấu của dân tộc. Tập thơ Người chiến sĩ rất mới về hình thức. Cái mới ở đây có lúc còn mang tính chất của một thể nghiệm. Nguyễn Đình Thi đã không bị ràng buộc theo một định lệ hoặc thói quen nào về những nguyên tắc cách luật trong thơ ca, nhưng tác giả vẫn biết giữ đúng những quy luật về hình thức. Phần lớn những bài thơ trong Người chiến sĩ đều là thơ tự do. Nhịp điệu thơ linh hoạt và thanh thoát, hình ảnh được chọn lọc, tứ thơ lắng đọng mà không dàn trải. Về hình thức thơ Nguyễn Đình Thi đã từ thơ tự do phát triển đến thơ không vần và cũng gây nên nhiều ý kiến trao đổi. Thực ra vần vẫn là một lợi khí, một phương tiện biểu hiện có hiệu quả của thơ song chịu sự gò bó của vần điệu lại cần tránh. Nguyễn Đình Thi có thể có căn cứ khi bài thơ không vần đến được cái đích sáng tạo cuối cùng là có được bài thơ hay.

Một số nhà thơ khác như Hoàng Trung Thông, Quang Dũng, Chính Hữu, Vũ Cao, Trần Hữu Thung, Khương Hữu Dụng, Minh Huệ, đều có những đóng góp. Điều đặc biệt là một số nhà thơ đã có bài thơ hay ở vào đỉnh cao của cuộc đời sáng tác. Chúng ta nhớ đến Hoàng Trung Thông với Bao giờ trở lại và Bài ca vỡ đất, Quang Dũng với Tây Tiến, Hoàng Cầm với Bên kia sông Đuống, Minh Huệ với Đêm tay Bác không ngủ, Trần Hữu Thung với Thăm lúa, Khương Hữu Dụng với Một cuộc hành quân, Nông Quốc Chấn với Dọn về làng… Đôi lúc nói đến thơ ca thời kháng chiến chúng ta từ tác giả nhớ đến phong trào. Những nhà thơ lớp nước đang nằm trong hoàn cảnh chuyển biến và xây dựng cho mình một phong cách mới. Những nhà thơ lớn lên với Cách mạng tháng Tám nằm trong trường hợp đang hình thành phong cách.

Nói rộng ra, toàn bộ thơ ca kháng chiến là một phong cách lớn trong đó, mỗi nhà thơ, đã đóng góp phần sáng tạo của mình.

Và phong cách sáng tạo đó, qua những bút pháp tiêu biểu được phát triển đến cao độ vào những năm mà nhân dân ta bước vào cao trào xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.

Suy nghĩ về quá trình sáng tác của mình từ sau Cách mạng, Huy Cận đã nghĩ nhiều đến năm 1958, cái năm mà ở tâm hồn thơ của tác giả, một giọt nước cuối cùng đã làm tràn một chiếc bình đầy: “Cuộc đi thâm nhập vùng mỏ ấy đã đẩy mạnh cả quá trình xúc cảm trước đây và đưa đến ngày khai hoa kết quả có tính chất hàng loạt: tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng. Tiếp theo đó tiếp tục ra hai tập Đất nở hoa và Bài thơ cuộc đời”.

Cũng trong khoảng thời gian từ 1958 đến 1965. Xuân Diệu cho ra đời liên tiếp các tập thơ: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau và Cầm tay (1962), Một khối hồng (1964). Nhiều tập thơ khác cũng lần lượt xuất hiện. Tế Hanh với các tập Lòng miền Nam, Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương. Chế Lan Viên với Ánh sáng và Phù sa. Nguyễn Đình Thi với Bài thơ Hắc Hải. Hoàng Trung Thông với Đường chúng ta đi và Những cánh buồm v.v… Ngoài ra chúng ta còn có hàng loạt những tập thơ xuất bản trong thời gian này của nhiều nhà thơ như Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Hổ, Nguyên Hồng, Bàng Sĩ Nguyên, Trinh Đường, Minh Huệ, Khương Hữu Dụng, Hằng Phương, Xuân Hoàng, Đào Xuân Quý, Vĩnh Mai…

Hàng loạt tác phẩm thơ ca ra đời đánh dấu một bước trưởng thành mới của thơ ca và cũng là một hiện tượng chưa từng có trong thi ca thời kỳ hiện đại. Đó không phải là thành tựu có tính chất ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình tích lũy và chuyển biến trong mười năm Cách mạng về tình cảm, tư tưởng, vốn sống và kỹ thuật biểu hiện.

Hiện tượng văn học đó chứng minh rằng các nhà thơ lớp trước thực sự đã chín lại trong thực tế mới với những thay đổi có tính chất chất lượng trong quá trình sáng tạo và cũng chứng minh rằng các nhà thơ lớn lên với Cách mạng và kháng chiến đã trưởng thành và có một đội ngũ khá đông đảo.

Kết quả của bước trưởng thành tốt đẹp đó là sự ra đời của những phong cách thơ, với bản chất sáng tạo riêng về nội dung cũng như hình thức. Thực ra thì nhiều phong cách đã hình thành lại thay đổi và phát triển.

Sau Việt Bắc, Tố Hữu lại viết tiếp Gió lộng. Từ Từ ấy đến Viết Bắc, và đến Gió lộng. phong cách thơ của Tố Hữu đã phát triển qua nhiều chặng đường thơ.

Cảm hứng chủ đạo trong thơ ca Tố Hữu luôn gắn liền với những sự kiện tiêu biểu trong đời sống dân tộc. Sức lôi cuốn mạnh mẽ của lý tưởng luôn ở tầm cao của thời đại và ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu, với một tình yêu đằm thắm thiết tha, luôn nâng niu và ca ngợi cái đẹp chân chính của cuộc đời đã đem đến cho thơ Tố Hữu những phẩm chất đặc biệt. Thơ Tố Hữu kết hợp sâu sắc giữa phổ cập và nâng cao, giữa truyền thống dân tộc và tính hiện đại, giữa sự chân thật, giản dị và khả năng sáng tạo phong phú, giữa tình và ý với lời và điệu. Từ Từ ấy đến Gió lộng, phong cách thơ của Tố Hữu ngày càng mở rộng, nâng cao, đón lấy tất cả vẻ đẹp và sinh lực dồi dào của đời sống. Tầm tư tường và sức khái quát trong thơ Tố Hữu ngày càng gắn bó và dựa trên những hình ảnh và tâm trạng cụ thể của con người trong cuộc sống chiến đấu và sản xuất.

Chế Lan Viên đã tiến một bước dài từ Gửi các anh đến Ánh sáng và Phù sa. Với Ánh sáng và Phù sa thơ của anh nghiêng về thế giới của nội tâm và xúc cảm. Anh tìm đến và khẳng định cái mới, cái hiện tại trong sự liên tưởng và đấu tranh để đẩy lùi cái cũ, cái quá khứ. Thơ của anh có sức gợi cảm, tứ thơ thiết tha đằm thắm nhưng đôi lúc còn ngậm ngùi, cô đơn Thơ của Chế Lan Viên có nhiều xúc cảm và suy nghĩ, hình tượng thơ giàu tính chất sáng tạo, với những liên tưởng và so sánh mới lạ. Từ sau Ánh sáng và Phù sa, câu thơ của anh ngày càng chở nặng những suy nghĩ, sâu sắc mà thanh thoát tự nhiên.

Huy Cận trước Cách mạng nhạy cảm với cái buồn tủi và cô đơn của một tâm hồn đau khổ. Hôm nay tiếng thơ của anh là lời ca nhân hậu, gắn bó thiết tha với cuộc đời mới. Thơ của Huy Cận lại thêm một lần khởi sắc, chín chắn mà tươi trẻ, hài hòa giữa trí tuệ và tình cảm, giữa hình ảnh của một cuộc đời thực với lý tưởng bay bổng lãng mạn. Nhịp điệu của thơ Huy Cận thường ngân vang đều đặn trong khuôn khổ của các thể thơ cách luật và đôi khi mở rộng theo tầm suy nghĩ trên những mạch thơ văn xuôi. Thơ Huy Cận còn thiếu cái da diết và mãnh liệt Hình thức của câu thơ Huy Cận ít thay đổi và phát triển.

Từ sau Cách mạng, Xuân Diệu viết khá nhiều và luôn luôn chịu tìm tòi sáng tạo. Thơ Xuân Diệu giàu nhiệt tình cách mạng, luôn thiết tha với cuộc sống mới. Tứ thơ của anh rất động. Câu thơ của Xuân Diệu như đang đổi, đang phá, đang mở rộng, đào sâu về nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Thơ của anh có phần ổn định bên cạnh cái chưa ổn định, có chất kim ngời sáng lẫn bên chất quặng thô sơ. Thơ của Xuân Diệu còn thiếu một sự hòa điệu nhịp nhàng về nội dung cũng như hình thức.

Tiếng thơ của Tế Hanh là tiếng nói thiết tha, đầm ấm của tình cảm. Tế Hanh đã thành công trong nhiều bài thơ viết về đề tài đấu tranh thống nhất. Tình cảm trong thơ Tế Hanh không đơn điệu, mà vận động qua nhiều trạng thái với nhiều màu sắc dưới ánh sáng của lý tưởng mới. Tình cảm trong thơ Tế Hanh không hạn chế khả năng phản ánh hiện thực. Tuy nhiên thơ Tế Hanh cần thêm chất suy nghĩ; trong dòng tình cảm cần có một nguồn mạch của tư duy để vượt lên cái nông nhẹ của một tứ thơ dàn trải.

Thơ Nguyễn Đình Thi có sức gợi về tình cảm và hình ảnh tuy hơi thơ của anh nặng về lý trí. Sự chắt lọc những hình ảnh và cảm xúc tiêu biểu với khả năng hiểu biết và linh hoạt của lý trí đã đem lại cho thơ Nguyễn Đình Thi vẻ đẹp riêng. Thơ của Nguyễn Đình Thi tập trung về hình ảnh, và cảm xúc; ngôn ngữ và kết cấu trong thơ cân đối chặt chẽ (Bài thơ Đất nước và Bài thơ Hắc Hải). Song thơ của Nguyễn Đình Thi còn thiếu chất say mê tự nhiên của bản năng, và sự bồi đắp của cuộc đời màu mõ, nên có những tứ thơ khô khan và gò bó.

Hoàng Trung Thông từ Đường chúng ta đi đến Những cánh buồm đã tự khẳng định cho mình một phong cách sáng tạo nghệ thuật, thơ của anh chắc và khỏe, giàu chất sống thực tế. Khởi điểm của Hoàng Trung Thông là hiện tại, anh ít nói đến quá khứ và cũng không ngậm ngùi với quá khứ. Nhưng thơ anh cũng chưa nói lên được những cái gì thuộc về tương lai. Thơ của Hoàng Trung Thông còn thiếu chất say mê đằm thắm. Chúng ta có thể kể thêm nhiều nữa về phong cách sáng tạo của các nhà thơ Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Lưu Trọng Lư, Giang Nam, Thanh Hải, Khương Hữu Dụng, Anh Thơ, Phạm Hổ, Trần Hữu Thung, Trinh Đường, Huyền Kiêu… Mỗi nhà thơ trên đều có đức tính thơ đáng quý. Nông Quốc Chấn chất phác và nồng hậu. Bàn Tài Đoàn hồn nhiên, chân tình, Lưu Trọng Lư sôi nổi thiết tha. Trần Hữu Thung mộc mạc mà tươi tắn, chọn lọc. Trinh Đường trăn trở, tìm tòi. Nguyên Hồng rạo rực suy tưởng. Phạm Hổ băn khoăn, sáng tạo. Minh Huệ giản dị, chín chắn. Anh Thơ luôn nhẹ nhàng, cởi mở trong cảm xúc thơ v.v…

Sự hình thành của những phong cách thơ là một bước trưởng thành của thơ Việt Nam từ sau cách mạng về nội dung cũng như hình thức. Có được thành tựu đó là do sự tích lũy lâu dài và rèn luyện nghiêm chỉnh về tư tưởng và tình cảm, về vốn sống và kỹ thuật biểu hiện…

Cuộc kháng chiến lần thứ hai của dân tộc nổ ra sau mười năm ngày kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhân dân ta với tấm lòng yêu nước thiết tha, với truyền thống kiên cường bất khuất, với tinh thần dũng mãnh xốc tới, lại bước vào đảm nhận một nhiệm vụ lịch sử hết sức vẻ vang. Là đoàn quân xung kích, là mũi nhọn tiến công, là điểm tựa lịch sử, chúng ta đang đập tan ý chí xâm lược, làm sụp đổ âm mưu của kẻ thù hung bạo nhất của thời đại. Những sự kiện đẹp đẽ, những tấm gương dũng cảm, những con người đáng yêu hàng ngày đang xuất hiện trên mảnh đất thân yêu của dân tộc. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đang vươn lên những đỉnh cao rực rỡ, với một nội dung vô cùng phong phú, có một sức động viên cổ vũ lớn lao. Những gì tốt đẹp của một truyền thống vẻ vang và nối tiếp trên một giai đoạn mới cao hơn, trên nền của mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đã mở ra một chặng đường mới cho sự phát triển của thơ ca. Ngay từ giờ phút đầu của cuộc chiến đấu, mỗi nghệ sĩ đã nhận thức được trách nhiệm của mình đối với dân tộc, với thời đại trong giờ phút thiêng liêng nhất của lịch sử. Tiếng súng chống Mỹ bùng nổ thì lời thơ ca ngợi và cháy bỏng căm thù cũng vang lên một nhịp; thơ ca phát huy được tính chiến đấu kịp thời và tính thời sự nhạy bén. Trên tuyến lửa của lòng căm thù, và trong chiều sâu của mỗi trái tim yêu nước thơ ca có mặt ở khắp mọi nơi. Miêu tả nhiều mặt khác nhau của đời sống, từ một trận chiến đấu chống máy bay đích đến xây dựng một cây cầu, từ người lái xe ngoài trận địa đến cô du kích trên mảnh đất xanh tươi của ruộng đồng, từ niềm vui trong chiến đấu đến phút chia ly quyến luyến yêu thương. Ba năm chống Mỹ đã khẳng định được những thành tựu bước đầu của một giai đoạn phát triển mới trong thơ ca. Không phải chỉ có một hai tác giả, một vài tác phẩm, mà có cả một nền thơ nhiều màu sắc, nhiều phong cách với sự tham gia của nhiều lực lượng.

Thơ chống Mỹ cứu nước đã biểu hiện sâu sắc tư tưởng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Một khí thế mới thấm đượm dạt dào trong thơ ca. Đó là lòng tự hào về truyền thống của quá khứ, về thắng lợi của hiện tại và niềm tin vào tương lai. Thơ chống Mỹ cứu nước là khúc ca chiến thắng, chất thơ quyện hòa cùng chất thép, niềm lạc quan cách mạng vượt lên những tổn thất đau thương. Không có những hạn chế trong tư tưởng như thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Pháp, hoặc ít nhiều trong thơ ca đấu tranh thống nhất đất nước những năm hòa bình. Thơ chống Mỹ cứu nước mang lý tưởng cao đẹp giàu tính chiến đấu, chân thực nhưng không tự nhiên thô sơ, nói đến tổn thất chia ly nhưng không ngậm ngùi bi lụy, luôn khẳng định niềm tin và mơ ước nhưng không phiêu lưu ảo tưởng.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng như nội dung chủ yếu, như cảm hứng chủ đạo, đã được khai thác và biểu hiện với nhiều sắc thái phong phú. Có thể có những góc độ nhìn ngắm và cách cảm thụ khác nhau, nhưng rõ ràng tất cả đều hướng về một mục tiêu duy nhất. Chủ nghĩa yêu nước được nâng cao hơn trên nền của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở giai cấp đã tạo nên chiều sâu trong tình cảm và sự sắc sảo trong nội dung quan điểm dân tộc.

Nỗi băn khoăn chung của các nhà thơ là làm sao biểu hiện cho được tính cách và tâm hồn con người Việt Nam trong thời điểm lịch sử vẻ vang nhất, làm sao nói lên được những sợi dây ràng buộc vừa cụ thể vừa vô hình giữa quá khứ và hiện tại, giữa hiện tại và tương lai, giữa cuộc đấu tranh của dân tộc ta và bước phát triển chung của thời đại. Chất tư tưởng trong thơ ca có khi vút lên những cảm hứng hào hùng về dân tộc và nhân dân ta, có khi dừng lại ở sự ca ngợi cụ thể những tấm gương dũng cảm quên mình trong nhiệm vụ. Bên cạnh những bài thơ viết về những điển hình người thật việc thật như Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, chị Trần Thị Lý, bà mẹ Suốt.. chúng ta có những bài thơ về những kiểu người trên từng trận tuyến đấu tranh, anh chiến sĩ cao xạ, chiến sĩ công binh, chị nữ du kích, hoặc có nhà thơ muốn khái quát lên trong sáng tác thơ hình tượng chung về đất nước và nhân dân anh hùng.

Thơ chống Mỹ, cứu nước thể hiện khá rõ nét sự vươn tới kết hợp giữa hiện thực và lý tưởng, giữa cái bình thường và cái vĩ đại giữa cái chung và cái riêng, giữa hiện thực và lãng mạn, v.v… Những phạm trù trên vốn luôn luôn có mặt trong thơ trong những tương quan đối lập và hài hòa, nhưng không phải bao giờ cũng có được sự hòa điệu. Trong thơ ca thời kỳ trước cách mạng có những mặt tưởng như vĩnh viễn đối lập nhau. Cách mạng đã đem lại những cơ sở hiện thực và cách nhìn biện chứng để nhà thơ có thể thấy được sự thống nhất bên trong giữa các phạm trù đó. Đó là về nguyên lý và tính khả năng; trong thực tế phát triển của thơ ca ít nhiều vẫn có sự so le trong một lúc nào đó. Thơ chống Mỹ cứu nước đã liên kết được và vươn tới sự hài hòa thống nhất giữa hiện thực và lý tưởng, bình thường và vĩ đại, chung và riêng.

Từng ngày lý tưởng đang trở thành hiện thực và cũng từng ngày hiện thực chắp cánh cho lý tưởng bay thêm cao thêm xa. Một thực tế rất vĩ đại mà cũng rất cụ thể của cuộc chiến đấu đi vào trong thơ tạo thành cái nền vững chắc nhưng vẫn trong trẻo ý thơ. Nhưng cũng từ thực tế đó đang lồng lộng bay lên lý tưởng và những ước mơ cao đẹp. Những nhà thơ lớp trước, cũng như những cây bút trẻ, luôn chú ý bồi đắp cho thơ của mình chất thực của đời sống và chất thơ của lý tưởng. Xuân Diệu chú ý đưa chất sống thực vào trong thơ. Hoàng Trung Thông lại từ cái nền của hiện thực mà đẩy tứ thơ đi xa bay bổng. Tố Hữu, Huy Cận qua cái chung vẫn bộc lộ một cái riêng sâu sắc Xuân Diệu, Chế Lan Viên có lúc bắt đầu từ cái riêng để tìm đến một cái chung phổ biến.

Thơ chống Mỹ cứu nước thừa kế và phát triển được truyền thống tích cực của thơ ca cách mạng miền Nam.

Chất anh hùng ca và cảm xúc trữ tình đằm thắm thiết tha trong mạch thơ của Giang Nam, Thanh Hải, Thu Bồn, Lê Anh Xuân lại thấy lại đây đó trong thơ ca chống Mỹ cứu nước. Thật cũng khó để phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa thơ ca cách mạng miền Nam và thơ chống Mỹ cứu nước ở miền Bắc nếu không chú ý đến sự khác nhau về mặt đề tài và phong cách sáng tạo của từng tác giả. Một mặt khác, thơ đấu tranh thống nhất đất nước và thơ đả kích Mỹ–ngụy những năm trước cũng đã trực diện đánh thẳng vào kẻ thù. Tất cả những điều kiện trên đã chuẩn bị để cho thơ ca bước vào những năm chống Mỹ cứu nước đạt được những thành tựu xuất sắc.

Tố Hữu vẫn giữ vững và phát triển những nét chủ đạo của một phong cách thơ truyền thống, giữ vững nhịp hài hòa giữa các mặt đối lập trong cấu tứ, nhưng rõ ràng chất suy nghĩ và cách đặt vấn đề sâu sắc luôn mài giũa cho tứ thơ có góc cạnh hơn. Tố Hữu vẫn sử dụng các thể thơ dân tộc và các hình thức biểu hiện quen thuộc với Mẹ Suốt và những bài thơ xuân, nhưng một mặt lại rất mới trong cấu tứ nội dung và hình thức với Emily con. Hoa ngày thường và chim báo bão của Chế Lan Viên đã khẳng định bước phát triển mới của một phong cách thơ. Từ thung lũng đau thương về với cánh đồng vui, Chế Lan Viên đã biểu hiện sâu sắc chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thơ. Chất trí tuệ và suy tưởng được bồi đắp và nâng lên làm trung tâm chú ý của hình tượng thơ. Bên cạnh những tứ thơ thanh thoát có màu sắc và cảm xúc, hình tượng thơ của Chế Lan Viên không khỏi nhiều lúc rơi vào sự khô khan của lý trí. Hoa ngày thường và Chim báo bão có nhiều bài thơ giá trị. Xuân Diệu qua Hai đợt sóng vẫn giữ được hơi thở khỏe khoắn với những cảm xúc khá dồi dào trên nhiều đề tài mở rộng. Muốn chống lại căn bệnh thi vị và lý tưởng hóa trong thơ, Xuân Diệu đề xướng một phương hướng tích cực: tăng cường chất sống thực tế vào trong thơ. Từ Một khối hồng đến Hai đợt sóng, Xuân Diệu đang cố gắng khẳng định bằng thực tiễn sáng tác những quan niệm mình đề xướng, nhưng trong sáng tác của Xuân Diệu nhiều khi còn lẫn lộn giữa cuộc sống thực có góc cạnh với những chất liệu tự nhiên thô sơ. Những dấu hiệu mới đã đến trong thơ Tế Hanh với Khúc ca mới. Không phải chỉ là tiếng hát của con tim đang xúc động mở tứ thơ đã được mở rộng với những suy tưởng. Có những phần thành công và có những bài còn non yếu. Những bài thơ chống Mỹ của Huy Cận giàu chất sống thực và có nhiều suy nghĩ sâu sắc. Không khỏi có lúc tác giả rơi vào sự kể lể của văn xuôi và nông nhẹ về cảm xúc nhưng chưa bao giờ mạch thở của Huy Cận lại dạt dào và khỏe khoắn như hiện nay. Hình thức thơ Huy Cận cũng thay đổi và có nhiều màu sắc biểu hiện linh hoạt. Huy Cận có những đóng góp trong phần thơ viết cho các em. Hai bàn tay em có nhiều bài hay. Cùng với sáng tác thơ của một tài năng trẻ tuổi, em Trần Đăng Khoa, và những bài thơ dí dỏm vui tươi của một cây bút trào phúng lão thành, nhà thơ Tú Mỡ, thơ thiếu nhi thêm đà khởi sắc và có nhiều hứa hẹn.

Chính Hữu với tập Đầu súng trăng treo đã tự xây dựng cho mình những nét riêng của một phong cách thơ. Hình ảnh trong thơ Chính Hữu vừa mang tính chất khắc họa tạo hình vừa ẩn kín tâm tư biểu hiện. Cảm xúc như lùi về phía sau có lúc khô lạnh, nhưng cũng có khi sâu xa lắng đọng. Tính hàm xúc của ngôn ngữ, mạch ngắt ngắn và khỏe của nhịp điệu đã tạo nên một hình thức phù hợp với nội dung. Đầu súng trăng treo tập hợp mười lăm năm thơ Chính Hữu, nhưng những bài thơ chống Mỹ của tác giả trong không khí cả nước lên đường vẫn là những bài có khí thế hơn cả. Từ Những cánh buồm đến Đầu sóng, Hoàng Trung Thông đã cố gắng đẩy sức sáng tạo vượt lên phía trước. Luôn gắn chặt với thực tế chiến đấu và sản xuất nhưng đồng thời trí tưởng tượng đã đưa tứ thơ đi xa hơn. Nông Quốc Chấn vẫn nhạy bén với dòng thời sự. Vừa hồn nhiên chất phác, lại vừa liên tưởng khái quát, Nông Quốc Chấn đã giữ cho những ý thơ có màu sắc riêng tươi tắn. Sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của toàn dân đã đem lại nhiều cảm hứng rất mới lạ làm cho ngọn lửa đang bùng cháy trong tâm hồn mỗi nhà thơ có thêm ánh sáng mới xiết bao rữc rỡ. Lưu Trọng Lư với Người con gái sông Gianh, Anh Thơ với Hoa dứa trắng, Nguyễn Xuân Sanh với nhật ký Quê biển, đều đánh dấu những cố gắng mới trong quá trình sáng tác của mỗi người. Thơ của Lưu Trọng Lư giàu chất cảm xúc và chất thơ nhưng còn xưa cũ trong nội dung cũng như trong hình thức. Hoa dứa trắng của Anh Thơ vẫn còn những tứ thơ dàn trải nhưng rõ ràng so với Đảo ngọc thì giàu chất sống thực và những cảm xúc chân thực và mạnh mẽ hơn. Xuân Hoàng, Trinh Đường, Minh tuệ, Nguyễn Viết Lãm, Huyền Kiêu, Lương An, Nguyễn Hải Trừng, Tân Trà đều có nhiều cố gắng đáng kể…

Điều đáng chú ý của ba năm thơ chống Mỹ là sự có mặt của một lực lượng mới hết sức tươi trẻ. Một nguồn thi tứ lớn lao của thời đại đã khởi dậy những cảm xúc thi ca ở mọi người, nhất là lớp thanh niên đang ngày đêm có nặt trên những trận tuyến của cuộc chiến đấu. Bến cạnh những tác giả quen thuộc, trên báo chí luôn xuất hiện những bài mang tên tuổi mới. Những bài thơ này có nhiều dấu hiệu của tài năng nhưng đúng hơn là mang một tâm hồn thơ chứa chan hoài bão và thi vị. Phần lớn thơ của lực lượng trẻ đều giàu cảm xúc, những cảm xúc chân thực và tươi trẻ. Một niềm vui trong chiến đấu, một kỷ niệm riêng tươi đẹp, những vết thương nhức nhối và cháy bỏng căm thù, một cái nhìn nên thơ về cuộc sống… đều là khởi điểm của một tứ thơ. Ít bị ràng buộc bởi những ước lệ khuôn sáo, cảm xúc không bị cứng lại và gò theo lý trí, thơ của lớp trẻ thanh thoát niềm vui và rộn ràng xáo động trong ước mơ và kỷ niệm. Tuy nhiên ở mỗi người còn chưa thể hiện rõ một cách nhìn, một tầm suy nghĩ, một lối riêng cảm thụ, một kỹ xảo đi về quen thuộc như những nhà thơ lớp trước. Có những cây bút khá sắc sảo như Thái Giang, giàu kỷ niệm như Lưu Quang Vũ, nhiều liên tưởng như Bằng Việt… Có thể kể thêm nhiều người khác như Xuân Quỳnh, Nguyễn Xuân Thâm, Phạm Ngọc Cảnh, Văn Thảo Nguyên, Hoàng Hưng, Ngô Văn Phú… Chưa có thể ai đoán định được rõ rệt bước phát triển ngày mai của mỗi người. Tầm suy nghĩ, vốn sống, ngọn lửa đốt cháy bên trong của tâm hồn thơ, tất cả những yếu tố đó nếu được bồi đắp mãi lên thì rõ ràng trong một tương lai không xa, chúng ta có được những tài năng đáng quý.

Ba năm thơ chống Mỹ cứu nước, chặng đường mới trong thơ đang phát triển. Cần quan tâm hơn nữa đến chiều sâu tâm trạng, cần nâng cao tính hiện đại trong thơ và phát huy sắc thái linh hoạt, phong phú của từng phong cách. Chưa thể có một cái nhìn sâu sắc và trọn vẹn về phong trào nhưng trên cái xu thế biện chứng của những thành tựu hôm nay chúng ta có thể khẳng định rằng thơ chống Mỹ cứu nước là một giai đoạn phát triển đặc biệt của thơ ca Việt –nam, với nhiều thành tựu rất tốt đẹp.

Một hiện tượng khá đặc biệt trong ba năm thơ chống Mỹ cứu nước là sự có mặt của tập Thơ Hồ Chí Minh (1967). Tập thơ của Bác toát lên phẩm chất và cốt cách cao cả của vị lãnh tụ suốt đời phấn đấu cho quyền lợi dân tộc. Tác dụng giáo dục, động viên của nội dung tư tưởng được nói lên qua những tứ thơ thanh thoát và hình ảnh chân thực gần gũi. Thơ Hồ Chí Minh là một hiện tượng rất đáng quý của nền thơ cách mạng, có tác dụng giáo dục và cổ vũ rất lớn đối với nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

Thơ Sóng Hồng tập hợp những bài thơ viết trong vòng bốn mươi năm của đời hoạt động cách mạng, tầm nhìn xa, tầm suy nghĩ rộng và tính chiến đấu cao. Bài tựa của Sóng Hồng có một giá trị và ý nghĩa tích cực trong việc khẳng định vị trí chức năng và đặc biệt là tính cách tân sáng tạo trong thơ.

***


Từ sau Cách mạng, nhiều thể thơ được sáng tạo và phát triển, câu thơ mở rộng, giãn ra và trong một số trường hợp bị phá vở về cấu trúc để nâng cao hơn khả năng biểu hiện.

Thể thơ tự do ngay từ những năm đầu Cách mạng và kháng chiến đã được vận dụng khá phổ biến để nói lên cái sục sôi, mãnh liệt của Cách mạng và của kháng chiến. Thơ tự do trong thời kỳ này có chỗ khác với một số bài thơ tự do của thời kỳ thơ mới. Thơ tự do ở giai đoạn trước nhiều lúc mang tính chất sắp đặt chủ quan của nội dung. Qua thơ tự do ở thời kỳ này, nội dung phong phú và sức sống mãnh liệt của con người và chế độ mới như tuôn chảy ra theo từng dòng chữ trên từng trang sách; nó quyết định cách ngắt nhịp của câu thơ Nhớ máu và Tình đất nước của Trần Mai Ninh, Hải Phòng 19–11–1946 của Trần Huyền Trân, Nhớ của Hồng Nguyên, Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông. Tố Hữu trong Từ ấy nhìn chung chưa viết thơ tự do. Có những mạch thơ phóng khoáng trong các bài Tiếng hát sông Hương, Hồ Chí Minh, nhưng đó chỉ là cá biệt. Hầu hết các bài thơ đều viết theo các thể thơ cũ của dân tộc và thơ mới. Trong tập Việt Bắc, Tố Hữu viết nhiều bài thơ tự do. Từ những bài viết trong năm đầu Cách mạng và kháng chiến như Lạnh lạt, Đêm xanh, Giữa thành phố trụi đến các bài ở cuối thời kỳ kháng chiến như Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới... Sau này tập Gió lộng, cũng có nhiều bài có giá trị viết theo thể tự do. Qua các sáng tác thơ tự do trên người đọc nhận thấy hình thức tự do được vận dụng theo đúng quy luật hình thức phục vụ nội dung. Câu thơ được mở rộng, cách luật bị phá vỡ là do yêu cầu diễn tả nội dung. Tố Hữu đã để cho mạch thơ giãn ra, ngang dọc phóng túng để diễn tả khung cảnh của thành phố trụi góp phần đánh giặc trong bài Giữa thành phố trụi.



A! Các anh chiến lũy

Sắt gỗ giăng thành

Cả các anh

Những di lăng sấu gạo

Không tiếc lá cành xanh

Vật ngang đường cản giặc

Các anh nữa, những dòng chữ sắc

Thân cây, tảng đá, góc phòng

Phá tan tấn công mùa đông của Pháp.

Bằng than, bằng gạch, bằng son

Nét muôn tay hằn vạn đại căm hờn.

(Giữa thành phố trụi – Tố Hữu)

Trần Huyền Trân vận dụng câu thơ dài ngắn kết hợp với nhiều điệp từ để diễn tả không khí căng thẳng quyết liệt của Hải Phòng ngày 19–11–1946. Và đặc biệt là tường hợp Trần Mai Ninh với Tình đất nước và Nhớ máu. Mạch thơ của Nhớ máu phá ra rất mạnh, toát lên rất sôi nổi không khí của cách mạng, của máu và lửa, của niềm tin và thắng lợi. Tác giả đã vận dụng hình thức linh hoạt để phục vụ cho yêu cầu biểu hiện của nội dung đấu tranh và cách mạng. Hình thức đó không thể có và cũng không phù hợp để biểu hiện tâm trạng tiêu cực thát ly của thơ ca công khai thời kỳ 1930–1945.

Thơ tự do phát triển và nhiều lúc đi đến hình thức thơ không vần. Thơ không vần là một nẻo đường của thơ tự do. Thơ tự do xây dựng nội dung thơ ca trên cơ sở của nhịp điệu và hình ảnh. Thơ không vần cũng xây dựng nội dung trên cơ sở của nhịp điệu và hình ảnh. Loại bỏ vần thường làm hạn chế đến nhịp điệu hài hòa gợi cảm của thơ nên phần lớn các nhà thơ chỉ không hiệp vần trong những trường hợp đặc biệt của mạch thơ.

Cuộc tranh luận về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi ở Việt Bắc vào mùa xuân năm 1950 đã nói lên sự chuyển biến cơ bản của hình thức thơ. Nguyễn Đình Thi đã mạnh dạn tìm tòi và sáng tạo hình thức diễn đạt của thơ. Có lúc anh thành công, và cũng có lúc công việc làm của anh mang tính chất một thể nghiệm. Nhưng vấn đề đặt ra rộng hơn là sự giãn ra và mở rộng hình thức diễn đạt trong thơ ca sao cho phù hợp với yêu cầu biểu hiện cuộc sống mới và con người mới. Mọi người đều hiểu rằng quy luật sáng tạo của hình thức thơ ca là hình thức luôn phù hợp và không hạn chế sự biểu hiện của nội dung. Hình thức thơ tự do là cần thiết khi nội dung đòi hỏi, hình thức thơ không vần cũng có thể chấp nhận được. Nhưng không phải tất cả mọi đề tài, mọi xúc cảm, mọi cấu tứ đều thích hợp với thơ tự do. Một mặt khác, chúng ta lại có rất nhiều thể thơ có khả năng biểu hiện rất phong phú, được thử thách với thời gian, được nhân dân yêu thích. Các thể thơ như lục bát, song thất, và các thể bốn từ, năm từ, sáu từ, bảy từ, tám từ của thơ ca cổ truyền cũng như phong trào thơ mới đều được sử dụng khá phổ biến. Ví dụ qua 28 bài thơ của tập Vệt Bắc, có ba bài viết theo thể bốn từ, bốn bài viết theo thể năm từ ba bài viết theo thể bảy từ, bảy bài viết theo thể tự do và mười một bài viết theo thể lục bát và lục bát biến thể. Tỷ số đó nói lên một thực tế là các thể thơ của dân tộc luôn được chú trọng phát triển và trong thực tế thì chưa có một thể thơ nào bị cũ loại hẳn đi. Như thể thơ bốn từ vốn ít được dùng trong thơ ca trước kia, nhưng trong Vệt Bắc lại trở nên có khả năng biểu hiện về nhiều phương diện. Có lúc hồn nhiên tươi tắn như lời ca tiếng hát:

Voi là voi ơi

Voi ta đầu thép

Voi cong chân đẹp

Voi nghểnh voi cười

(Voi)


Có lúc gợi lên không khí vui và sôi nổi bằng những nét miêu tả cụ thể và tập trung:

Cờ treo đỏ chói

Trên nóc trên cây

Phí lè inh ỏi

Suốt đêm suốt ngày

(Bà mẹ Việt Bắc)

Đặc biệt trong bài Lượm, câu thơ bốn từ xinh xắn với những từ lấp láy, có thanh điệu đặc biệt, đã dựng lên rất đẹp và sinh động hình ảnh chú bé liên lạc:

Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh

Thể thơ bốn từ ở đây nhiều lúc rất hiện đại qua lời đối thoại:



Cháu cười híp mí

Má đỏ bồ quân

Thôi chào đồng chí



Cháu đi xa dần

Hoặc qua những lời tán thán với một ngữ điệu đặc biệt:



Chợt nghe tin nhà

Ra thế

Lượm ơi!

Hoặc qua câu hỏi tu từ



Lượm ơi, còn không?

Chính đó là cái mới trong các thể thơ ngoài phần cấu trúc về câu, từ. Các thể thơ từ sau Cách mạng được phát triển khá phong phú với sự hình thành và ổn định của những phong cách. Nếu lấy sự ra đời của Tuyển tập thơ Vệt Nam trong dịp kỷ niệm mười lăm năm Cách mạng làm cái mốc thì chúng ta có thể thấy ở đây sự họp mặt của nhiều thể thơ phong phú.

Về những thể thơ chính, trong số 126 bài viết về miền xuôi, chúng ta có 28 bài làm theo thể thơ tự do, 17 bài làm theo thể thơ tám từ, 26 bài làm theo thể bảy từ, 23 bài làm theo thể năm từ và 15 bài làm theo thể lục bát. Sự tập hợp có tính chất ngẫu nhiên này về mặt thể loại, và tỷ số giữa các thể thơ đã phản ánh một phần nào tình hình phát triển của các thể loại. Qua Tuyển tập thơ Việt Nam (1945–1960) cũng như qua các tập thơ của các tác giả được viết ra trong những năm gần đây, chúng ta có thể nhận định sơ bộ như sau về các thể thơ. Thơ tự do ngày càng phổ biến và trở thành một thể chính thức với nhiều bài hay như Cửu Long giang ta ơi (Nguyên Hồng), Ta đi tới, Với Lê nin (Tố Hữu), Nhớ (Hồng Nguyên), Nhớ máu (Trần Mai Ninh), Bài ca vỡ đất (Hoàng Trung Thông), Tặng chiến sĩ Sông Lô của Võ Liêm Sơn, Sóng vỗ cửa Tùng của Lưu Trọng Lư… Thể tám từ vẫn giữ được tính chất mới mẻ như ở thời kỳ phong trào thơ mới. Thể thơ tám từ thường được dùng để mô tả những đối tượng mà nhà thơ cần đi vào nhiều mặt của vấn đề hoặc kết hợp để gợi lên chiều sâu của những suy nghĩ và xúc cảm. Nhịp điệu thơ vẫn uyển chuyển, mạch thơ vẫn rộng rãi. Hơi thơ dù sôi nổi hay trầm lặng mà vẫn có nét nghiêm chỉnh. Có nhiều bài thơ tám từ có giá trị như: Người con gái Việt Nam của Tố Hữu, Kết nạp Đảng lên quê hương Mẹ và Giữa Tết trồng cây của Chế Lan Viên, Lệ và Ngọn quốc kỳ của Xuân Diệu, Hai hình người gỗ của Huy Cận, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Chuyện hai người yêu xa cách của Nguyễn Đình Thi…

Thể thơ bảy từ nhìn chung không thay đổi cấu trúc về số câu số từ, nhưng cũng có những yếu tố mới.

Lối ngắt nhịp 3/4 trong thơ ca cổ truyền của dân tộc được khôi phục tạo nên chất chắc và khỏe cho mạch thơ, giúp vào việc biểu hiện những chủ đề mới. Kết hợp với lối gieo vần gián cách, hỗn hợp và ôm nhau, câu thơ không trúc trắc mà có sự hài hòa về nhịpđiệu

Anh đã đến / quê em Ban–tích

Sóng ngời xanh / ngọc bích biển khơi

Đã xóa sạch / những ngày Đăng–dích

Máu Ba–lan / trong trắng đỏ tươi…

(Em ơi, Ba Lan – Tố Hữu)

Một số nhà thơ lại kết hợp lối ngắt nhịp 3/4 với 4/3. Nhịp 4/3 là nhịp ngắt phổ biến của thể thơ bảy từ của thơ mới. Ngắt theo nhịp 4/3 thì nhịp điệu của câu thơ uyển chuyển mềm mại nhưng cũng có những trường hợp thiếu sự rắn chắc cần thiết. Phối hợp hai lối ngắt nhịp 4/3 và 2–2/3 với 3/4 và 3/2–2 làm cho câu thơ bảy từ trở nên khỏe mà vẫn nhịp nhàng:

Xiềng xích / chúng bay / không khóa được

Trời đầy chim / và đất đầy hoa

Súng đạn / chúng bay / không bắn được

Lòng dân ta / yêu nước thương nhà

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

Trong bài thơ Em ơi, Ba Lan, Tố Hữu đã sử dụng rất linh hoạt các lối ngắt nhịp khác nhau của câu thơ bảy từ, toàn bài gồm những khổ thơ giống nhau song nhịp điệu lại thay đổi rất uyển chuyển. Bàng Sĩ Nguyên qua bài Vợ chồng đi chợ xuân đã để nhịp thơ di động như múa lượn rất hợp với chủ đề. Trong bài Mã pí–lèng, Xuân Diệu qua những khổ thơ sáu câu, vận dụng lối gieo vần hỗn hợp bằng trắc xen lẫn và nhiều lúc lấy thanh trắc làm chủ vận đã gợi được không khí chiến đấu rất gay go với thiên nhiên hiểm trở.

Thể thơ năm từ vẫn có một vị trí quan trọng trong thơ ca hiện đại. Câu thơ gồm năm âm tiết với nhịp ngắn gọn, có khả năng tiến thoái rất linh hoạt. Có thể trải dài mạch thơ để kể chuyện, hoặc để biểu hiện tâm tình (như các bài Ngoảnh lại mười lăm năm của Chế Lan Viên, Hồng Côn con yêu của mẹ của Hằng Phương, Em liên lạc của Nguyễn Trung Thành, Thăm lúa của Trần Hữu Thung v.v…): Có thể diễn tả tập trung chủ đề trong một số khổ thơ nhất định (như Viếng bại của Hoàng Lộc, Ngò cải đơm hoa của Lưu Trọng Lư v.v…). Vì số từ ít nên thanh điệu của thể thơ năm từ khỏe và chắc nếu nghiêng về vần trắc, và cũng không kém nhịp nhàng nếu nghiêng về vần bằng. Trong tập thơ Người chiến sĩ, Nguyễn Đình Thi đã dùng thể thơ năm từ để diễn đạt khá thành công nhiều đề tài kháng chiến, với hơi thơ khỏe, chắc, giàu hình ảnh và suy nghĩ. Bài thơ cuộc đời của Huy Cận cũng giới thiệu với người đọc khả năng biểu hiện phong phú của thể thơ năm từ.

Câu thơ lục bát vẫn nhịp nhàng uyển chuyển như nhịp điệu vốn có. Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi… vẫn tiếp tục viết thơ lục bát để diễn tả nhiều đề tài khác nhau. Trong thơ lục bát hiện đại vẫn có những câu thơ mang dáng dấp của ca dao và dân ca.

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

(Nguyễn Đình Thi)



Một ngôi sao chẳng sáng đêm

Một thân lúa chín chẳng nên mùa vàng

Một người – đâu phải nhân gian?

Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi

(Tố Hữu)


Có những câu kết hợp hơi thơ của Kiều với tứ thơ và ngôn ngữ hiện đại:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

(Tố Hữu)


Dãi dầu nào có tiếc đời

Đăm đăm đôi mắt trông vời quê hương

(Nguyễn Đình Thi)

Ngoài những lối cấu trúc bình thường ra chúng ta thấy cũng có những câu thơ lục bát có tính chất đặc biệt.

Hoặc có câu giãn ra trong một khổ thơ chung:



Con ong làm mật yêu hoa

Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu đời.

(Tố Hữu)


Hoặc có câu bị ngắt ra theo bậc thang:

Từ này xin đặt tên hoa

Hoa anh ơi”



một chiều ta

nở đầy

(Xuân Diệu)

Hoặc giữa câu lục và câu bắt có chen một câu 4 từ.

Đỉnh non cao vút em ơi.

Cao vút em ơi.

Là trên đỉnh chót tình người yêu nhau

(Xuân Diệu)

Có những câu thơ vẫn giữ nguyên cấu trúc 6/8, nhưng về lối diễn đạt, có những nét và những từ đặc biệt.

Trăng đi qua núi qua rừng

Hỏi anh T–S “có ưng nhắn gì?”


  • Qua rừng qua núi trăng di

Nhắn giùm với bạn! “có khi mình về”

(Tố Hữu)


Bốn mùa ghen tựa kim đâm

Tình yêu có thể yên nằm được a?

(Xuân Diệu)



Trèo lên đỉnh non cao

Đôi tay ta nắm, anh chào Em, em

(Xuân Diệu)

Những câu hỏi, câu nhắn, những lời chào hỏi, những từ viết tắt những khẩu ngữ v.v… đều được đưa vào trong câu thơ lục bát, làm cho câu thơ có màu sắc mới. Xuân Diệu có lúc tỏ ra rất linh hoạt và phóng túng với thể thơ lục bát.

Nhìn vào hiện tại cũng như suy nghĩ về tương lai, chúng ta tin rằng thể thơ lục bát có thể đổi nhiều. Nhưng dù có thay đổi vẫn phải tôn trọng đặc điểm của câu thơ lục bát với nhịp điệu uyển chuyển nhịp nhàng; thanh điệu của câu thơ nghiêng về bằng hơn trắc, hơi thơ cần liên tục hơn ngắt quãng. Thể lục bát trong thơ hiện đại đạt được những giá trị biểu hiện khá cao qua bài Việt Bắc của Tố Hữu. Tiếng thơ ở đây có lúc dìu dặt thiết tha khi đi vào diễn tả tâm trạng của hai người xa cách, có lúc thanh điệu uyển chuyển để gợi nhớ gợi thương qua những hình ảnh nhiều màu sắc và sinh động. Câu thơ lục bát được sử dụng tổng hợp như vừa kể, vừa dựng người, dựng cảnh; tác giả phối hợp trong một bức tranh chung sự hài hòa giữa tình cảm, màu sắc và nhạc điệu.

Ngoài các thể thơ chủ yếu trên, chúng ta thấy một số thể thơ được khôi phục và phát triển với một nội dung mới như thể tứ tuyệt, sáu từ, thơ văn xuôi, thơ đối thoại v.v… Thể tứ tuyệt vắng bóng dần trên thi đàn với sự ra đời của phong trào thơ mới. Gần đây một số nhà thơ làm thơ tứ tuyệt thường để xoáy sâu vào một ý nhỏ, hoặc gợi lên một tình cảm, một tâm trạng nào đó, hoặc đi vào giới thiệu một nét đẹp của cảnh vật. Tứ thơ không bị ràng buộc, gò bó trong khuôn khổ cách luật mà lại phóng túng, có khi bài thơ gồm bốn câu nhưng mỗi câu lại không nhất định là bảy từ mà có khi gồm sáu từ hoặc tám, chín từ. Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Huy Cận v.v… đều có những bài thơ đáng chú ý viết bằng thể sáu từ. Chế Lan Viên và Huy Cận viết một số bài thơ văn xuôi. Các thể thơ trên đều phát huy được khả năng diễn tả và phục vụ những đề tài với nội dung mới.

Đi riêng vào việc vận dụng thể loại của từng tác giả thì quy luật chung của sự phát triển về hình thức của thơ ca hiện đại cũng thể hiện khá rõ nét trong từng nhà thơ. Có thể lấy trường hợp Chế Lan Viên làm lệ chứng. Trong tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã viết 36 bài thơ thuần túy theo hai thể bảy từ và tám từ. Trong tập Ánh sáng và Phù sa. Chế Lan Viên đã vận dụng nhiều thể thơ phong phú như: thể bốn từ, thế lục bát, thể đối thoại, thể tứ tuyệt, thể tự do, thơ văn xuôi v.v… Và tác giả tỏ ra khá thành thục với từng ấy thể loại.

Ba năm thơ chống Mỹ cứu nước không có những thay đổi đặc biệt về hình thức biểu hiện. Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận thấy do đặc điểm của nội dung nên hình thức ít nhiều cũng có sự phát triển tương ứng. Thơ tự do đã thực sự trở thành một chủ thể bên cạnh các thể thơ cổ truyền dân tộc. Thơ tự do rất thích hợp cho sự phát triển rộng rãi về mặt tư duy, dung nạp nhiều liên tưởng và suy tưởng. Thơ tự do cũng thích hợp để thể hiện tất cả những trạng thái sôi nổi và phong phú nhất của cảm xúc trước hiện thực nóng bỏng của cuộc chiến đấu. Trong Tuyển tập ba năm thơ chống Mỹ cứu nước, thơ tự do chiếm một vị trí quan trọng. Sự phát triển của chất anh hùng ca và chất suy nghĩ trong nội dung của thơ đòi hỏi những hình thức biểu hiện phù hợp. Chất anh hùng ca như nguồn cảm hứng chủ đạo dẫn dắt mạch cảm xúc khi dồn dập xốc tới, khi vút lên bay bổng, khi trải rộng mênh mông. Chất anh hùng ca hoặc tạo nên một hơi thơ hùng tráng liên tục hoặc phân đoạn ngắt ra thành những mạch ngắn dồn dập, quyết liệt, biểu hiện khí thế tiến công mạnh mẽ của cuộc chiến đấu. Thơ tự do phát triển với nhiều hình thức biểu hiện linh hoạt. Câu thơ bậc thang được sử dụng phổ biến và tỏ ra có khả năng biểu hiện tốt những yêu cầu mới của nội dung. Nhà thơ miêu tả và biểu hiện ở đây “Từ một trận địa Hà Nội”.

Súng ta kê

bên nôi nhỏ

các em nằm

Từ trận địa này

ta bắn chúng.

Sóng của ta tính tầm tính hướng

Tính theo góc độ của lòng căm

(Chính Hữu)

đến một trận địa của miền Nam, của Huế thân yêu đang ào ào nổi dậy trong cơn bão lửa

Cả rừng thông mái tóc ngự xanh

Cả câu hò hòa tan trăng nước lung linh

Cả cột cờ mấy trăm năm tư lự

Tất cả

một đêm thôi

dựng thành

chiến lũy

và những con người:



Tất cả

một đêm thôi

bỗng trở thành

dũng sĩ

(Tân Trà)

Khí thế cách mạng như trào dâng thác đổ, cả nước tiến lên giành thắng lợi cuối cùng:

Tiền tuyến lớn

đang ầm ầm bão tố

Hậu phương lớn

dòng xe xuôi thác lũ

Bè bạn ta hò reo

mát dạ hả lòng

Hy thừa thắng xông lên

cơ hội ngàn năm có một

Đã thắng rồi

phải thắng lớn hơn

Tiến lên toàn thắng…

(Nguyễn Hải Trừng)

Và ké thù đã đến ngày:

Gục đầu

thất thểu

thân tàn

ma dại

bước suy vong.

(Sóng Hồng)

Biện pháp tăng cường, trùng điệp được các nhà thơ chú ý để thể hiện những khúc tráng ca của thời đại. Để bộc lộ những xúc cảm mạnh mẽ trước cuộc chiến đấu thiêng liêng của dân tộc về phía chủ quan của mình các nhà thơ hay dùng những từ tán thán, những câu hỏi tu từ và mệnh lệnh thức. Nghĩ đến đất nước thân yêu trong giờ phút lịch sử vẻ vang nhất:

Hỡi Sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm

Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?

(Chế Lan Viên)



Tổ quốc thân yêu, ngàn lời ca ngợi!

Nay càng thêm tha thiết với tim ta

(Xuân Diệu)



Miền Nam ơi! đẹp đẽ cuộc hành trình

Tay cầm lửa thắp bình minh xốc tới

(Huy Cận)

Bên cạnh chất anh hùng ca như cảm hứng chính trị chủ đạo, thơ chống Mỹ cứu nước còn là một dòng thơ phong phú và lắng sâu chất suy nghĩ và chất trí tuệ. Gần như vấn đề suy nghĩ trong thơ không phải chỉ gắn với một hai phong cách mà thuộc về đặc điểm chung của cả phong trào. Sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đặt ra rất nhiều những vấn đề phong phú cho dân tộc và thời đại cho hiện tại và tương lai. Có thể nào nhà thơ làm tròn được sứ mệnh của mình nếu lời thơ chỉ là tiếng nói tự nhiên của tình cảm và bản năng. Chất suy nghĩ đưa vào trong thơ với một phân lượng đáng kể đã ảnh hưởng và chi phối hình thức biểu hiện. Câu thơ cách luật bị hạn chế hơn so với mạch thơ tự do trong việc thể hiện những suy nghĩ, vừa nhuần nhuyễn sinh động, vừa lắng đọng sâu xa. Hoa ngày thường và Chim báo bão của Chế Lan Viên là một tập thơ giàu chất suy nghĩ. Trong phần Hoa ngày thường, dòng tình cảm quyện lấy chất suy nghĩ như là trung tâm của nhân tố nội cảm, nên nhà thơ chủ yếu sử dụng câu thơ cách luật. Những suy nghĩ trực tiếp nổi lên rõ rệt trong phần Chim báo bão nên thơ tự do lại là hình thức biểu hiện chính. Tế Hanh vốn hay dùng những thể thơ cách luật quen thuộc qua Tiếng sóng và Hai nửa yêu thương với những câu thơ dạt dào tình cảm. Trong khúc ca mới, mạch thơ của nhiều bài giãn ra, và mở rộng với suy tưởng và lời bình luận. Có thể tìm thấy nhiều dẫn chứng tương tự với trường hợp Sóng Hồng, Huy Cận, Chính Hữu và nhiều nhà thơ lớp trẻ khác. Hình thức thơ văn xuôi cũng được nhiều người sử dụng hơn.

Qua ba năm thơ chống Mỹ, thơ tự do phát triển với nhiều hình thức biểu hiện phong phú và linh hoạt. Các thể thơ cổ truyền và những thể thơ cách luật quen thuộc vẫn được tiếp tục phát huy khả năng và ưu thế riêng của nó. Khi dùng thể thơ và hình thức biểu hiện này hay nọ, các nhà thơ ít bị lệ thuộc vào những yêu cầu bên ngoài hoặc bị những ước lệ gò bó, mà chủ yếu là do yêu cầu miêu tả đối tượng khách quan và đặc trưng của nếp tư duy chủ quan của mỗi người. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu lại dùng thể thơ dân tộc khi viết về bà mẹ Suốt và thể tự do với bài Emily con. Hoặc như Huy Cận dùng mạch thơ tự do để viết nhiều bài thơ chống Mỹ, nhưng qua bài Gửi bạn người Nghệ Tĩnh và Nghe hát ví đò đưa tại Hà tĩnh quê nhà lại dùng thể thơ dân tộc, đặc biệt là thể thơ năm từ với câu kết láy điệu hát giặm Nghệ Tĩnh.

Nhìn chung sự phát triển của thơ ca về mặt thể loại từ sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta thấy các thể thơ được phát triển khá phong phú, có nhiều màu sắc nhất, so với các giai đoạn trước kia. Các thể thơ của dân tộc được khôi phục, phát triển và nâng cao, làm cho khả năng biểu hiện phù hợp với đề tài và nội dung mới. Một số thể thơ có thêm những yếu tố mới do sự học tập và tiếp thu những phương tiện biểu hiện của thơ ca nước ngoài. Quy luật hình thức gắn bó chặt chẽ và phục vụ cho nội dung ngày càng thể hiện rõ nét trong sự vận dụng và phát triển của các thể loại thơ ca.

***


Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân ta đã sáng tạo nên một nền văn học phong phú đậm đà tính cách và màu sắc dân tộc.

Nền thơ Việt Nam với truyền thống lâu đời đã phát triển qua những chặng đường thơ suốt cả một quá trình lịch sử. Như một dòng sông chở nặng những suy nghĩ và tình cảm của dân tộc, nền thơ ca Việt Nam, từ thời này qua thời khác, có lúc âm thầm mang trong lòng những tình cảm sâu sắc, có lúc dồn dập như triều sóng dậy theo khí thế sôi sục đấu tranh. Dòng sông thơ ca luôn bồi đắp cho cuộc đời phù sa màu mỡ, đem đến chất xanh tươi cho đời sống tư tưởng và tình cảm của dân tộc.

Thơ ca dân gian chất phác, hồn nhiên, giàu tính, giàu ý và từ những thế kỷ xa xăm cho đến ngày nay, vẫn phát triển phong phú và có nhiều sinh lực, biểu hiện bằng nhiều hình thức và màu sắc khác nhau. Thơ ca bác học điêu luyện, công phu ít nhiều đã gắn bó với cuộc đấu tranh xã hội và khát vọng của quần chúng nhân dân trong nhiều thế kỷ và do đó, đã để lại nhiều tác phẩm xuất sắc.

Chính nội dung phong phú của thơ ca đã quy định tính chất phong phú của hình thức. Làm sao có thể nói được hết, kể được hết những hình thức nhiều vẻ đó của thơ ca cổ truyền dân tộc. Hình thức dân tộc như một chất lõi vững bền không hề bị mai một, thay đổi trước sức tấn công và mưu toan đồng hóa của những khuynh hướng bên ngoài. Mặt khác nó lại luôn được bồi đắp bằng những giá trị tích cực tiếp thu của thơ ca nước ngoài.

Phù hợp với quan điểm thẩm mỹ lành mạnh, tiến bộ của quần chúng nhân dân, những hình thức thơ ca dân tộc luôn giữ được sự trong sáng giản dị, uyển chuyển và nhiều màu sắc. Những khuynh hướng cầu kỳ, lập dị, khó hiểu, hình thức chủ nghĩa không khỏi có lúc thâm nhập vào thơ ca, nhưng cũng nhanh chóng bị đào thải.

Những giá trị tích cực của hình thức thơ ca dân tộc là một vốn quý làm cơ sở cho sự phát triển của nền thơ ca hiện đại.

Mặt khác phải có sự đem lại cho thơ ca những giá trị mới phù hợp với sự thay đổi to lớn của cuộc sống và thực tế đấu tranh cách mạng.

Tính hiện đại là một nhân tố hết sức quan trọng, bao quát cả nội dung lẫn hình thức trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Thực chất nội dung tính hiện đại là những nhân tố và giá trị mới xuất hiện trong cuộc đấu tranh cách mạng to lớn mà nhân dân ta đang tiến hành. Cuộc đấu tranh đó vừa biểu hiện sâu sắc phẩm chất kỳ diệu của dân tộc, vừa đạt đến những đỉnh cao nhất và mức khái quát sâu sắc nhất của những đặc tính cơ bản của thời đại.

Sự kết hợp sâu sắc giữa truyền thống dân tộc và tính hiện đại là một phương châm quan trọng đảm bảo sự phát triển phong phú của thơ ca. Những thành tựu rất đáng kể trong thơ ca từ sau Cách mạng đã chứng minh đầy đủ điều đó. Đường lối văn nghệ của Đảng đã chỉ ra phương hướng phát triển đúng đắn nhất, nguyên tắc sáng tạo tích cực nhất cho văn nghệ nói chung và thơ ca nói riêng.

Nhìn lại truyền thống của thơ ca phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, chúng ta có quyền tự hào về bước đường đã qua cũng như những thành tựu của hiện tại. Bên cạnh những tác phẩm thơ ca dân gian có giá trị chúng ta còn có Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu… Mỗi tác giả là một đỉnh cao thơ ca của thời đại. Về nội dung, những sáng tác của họ chứa đựng một tình yêu lớn, một lời phản kháng sâu sắc chế độ thống trị, một tiếng kêu thương ai oán thiết tha. Về hình thức, mỗi sáng tác là một mẫu mực của sự sáng tạo nghệ thuật. Thơ ca hiện đại đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn từ ngàn xưa để lại mà ngay những tài năng lớn vẫn khó vượt qua được. Sự thống nhất giữa lý tưởng và thực tại, giữa ước mơ và khả năng thực hiện là cơ sở để chắp cánh cho thơ bay thêm cao thêm xa, vươn đến những đỉnh trượng cao nhất của thời đại.

Những thành tựu của hơn hai mươi năm thơ ca cách mạng là một vườn hoa tươi thắm, làm cho chúng ta càng vững tin vào bước đường đi tới.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương