Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang3/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC THƠ CA TỪ THẾ KỶ THỨ X CHO ĐẾN CUỐI THẾ KỶ THỨ XIX


Từ họ Khúc dấy nghiệp về sau, kỷ nguyên tự chủ nước ta mở ra với triều đại Ngô Quyền. Xưa kia nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm, do đó nền văn học dân tộc ta cũng bị kìm hãm. Chính quyền phong kiến nước ta được củng cố qua các triều đại Đinh, Tiền Lê và đến đời Lý thì nhà nước mới thực sự ổn định, giai cấp phong kiến nước ta mới trở thành một giai cấp thống trị đủ sức mạnh đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân để đập tan các cuộc xâm lược của nước ngoài và để xây dựng một nền kinh tế và văn hóa dân tộc. Chế độ phong kiến nước ta phát triển đến đỉnh cao của nó ở thế kỷ XV, dưới triều Hồng Đức và từ thế kỷ XVI về sau thì dần dần đã có chiều hướng không ổn định. Các cuộc bạo động nông dân đã liên tiếp nổ ra trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII… mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Nguyễn Huệ mất, tập đoàn phong kiến của Nguyễn Ánh đã dựa vào thế lực phương Tây mà thống trị nước nhà, tạo ra một chế độ phong kiến phản động, đồng thời cũng mở đường cho thực dân Pháp xâm lược nước ta từ cuối thế kỷ XIX.

Trong quá trình dằng dặc của lịch sử như vậy, nền văn học dân gian ta không ngừng phát triển. Mặc dù nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, nền văn học đó vẫn có tính độc lập của nó và cứ lớn mạnh dần cho mãi đến ngày nay. Vì không được các nhà nghiên cứu thời xưa lưu ý, nên so với văn học viết, thì nền văn học đã không được xác định một cách cụ thể qua từng bước phát triển, như đã nói ở mục trên. Nhưng có một điểm nổi bật là dưới thời phong kiến, nền văn học dân tộc của chúng ta bao gồm hai dòng thơ ca, một dòng thơ ca quốc âm có quan hệ chặt chẽ với thơ ca dân gian và một dòng thơ ca chữ Hán, chịu ảnh hưởng nhiều của thơ ca Trung Quốc. Hiện tượng Việt hóa một số thơ ca mô phỏng nước ngoài như đã trình bày ở chương trên là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh và chuyển biến giữa hai dòng đó. Dòng thơ ca quốc âm, mặc dù hình thành và phát triển muộn hơn so với dòng thơ ca chữ Hán, nhưng vì nó gắn với tiếng nói dân tộc, với cuộc sống và vận mệnh của nhân dân ta, vẫn cứ dần dần tiến lên theo quá trình của lịch sử. Đáng lưu ý là cứ mỗi một chặng chúng ta chiến thắng oanh liệt giặc ngoại xâm là chúng ta lại tiến một bước mạnh trong việc phát triển thơ ca quốc âm. Dưới thời Bắc thuộc, chắc là có những thơ ca nói về việc này, nhưng hiện nay không còn sách vở ghi chép cụ thể, mà chỉ có một số câu ca dao truyền miệng, thí dụ của Nguyễn Văn Mại trong sách Việt Nam phong sử, cho rằng câu ca dao sau đây nói về cuộc khởi nghĩa Trưng vương:



Thương chồng nên phải gắng công

Nào ai xương sắt da đồng chi đây!

Tất nhiên, đấy cũng chỉ là một câu truyền miệng, không có căn cứ xác thực, nhưng điều chắc chắn là phong trào khởi nghĩa của Trưng vương đã khích lệ tinh thần dân tộc độc lập, nên cũng gây điều kiện cho thơ ca của ta phát triển, do đó mới tương truyền những câu ca dao nói lên lòng yêu nước ở thời kỳ này. Tác dụng của những phong trào chống ngoại xâm hay phong trào nông dân khởi nghĩa đối với sự phát triển của thơ ca dân tộc ở những thời kỳ sau rõ ràng đã được ghi trong sử sách: sau cuộc kháng Nguyên đời Trần, thơ ca quốc âm được đẩy mạnh lên một bước; chính nhờ vậy Nguyễn Thuyên mới có cơ sở đề xướng lối thơ Đường luật bằng quốc âm; hoặc thí dụ như sau cuộc kháng Minh thắng lợi, thơ ca quốc âm lại tiến thêm một bước nào và trong tình hình mà thơ nôm đã có một địa vị bên cạnh thơ chữ Hán, Lê Thánh Tông mới mạnh dạn cùng hội viên Tao đàn xướng họa thơ quốc âm; hoặc thí dụ nữa như trong cuộc khởi nghĩa của mình, Nguyễn Huệ chẳng những đã kháng Thanh thành công mà còn nhìn thấy sự trưởng thành của thơ văn quốc âm ở thế kỷ XVIII, nên đã quyết định dùng chữ nôm và một số hình thức tứ lục bằng quốc âm vào việc giao dịch công văn. Sự kiện này kéo dài cho đến thời kỳ đầu của triều Gia long mới bị bọn vua phản động nhà Nguyễn ngăn chặn và trở lại thay thế bằng những hình thức công văn bằng chữ Hán như trước thời Tây Sơn.

Rõ ràng thơ văn của ta đã trải qua một quá trình đấu tranh và chuyển hóa âm ỉ giữa hai dòng thơ ca tiếng Việt và thơ ca chữ Hán. Như ở các chương trên đã nói là ngay từ xưa hay trong thời Bắc thuộc, cha ông chúng ta đã sáng tác ra câu ca, giọng hò nhưng rất tiếc là không có sách vở ghi chép rõ nên ngày nay không thể biết được thời điểm và bối cảnh cụ thể của chúng ra sao. Chỉ biết rằng song song với sự tiến triển của nền thơ ca dân gian, có một sự kiện nổi bật trong nền văn hóa của ta là sự du nhập chữ Hán và các hình thức thơ ca của Trung Quốc. Căn cứ vào một số tài liệu còn lại như tờ truyền của Triệu Đà tỏ lòng trung thành với Hán Văn đế hay tờ hịch của Lữ Gia kể tội Cù thị, đặc biệt là bức thư của Thi Sách gửi cảnh cáo Tô Định hoặc một số thư từ của quan lại phương Bắc ở nước ta từ thời Hán, Lục triều cũng như của một số nho sĩ ta thời Tùy, thời Đường làm quan ở phương Bắc, người ta cho rằng chữ Hán vào nước ta khoảng thời Bắc thuộc. Cũng có thể một số hình thức thơ ca Trung Quốc đã du nhập cùng với chữ Hán, nhưng cũng mới chỉ dùng trong phạm vi hẹp của đám quan lại phương Bắc hay một phần nào đám quan lại địa phương và hình thức được sử dụng nhiều là hình thức phục vụ trực tiếp cho chính trị như chiếu, biểu, hịch.

Nền tự chủ nước ta có cơ sở từ đời Ngô Quyền (939–965) nhưng nền văn hiến thì dần dần mới được xác lập và củng cố qua các triều đình Lê, Lý và rõ ràng đến cuối thế kỷ thứ X, đầu thế kỷ XI, chúng ta mới có một dòng thơ ca viết bằng chữ Hán, nhưng chứa đựng nội dung dân tộc. Bài từ khúc Tiễn sứ Lý Giác theo điệu “Vương lang quy” của sư Ngô Chân Lưu soạn năm 987 đánh dấu một cái mốc trong lịch sử văn học viết của ta:



Gió hòa thời thuận cảnh buồm giương.

Ngóng vị thần tiên lại đế hương.

Non nước nghìn trùng vượt đại dương.

Xa khơi muôn dặm đường.

Chén ly biệt.

Tình vấn vương.

Vin xe sứ tình lang.

Nguyện xin lưu ý chốn biên cương.

Tâu rõ cùng thánh hoàng.

Bài ca này một mặt thể hiện trình độ các nhà sư yêu nước của ta thời đó đã biết sử dụng thơ ca vào mục đích chính trị, để nói lên thiện chí của nước ta là muốn giữ tình hòa hảo với nhà Tống, mặt khác gợi cho ta biết là thể từ khúc của Trung Quốc đã được các nhà thơ ta sáng tác thành thạo ngay từ thế kỷ thứ X, thời kỳ mà nghệ thuật hát múa của ta đã khá phát triển và đặc biệt được vua Lê Hoàn chú ý. Sách Văn hiến thông khảo có chép việc sứ nhà Tống là Tống Cảo sang ta năm 990 được tham dự buổi tiệc do Lê Hoàn chiêu đãi và chính Lê Hoàn đã “tự hát bài mời rượu” để mua vui, nhưng Tống Cảo không hiểu được lời ca bằng tiếng Việt. Các sự kiện trên phản ánh ít nhiều tình hình thơ ca của ta thời bấy giờ mà chắc rằng nghệ thuật ca nhạc phát triển hơn nghệ thuật thơ. Nhiều cuốn sử của ta như Việt sử lược, Đạo Việt sử ký toàn thư đều chép về nghệ thuật múa hát đời Lý trong đó bao gồm nghệ thuật cung đình và nghệ thuật dân gian.

Sách Hí phường phả lục của Lương Thế Vinh là sách tương đối cổ, in năm 1501 đời Lê Hiến Tông, chép rằng Từ Đạo Hạnh có sáng tác một bài giáo trò như sau:

Trình làng trình cha

Thượng hạ tây đông,

Tư cảnh hòa trung,

Nghe tôi giáo trống.

Trướng không phong động

Cũng bởi trống tồi

Làng đã vào ngồi

Tôi xin diễn tích…

Qua cuốn sách này, chúng ta biết được nghệ thuật chèo của chúng ta đã có cơ sở từ đời Lý, lúc mà nhà nước phong kiến tập quyền của chúng ta đã được củng cố và khá vững mạnh. Đấy là một điều kiện để cho văn học, nghệ thuật phát triển. Bài Chiếu dời đô của Lý Thái tổ công bố năm 1010 là một văn kiện đầy ý nghĩa; nó đánh dấu sự tưởng thành của dân tộc ta, đồng thời nó cũng đánh dấu sự trưởng thành của nền văn hiến ta. Và nếu xét riêng về mặt hình thức thơ ca, thì bản thân bài chiếu cũng là một áng văn cổ xuất sắc. Văn học viết đời Lý còn lại ngày nay đều bằng chữ Hán trong đó các hình thức phổ biến là những hình thức sử dụng ở chùa chiền như minh, trâm, tán, kệ, bi ký, hay số ít hình thức sử dụng ở cung đình như chiếu, chế; ngoài ra cũng có một ít thơ theo thể Đường luật, thí dụ thơ của Đoàn Văn Khâm. Bài văn bia ở chùa Đọi (Nam Hà) của Mai Công Bật soạn năm 1121, là một bài văn biền ngẫu có giá trị văn học, trong đó có nói đến nghệ thuật múa rối của ta ở đời Lý.

So với đời Lý, thơ ca đời Trần tiến hẳn lên một bậc về chất lượng cũng như về số lượng. Nội dung thơ ca không còn đóng khung trong phạm vi chùa chiền và cung đình, mà đã được mở rộng, phản ánh nhiều mặt của cuộc sống xã hội, do đó yếu tố trữ tình trong thơ ca đã được nâng lên. Muốn vậy, các nhà thơ của ta đã phải vận dụng nhiều hình thức thơ ca đủ các loại như thơ cổ phong, thơ cách luật; thơ cổ phong thì có các lối tuyệt cú, bát cú, trường thiên (tức thể hành): thơ cách luật thì thiên về ngũ ngôn, thất ngôn theo đủ các thể bằng, thể trắc v.v. Nhìn chung nghệ thuật thơ khá điêu luyện như Phạm Đình Hổ đã nhận định trong cuốn Vũ trung tuỳ bút: “…Thơ đời Trần tinh vi trong trẻo, đều có sở trường tột bậc cũng như là thơ đời Hán, đời Đường bên Trung Hoa”. Gần với thơ, phú cũng được chú ý về cả hai lối cổ thể cũng như Đường luật. Thơ, phú đã được dùng trong nhiều đề tài khác nhau như để bộc lộ tâm sự (bài hành Phóng cuồng ca của Trần Quốc Tảng, bài Ngọc tỉnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi), hay để ca ngợi tinh thần yêu nước, chí căm thù của ta (thơ của Phạm Ngũ Lão của Trần Quang Khải, của Trần Lâu và đặc biệt là bài Bạch đằng giang phú nổi tiếng của Trương Hán Siêu). Các hình thức biền văn khác như bi ký vẫn tiếp tục được sử dụng, thí dụ bài Linh tế thác ký của Trương Hán Siêu. Riêng bài Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn là một áng văn có giá trị về tư tưởng cũng như về nghệ thuật. Về mặt hình thức thơ, nó đã nối bài Chiếu dời đô đời Lý Thái tổ với bài Bình Ngô đại cáo đời Lê Thái Tổ, nối một khoảng cách trên 400 năm, từ 1010 đến 1427.

Một sự kiện quan trọng đời Trần là phong trào thơ phú quốc âm ra đời. Như ở đoạn đầu mục này đã nói rõ, dòng thơ ca tiếng nói dân tộc thường tiến triển mạnh trong quá trình chống ngoại xâm thắng lợi. Do đó, sự xuất hiện lối thơ Hàn luật không phải là một việc ngẫu nhiên, mà chính là do quy luật đấu tranh và chuyển hóa giữa dòng thơ quốc âm với dòng thơ chữ Hán.

Theo sử, từ Nguyễn Thuyên đờii Trần Nhân Tông, chữ nôm được áp dụng để làm thơ phú quốc âm. Nguyễn Thuyên là người đầu tiên cổ võ việc làm thơ nôm Đường luật, cho nên người thời bấy giờ gọi là thơ Hàn luật. Từ sau Nguyễn Thuyên, thì Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Trần Ngạc, Hồ Quý Ly… đều có làm thơ quốc âm, nhưng hiện nay đều không truyền bài nào nữa. Chỉ còn bốn câu của nàng Điểm Bích hiệu là Tam nương như sau:

Vằng vặc trăng mai ánh nước,

Hiu hiu gió trúc ngân sênh

Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ;

Mâu thích ca nào thuở hữu tình

Về phú còn truyền lại bài Cừ trần lạc đạo của Trần Nhân Tông gồm mười hội (tức mười đoạn) theo thể Đường luật, mỗi hội gieo một vần (các hội số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 thì vần bằng, các hội số chẵn như 2, 4, 6, 8, 10 thì vần trắc), ở hội thứ tư có mấy bài kệ xen vào. Lời lẽ rất cổ, đầy dẫy điển tích nhà Phật nên khó hiểu, thí dụ đoạn mở đâu hội một:



Mình ngồi thành thị,

Nết dụng sơn lâm

Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính,

Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm.

Tham ái nguồn đình(?), chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý, Thị phi tiếng lặng, được dù nghe yến thốt oanh ngâm.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý

Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mộ chú tri âm…

và đoạn cuối hội mười:

Đấng thượng sĩ chứng thực mà nên;

Ai cậy có sơn lâm thành thị?

Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao,

Chiều vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí

Ngựa cao tàn cả, diêm vương nào kề đứa nghênh ngang?

Gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quý?

Tranh công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm ngu.

Xây đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí

Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ít bằng nhau

Mặt thánh lòng phàm, thực cánh nhẫn muôn muôn thiên lý.

(Hội một gieo vần bằng: lâm, hội mười gieo vần trắc: vần cuối hội là lý).

Có thể nói phong trào thơ phú nôm tuy mới chớm nở đời Trần, nhưng đến đời Lê sơ thì đã được đẩy lên một mức khá cao, song song với nhiều thể loại viết bằng chữ Hán.

Thế kỷ XV là thế kỷ rạng rở của chế độ phong kiến nước ta, đồng thời cũng là thế kỷ khá rạng rỡ về văn nghệ nói chung và thể loại văn học nói riêng. Thời này, nhờ kinh tế và chính trị tương đối ổn định sau cuộc kháng Minh thắng lợi và trong lúc chế độ phong kiến tiến đến đỉnh cao của nó, nền văn hóa có điều kiện phát triển về mọi mặt: giáo dục thi cử, sưu tập nghiên cứu, xướng họa thơ văn, sáng tác ca nhạc. Ở nửa sau thế kỷ XV, có một lúc hội Tao đàn đã làm đúng được vị trí hạt nhân của phong trào văn nghệ cung đình. Trong không khí rộn rịp đó, Vũ Quỳnh đã viết Văn thành bút pháp và Lương Thế Vinh đã soạn Hí phường phả lục.

Trước hết hãy nói đến thơ ca quốc âm: nói chung các thể thơ phú đã có từ đời Trần, thì nay vẫn được duy trì. Hiện còn bài Lượng như long phú bằng quốc âm của Nguyễn Tắc Dĩnh đời Hồng Đức theo thể Đường luật (lấy độc vận: rồng). Thơ nôm, ngoài một số lẻ tẻ, còn được chép trong hai tập: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và các nhà thơ thời Hồng Đức: thể thơ ở đấy nới chung là thể Đường luật, trừ thể thất ngôn xen lục ngôn là một thể thơ có sáng tạo từ đời Trần. Như chương trên đã nới, thể lục ngôn xen thất ngôn đặc biệt của ta không giống thể lục ngôn của Trung Quốc câu nào cũng sáu từ, hay cũng khác hẳn thể trường đoản cú mà thỉnh thoảng có xen vào đôi câu lục ngôn. Đây là một thể thơ cách luật kiểu Việt Nam, dựa vào Đường luật về mặt thanh và đối, nhưng có thay đổi về số lượng từ trong câu thơ; thể thơ này là kết quả của sự tổ hợp giữa hai thể lục ngôn và thất ngôn, chỉ thấy dùng trong thơ quốc âm và sau này không thấy lưu hành nữa.

Cuối thế kỷ này và đầu thế kỷ XVI, có bài Bát giáp thưởng đào văn của Lê Đức Mao (là một thể đặc biệt): đây là lối thơ tổ hợp giữa thể song thất của ta với các thể ngữ ngôn và thất ngôn của Trung Quốc, sáng tác để cho ả đào hát, thí dụ đoạn sau đây (chú ý lối ngắt nhịp giữa 2 câu thất ngôn của Trung Quốc và 2 câu song thất của ta):



Hữu kỳ thiên tái hạ;

Nguyệt lệnh tứ dương xuân,

Lễ nhạc bách niên / tu miếu điền,

Thăng bình nhất khúc / Tụng thần công

Ngự tiền ngào ngạt hương xông.

Phượng quanh tịch múa, boa lồng chén bay…

Rồi từ đó / nhờ ân cấp túc

Tiếng quân huyền / nô nức nhân gia.

Năm năm mở tiệc xướng ca.

Đào dâng hai chữ tam đa mừng làng.

Ngoài ra, còn có các loại như ký, văn tế cũng đã được làm bằng quốc âm.

Về thơ ca chữ Hán: thể phú được sử dụng nhiều ở nửa đầu thế kỷ, phần lớn để ca ngợi cuộc Lam Sơn khởi nghĩa hoặc ca ngợi chế độ phong kiến thời Lê sơ. Hầu hết các bài phú đó theo thể Đường luật, thí dụ Chí Linh sơn phú của Nguyễn Mộng Tuân, Xương Giang phú của Lý Tử Tấn. Số lượng thơ cổ phong rất ít so với thơ Đường luật. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học ta, Lê Thánh Tông đã áp dụng loại thơ tiến thoái cách thường để làm các bài xướng cho văn thần họa lại. Thơ Đường luật còn được sử dụng hoặc để vịnh các nhân vật lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam, hoặc để kể các truyện lịch sử hầu hết ở Trung Quốc. Lối thứ nhất là lối thơ vịnh sử, lối thơ này đời Trần đã có, thí dụ như thơ của Trần Anh tông vịnh Hán Cao tổ hay vịnh Hán Văn đế v.v… Lối thơ này ở thế kỷ XV phát triển đến mức độ là nâng lên thành những tập thơ chuyên đề hẳn hoi, thí dụ như quyển Cổ tâm bách vịnh của Lê Thánh Tông vịnh các nhân vật lịch sử Trung Quốc, quyển Thoát hiên thi tập của Nguyễn Minh Khiêm vịnh các nhân vật lịch sử Việt Nam. Các nhân sĩ đời sau như Đỗ Yên, Hà Nhậm Đại cũng tiếp tục lối này.

Lối thứ hai là lối kể truyện, thí dụ như thơ của Thái Thuận kể truyện Hạng Vũ từ biệt Ngu Cơ hay Minh hoàng nhớ Quý phi. Có lẽ đây là tiền đề cho loại truyện thơ sau này như truyện Vương Tường hay truyện Tô công phụng sứ… Riêng bài Hương miết hành có dáng dấp một truyện thơ theo thể thất ngôn trường thiên.

Thế kỷ XV chẳng những là một thế kỷ phát triển về thơ, mà còn là một thế kỷ khá phát triển về nhạc. Nguyễn Trãi, Lương Đăng ở nửa đầu thế kỷ là những người giỏi nhạc, Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh… ở nửa sau thế kỷ cũng là những người rất chú ý đến nhạc. Tập Quỳnh uyển cửu ca do Lê Thánh Tông sáng tác và được các nhà thơ trong hội Tao đàn họa lại, là tập thơ dùng để phổ nhạc. Hình thức thơ ở đây theo thể bát cú Đường luật, chứ không theo lối trường đoản cú trong từ khúc. Lối từ khúc chỉ riêng Nguyễn Húc ở nửa đầu thế kỷ là sở trường.

Từ khúc là những bài hát cổ của Trung Quốc, thịnh hành từ đời Đường, nhưng nguồn gốc thì từ nhạc phủ đời Hán Vũ đế (25–27). Nhạc phủ đời Hán nhằm sưu tập những bài dân ca, sắp xếp lại thành các mục như Tương hòa khúc từ, Tạp khúc ca từ, Cổ xúy khúc từ. Lối nhạc phủ đó tiếp tục được phát triển thời Nam Bắc triều, đến đời Đường chuyển thành phong trào tân nhạc phủ. Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn rất có công trong việc này. Từ khúc đời Đường có đến hàng trăm điệu, một phần do văn nhân phóng tác hoặc cải biên điệu cũ, đa số là làn điệu dân gian. Các điệu cổ nhất trong nhạc phủ đời Hắn gọi là Tương hòa khúc từ như Giang nam, Cao lý, Phỉ lộ thường được nhắc đến trong văn học ta. Từ khúc đời Đường thiên về mô tả tình yêu hơn; mấy điệu xưa nhất và tiêu biểu nhất là điệu Vọng Giang Nam như bài Oán thán hay như điệu Bồ tát may (bài Khuê tình) hay nữa như điệu Ức Tần Nga (bài Thu từ).

Từ khúc truyền sang ta khá sớm như đã nói ở trên trong điều kiện mà nghệ thuật múa hát và nghệ thuật sân khấu của ta đã có cơ sở. Trừ một số tên bài hát của đời Trần mà không rõ lời ca như thế nào, thí dụ Trang Chu mộng điệp, Bạch lạc thiên mẫu biệt tử, Giáng châu long, Nhập hoàng đô, Yến dao trì… rất tiếc không còn lại bài nào trước đời Lê nữa, ngoài bài Tiễn Lý Giác của Ngô Chân Lưu đã nói ở trên, chỉ còn lại một số bại của Nguyễn Húc như các điệu Vọng Giang Nam, Ức Tần Nga, Bồ tát man, Điệp luyến hoa, Tây giang nguyệt, Ngọc lâu xuân, Mạn đình phương, Tấm viên xuân…. Lối từ khúc này vẫn được các nhân sĩ thỉnh thoảng sử dụng ở các thế kỷ sau, như Phùng Khắc Khoan ở thế kỷ XVI, với bài Thưởng xuân (theo điệu Tấm viên xuân), Phạm Thái ở thế kỷ XVIII với bài Cẩm thảo (theo điệu Tây giang nguyệt) và một số bài trong Thánh tông di thảo của Lê Thánh tông(?), trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ hay trong Truyền kỳ tâu phả của Đoàn Thị Điểm. Riêng Đào Duy Từ có làm mấy bài ngắn bằng quốc âm cũng theo lối trường đoản cú trong Tư dung vãn. Đến đầu thế kỷ XX, một số nhà thơ ca như Nguyễn Khắc Hiếu, Đoàn Tư Thuật… cũng trở lại với lối này, nhưng bằng quốc âm.

Xem vậy đủ rõ ở thế kỷ XV, khá nhiều hình thức thơ ca được phát triển trong đó từ khúc là một lối thường ít được ta chú ý. Đến thế kỷ XVI, XVII là những thế kỷ mở đầu cho bước đường suy vong của chế độ phong kiến, các thể thơ ca mô phỏng vẫn như trước, không có gì mới. Có chăng chỉ thấy Phùng Khắc Khoan đã chú ý đến lối tập cú (cũng gọi là tập cổ), rút những câu thơ cổ trong văn học Trung Quốc để làm thành một bài mới, thí dụ bài:

LỮ NGỤ THƯ Hoài

Yên hòa tương vương, vạn lý gian (Hồ Húc)

Tứ phương tao loạn nhất châu an (Trương Tân)

Trần ai mãn nhãn nhân tình dị (Đàm Dung Chi).

Y phục sơ hồi tả nhậm nan (Lưu Vũ Tích)

Lữ mộng hoàn tùy hồ điệp tán (Vương Kiên)

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn (Lý Thân)

Đãn tương tâm địa tồn trung hiếu,

Lưu thủ công danh cửu viễn khan (Thái Tương).

Lối này chỉ có tính cách hiếu kỳ vẻ mặt nội dung, riêng về hình thức thơ thì không có gì thay đổi; các nhà văn sau này thỉnh thoảng cũng có sử dụng và dần dần chuyển sang lối tập Kiều với thể lục bát. Nhà thơ Phan Mạnh Danh rất sở trường về lối thơ tập cổ, đã soạn thành quyển Bút hoa, cứ dẫn một bài thơ chữ Hán ở trên thì lại dẫn những câu tập Kiều với ý nghĩa na ná ở dưới.

Sự kiện đáng chú ý ở hai thế kỷ XVI, XVII, là các hình thức thơ phú nôm phát triển mạnh hơn so với thế kỷ trước. Như chúng ta đã thấy, ở thời Trần, sau cuộc kháng Nguyên thắng lợi, từ đời Trần Nhân tông về sau, văn học viết bằng quốc âm được nâng lên một mức; tiếng nói dân tộc do đó cũng dần dần chiếm được vị trí của mình trên văn đàn. Từ cuối Trần đến đầu Lê, sau cuộc kháng Minh thắng lợi, nhất là từ đời Hồng Đức trở đi, văn học viết bằng quốc âm lại được chú ý thêm một bước nữa. Mặc dù gặp những trở ngại của chiến tranh, dòng văn học viết bằng nôm vẫn tiến triển qua các thế kỷ kế tiếp. Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn vẫn được Nguyễn Bỉnh Khiêm kế thừa trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, cũng như Trịnh Căn kế thừa trong Thiên hòa doanh bách vịnh tập I, tuy tỉ lệ có ít đi. Thể thơ này từ thế kỷ XVIII trở đi thì không thấy nữa, phú nôm Đường luật thời này cũng phát triển hơn và có nhiều người tham gia như Nguyễn Giản Thanh, Bùi Vịnh, Nguyễn Hàng… Hình thức phú nôm dùng trong có kỳ thi hội từ đời Trần Anh Tông, nay lại được phục hồi, thí dụ bài Phụng thành xuất sắc phú của Nguyễn Giản Thanh (tiến sĩ năm 1508).

Nếu ở thế kỷ XV, xã hội nước ta được tương đối ổn định, thì đến thế kỷ XVI về sau, cho đến thế kỷ XVII, XVIII lại có nhiều cuộc bạo động nông dân và nhiều cuộc xung đột giữa các tập đoàn thống trị trong giai cấp phong kiến. Trong tình hình đó, số lượng tác phẩm bằng chữ Hán so với đời Lê sơ có giảm đi, nhưng số lượng tác phẩm bằng quốc âm lại tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ rằng tiếng nói của dân tộc và những tác phẩm viết bằng tiếng nói dân tộc, không phụ thuộc vào quy luật hưng vong của các triều đại phong kiến, mà chỉ theo quy luật tiến triển từ thấp lên cao, phù hợp với các phong trào nông dân chống phong kiến từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Các hình thức diễn ca lịch sử và truyện thơ bằng các thể lục bát và lục bát gián thất (gọi tắt là song thất) là những hình thức đặc biệt trong văn học ta, hình thành và phát triển trong tình hình nói trên, có xu hướng lấn át các thể thơ ca khúc.

Ở thế kỷ XV, như trên đã nói, thể thơ Hán văn Đường luật đã được áp dụng phần nào đề kể truyện và tiến đến một bước nữa, thơ nôm cũng được dùng để kể truyện, tuy mức độ còn thấp. Do đó có người cho rằng ba truyện thơ Đường luật (Vương Tường, Tô công phụng sứ, Lâm tuyền kỳ ngộ) có thể ra đời vào khoảng thế kỷ XVI, XVII. Một điều chắc chắn là ngay từ thế kỷ XVI đã có hình thức tự truyện bằng lục bát, thí dụ như bài Đào nguyên hành của Phùng Khắc Khoan, dài gần vài trăm câu hoặc hình thức nửa diễn ca, nửa ngâm khúc bằng song thất như bài Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải, dài đến khoảng ba trăm rưởi câu. Các hình thức trên tiếp tục phát triển mạnh hơn ở thế kỷ XVII; về tự truyện, như bài Tư dung vãn của Đào Duy Từ dài cũng trên ba trăm câu, chưa kể hai bài thơ bát cú và năm bài ca trường đoản cú; về diễn ca lịch sử như tập Thiên Nam minh giám bằng song thất ở nửa đầu thế kỷ XVII dài 936 câu và tập Thiên nam ngữ lục bằng lục bát ở nửa sau thế kỷ XVII, đó là một tác phẩm dài đến 8.136 câu. Tập diễn ca này có nhiều đoạn bao gồm từng truyện mà nếu tách ra cũng có thể thành những truyện thơ hẳn hoi, thí dụ truyện An Dương vương, truyện Phù Đổng thiên vương, truyện Trưng nữ vương v.v… Ngoài ra, cũng có người cho rằng các truyện lục bát như Ông Ninh cổ truyện, Chúa Thao cổ truyện có thể xuất hiện khoảng thế kỷ XVII. Như vậy, hình thức truyện thơ bằng thể lục bát cổ truyền đã hình thành từ các thế kỷ XVI, XVII. Cách bắt vần của thể lục bát cũng như song thất thời này đều có chỗ cần chú ý:

Về lục bát, các tác giả thời này vừa dùng hệ thống phổ biến với vần câu lục bắt xuống vần câu bát ở từ thứ sáu, đồng thời lại dùng cả hệ thống đặc biệt ngay trong một tác phẩm của mình tức là vần câu lục bắt xuống vần câu bát ở từ thứ tư. Thí dụ:



Bông lam lông vịt lấy bông

Làm chăn làm đệm, mùa đông ngự hàn.

Trâu bò, gà lợn dê ngan

Đầy lũ đầy đàn rong thả khắp nơi.

Thời nào vật lứa của tươi,

Che chở người đời phúc trời ơn vua.

Chữ rằng: Thân tại giang hồ,

Tâm hồn ngụy khuyết, mặc vua sao đành?

(Đào nguyên hành)

Tỷ lệ những câu bát theo hệ thống đó so với những câu bát theo hệ thống phổ biến, trong Đào nguyên hành là 16,3%, trong Chúa Thao cổ truyện là 14,6%, trong Thiên nam ngữ lục là 12, 7%. Theo sự tổ hợp tự nhiên thì câu bát theo hệ thống 4 + 4 trên chính là thể tám từ, mà thể tám từ lại là thể tổ hợp của thể bốn từ với bốn từ. Như vậy, phải chăng hệ thống bắt vần ở từ thứ tư câu bát là cổ hơn hệ thống bắt vần ở từ thứ sáu câu bát? Một điều chắc chắn là hệ thống 4 + 4 nói trên rải rác chỉ còn thấy trong các truyện thơ như Tống Trân, Lý Công… chứ không thấy ở các truyện thơ sau này như Hoa tiên, Kiều.

Về song thất, các tác giả thời xưa cũng vừa bắt vần từ câu bát sang câu thất–trắc ở từ thứ năm như hệ thống phổ biến, lại cũng vừa bắt vần sang câu thất–trắc ở từ thứ ba theo hệ thống đặc biệt Thí dụ:



Tiếc xuân có phú chắc hiềm

Trượng phu lòng sắt dễ mềm vậy vay.

Cớ chi mày hỡi con đỗ vũ

Quyến xuân về lại rủ hè sang

Hây hây mơ mệt hải đường

Xanh phô màu liễu, lục trương tán hòe.

Bến Thủy đình, cầm ve mới gảy

Lạch Kim hôi đã nảy tiền sen

Kìa ai leo lẻo lòng thiền,

Trần ai rửa sạch non tiên sớm vào.

(Tứ thời khúc vịnh)

Cả hai cách bắt vần (Cớ chi mày/ hỡi con đỗ vũ, hay Bến Thủy đình / cầm ve mới gảy) cũng là kiểu nói lối của thể bảy từ với nhịp phổ biến 3 + 4, nhưng có khác nhau ở cách bắt vần. Có điều là khi vần đã chuyển sang từ thứ năm, thì từ thứ ba câu thất–trắc có thể là trắc và như vậy rất thuận lợi cho sự xác lập lối bình đối trong hai câu song thất: dạng “hai trắc ôm một bằng” của câu thất–trắc đối với dạng “hai bằng ôm một trắc” của câu thất–bằng. Như vậy, xét về mặt kỹ thuật của câu thơ, thì sự chuyển vị trí vần lưng ở câu thất–trắc ra sau (từ thứ năm) là một tiến bộ. Phải chăng, hệ thống đặc biệt (vần ở từ thứ ba) cổ hơn hệ thống phổ biến hiện nay (vần ở từ thứ năm)? Một điều chắc chắn là hệ thống đặc biệt đó, sau này còn thấy rải rác trong một số bài thơ cổ như: Bồ đề thắng cảnh thi, Hà Tiên thập cảnh, Cầm tháo, chứ không thấy trong Chinh phụ ngâm khúc hay Cung oán ngâm khúc (riêng Tuy Lý vương ở thế kỷ XIX trở lại áp dụng hệ thống đặc biệt vào đó trong bài (Hòa lạc ca).

Rõ ràng thơ ca quốc âm ở những thế kỷ XVI, XVII, so với thế kỷ XV, đã tiến một bước cao hơn, cao hơn không phải chỉ đơn thuần về mặt số lượng, hay cũng không riêng về mặt uyển chuyển của câu thơ trong lối gieo vần, ngắt nhịp, phá cách như đã chứng minh ở trên, mà chính là ở chỗ các nhà thơ ta, do ảnh hưởng của sự lớn lên của tiếng nói dân tộc, cũng như sự lớn lên của phong trào nông dân đã biết dùng các thể thơ cổ truyền để biểu hiện cảm xúc và tư duy của mình, cũng như để diễn tả những sự kiện lịch sử quan trọng. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà Hoàng Sĩ Khải dùng thể song thất viết Tứ thời khúc vịnh dâng lên chúa Trịnh hay Phùng Khắc Khoan dùng thể lục bát viết Đào nguyên hành kể tâm sự của mình mà chính do hai ông đã thấm nhuần tinh thần dân tộc trong thơ ca.



Cần chú ý rằng xã hội ta từ thế kỷ XVII về sau có nhiều yếu tố mới về các mặt kinh tế và chính trị. Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp lâu đời, nền luân tế hàng hóa có mầm mống từ trước đời Lê sơ, đến thế kỷ XV tiến một bước, qua thế kỷ XVI, XVII lại tiến thêm một bước nữa, bắt gặp cái đà xâm nhập của tư bản phương Tây. Nền kinh tế hàng hóa nói trên lại phát triển mạnh hơn ở thế kỷ XVIII, về sau và trong chừng mực nào đó tùy từng lúc có ảnh hưởng đến đời sống và làm cho nó thêm đa dạng, phức tạp hơn. Thế kỷ XVIII lại là một thế kỷ có nhiều biến động về chính trị giữa tình hình suy sụp của giai cấp phong kiến và tình hình phát triển của các cuộc bạo động khởi nghĩa nông dân mà cái đỉnh cao của nó là Tây Sơn khởi nghĩa.

Thế kỷ thứ XVIII đánh dấu sự rạn vỡ của chế độ phong kiến tập quyền, nhưng cũng đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào nông dân bạo động. Sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến đối với con người trong cuộc sống, nhân thể bị giãn ra trong nhiều lĩnh vực của tư duy và tình cảm. Lối văn chương lâu nay bị coi là “nôm na mách qué” thực chất đã có cơ sở vươn lên tự khẳng định địa vị của mình trên văn đàn, trong quá trình đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau giữa nó và lối văn chương gọi là “bác học”. Lại cũng không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huệ đã ra lệnh dùng chữ nôm trong công văn hay đưa ra chủ trương xây dựng nền học thuật dân tộc, giao cho nhà nho yêu nước Nguyễn Thiếp thực hiện, mà chính người lãnh tụ “áo vải cờ đào” đó đã dựa vào thực tiễn thời bấy giờ mà chủ trương như vậy sao? Quả vậy, đây là một thực tiễn khách quan không lệ thuộc vào ý muốn của bọn vua chúa phản động, vì rõ ràng sự trưởng thành của thơ ca quốc âm ở thế kỷ XVIII, vẫn cứ diễn biến theo quá trình biện chứng của nó cho mãi đến thế kỷ XIX và cả sau này nữa, mặc dù Gia Long, Minh Mệnh đã tìm cách ngăn chặn tinh thần dân tộc của nhân dân ta trỗi dậy trong lĩnh vực ngôn ngữ và thi ca. Tất nhiên, không thể quan niệm là trong hai thế kỷ XVIII, XIX, các hình thức thơ ca mô phỏng viết bằng chữ Hán hay bằng chữ nôm đã suy tàn hay tiêu vong. Trong tình hình xen nhau giữa hai dòng thơ ca mô phỏng theo nước ngoài và thơ ca cổ truyền dân tộc, nói chung các thể như thơ phú Đường luật, biền ngẫu vẫn tồn tại và số lượng tác phẩm so với các thế kỷ XVI, XVII lại có phân tăng hơn. Có điều, những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Cao Ba Quát... chẳng những làm thơ chữ Hán hay, mà làm thơ quốc âm lại cũng xuất sắc. Hiện tượng này một lần nữa khẳng định ảnh hưởng tất yếu của sự thức tỉnh tinh thần dân tộc trong thơ ca cũng như của sự trưởng thành ngôn ngữ văn học của ta ở các nhà thơ lớn của thời đại. Những nhà thơ lớn ở những thế kỷ trước như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng đều có ý thức dân tộc, tuy mức độ từng người có khác nhau và nếu so với các nhà thơ như Thanh Quan, Xuân Hương ở thế kỷ XIX thì ai dám nói ý thức dân tộc của ba nhà thơ trên kia lại kém hơn? Tuy thế nhưng tại sao câu thơ quốc âm của họ so với câu thơ quốc âm của nhà thơ Thanh Quan chẳng hạn trong bài Thông Long thành hoài cổ lại không điêu luyện bằng? Điêu luyện nói đây không chỉ đơn thuần về mặt niêm luật, mà điêu luyện trong tính chất hoàn chỉnh của bài thơ về ý thơ, cũng như lời thơ. Đặc biệt ở đây phải nới đến lời thơ, vì rõ ràng ngôn ngữ văn học ở thế kỷ XIX so với ngôn ngữ văn học ở những thế kỷ trước, nhất định là phong phú hơn, trong sáng hơn, đa dạng hơn. Chúng ta có thể so sánh như vậy, nếu đối chiếu câu lục bát mộc mạc trong Đào nguyên hành của Phùng Khắc Khoan với câu lục bát hết sức uyển chuyển trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hoặc đối chiếu câu song thất gồ ghề trong Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải với câu song thất nhịp nhàng trong Chinh thụ ngâm khúc của Đoàn thị Điểm hay trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa cho rằng ngôn ngữ đã quyết định hình thức thơ ca, mặc dù ngôn ngữ có một tác dụng rất lớn, mà chính là nội dung quyết định sự lựa chọn hình thức này hay hình thức khác. Nội dung ở đây là sự kết hợp của cơ sở khách quan của xã hội với cảm nghĩ chủ quan của tác giả trong quá trình sáng tác của mình. Như đã trình bày ở trên, cơ sở xã hội ở hai thế kỷ XVIII và XIX, so với những thế kỷ trước, đã biến đổi nhiều; cuộc sống, con người tỏa ra nhiều mặt, đòi hỏi các hình thức thơ ca phải phong phú và thích hợp để biểu hiện cuộc sống đó. Các hình thức thơ phú Đường luật vẫn được sử dụng trong sáng tác thơ chữ Hán lẫn chữ nôm và cũng có những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Công Trứ với bài Hàn nho phong vị phú, hay Cao Bá quát với bài Tài tử đa cùng phú. Nhưng thơ phú Đường luật vì gò bó quá, thiếu tính chất uyển chuyển để diễn tả được nhiều mối tình éo le thời bấy giờ, nếu không có thể song thất của ta. So với thể thơ phú Đường luật, thì thể song thất rất đắc dụng ở những thế kỷ này, như để tả tâm sự người cung nữ (Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều), tâm sự người chinh phụ (Chinh thụ ngâm khúc, bản dịch của Đoàn Thị Điểm), tâm sự người vợ khóc chồng (Ai tự vãn của Lê Ngọc Hân), tâm sự người bị nghi oan (Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ) v.v… Về thể này, Cung oán ngâm khúc được coi như tác phẩm kiểu mẫu thuộc loại sáng tác, còn Chinh phụ ngâm khác được coi như tác phẩm kiểu mẫu về loại chuyển dịch, mặc dù đứng về mặt hình thức kỹ thuật thơ, cả hai khúc ngâm đó đều là những áng văn xuất sắc thời bấy giờ và cả về sau nữa.

Nếu thể song thất thích hợp cho các khúc ca trữ tình, thì thể lục bát lại thích hợp cho lối tự sự của truyện thơ, một thể loại được hình thành khoảng thế kỷ XVI, XVII. Số lượng của truyện thơ trong hai thế kỷ XVIII, XIX khá lớn. Nói chung câu thơ và kết cấu trong nhiều truyện còn ở mức độ thấp, như lời văn còn mộc mạc, bố cục còn giản đơn, thí dụ như các loại truyện Thạch sanh, Lý Công… Dần dần, xuất hiện một loại truyện thơ với mức độ kỹ thuật cao hơn, thí dụ như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Đoạn trường tân thanh (tức Truyện Kiều) của Nguyễn Du. Trong văn học quốc âm của ta, thời xưa chỉ có truyện dân gian truyền miệng, chứ không có tiểu thuyết bằng văn xuôi, do đó truyện thơ chiếm một địa vị rất quan trọng, vì rằng một mặt nó có thể thay thế cho truyện dân gian, mặt khác lại cũng thay thế cho trường ca anh hùng hoặc trữ tình mà chúng ta cũng không có thời bấy giờ. Tuyệt đại đa số truyện thơ đều không rõ ra đời vào thời gian nào. Cho đến nay, mới biết được truyện thơ Song tinh bất dạ của Nguyễn Hữu Hào ra đời khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, trước Truyện Kiều khoảng một thế kỷ.

Nếu chúng ta so sánh văn Song tinh bất dạ với văn Kiều, thì rõ ràng văn Kiều đã vượt xa nó về mặt tinh vi kỹ thuật cũng như về mặt phong phú của ngôn ngữ. Truyện Kiều thừa kế được những thành tựu tốt đẹp của các loại truyện thơ trước nó và lại được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ uyển chuyển của thế kỷ XIX, thông qua sự sáng tạo của nhà thơ thiên tài Nguyễn Du, đã trở thành một kiệt tác trong văn học Việt Nam. Chỉ riêng việc khai thác hình thức câu thơ như nghệ thuật tả cảnh, tả người, tả tình… cũng đã làm tốn không biết bao nhiêu là bút mực! Truyện Kiều là cái đỉnh của thể thơ lục bát.

Nói về thơ, rõ ràng ở hai thế kỷ XVIII, XIX, số lượng và chất lượng so với các thế kỷ trước cao hẳn lên một bậc. Riêng về ca nhạc, ít có tài liệu ghi rõ. Chỉ biết rằng các lối ca nhạc cung đình từ thời Lê sơ vẫn được duy trì với ít nhiều thay đổi. Ở thế kỷ XVIII, các nhà nho như Lê Quý Đôn, Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Huy Quýnh… được giao quyền để soạn những bài ca chúc tụng chúa Trịnh.

Trong các hình thức thơ áp dụng vào âm nhạc, cũng có những điểm sáng tạo, thí dụ như Phạm Thái trong bài Cầm tháo đã phối hợp thể song thất lục bát của ta với điệu Tây giang nguyệt trong từ khúc Trung Quốc:

Oanh yến véo von gọi khách,



Cỏ hoa hớn hở mừng ai

Gió xuân hây hẩy giục đưa người

Dễ khiến lòng thơ bối rối.

Thấp thoáng thoi oanh dệt liễu

Thung thăng phấn bướm dồi mai

Vũ lăng xa diễn, biết bao vời!

Khôn hỏi Đào nguyên đâu tá?

Dòng ngư câu gieo lá tình thi.

May thay một hội tương kỳ.

Đã bên tình phận lại bề phong lưu.

Câu hảo cầu, đợi người thục nữ.

Năm mây phong, đôi chữ đồng tâm

Đón xuân nhắn với tri âm,

Tính tình xin tỏ tiếng cầm này cho…

Trong thế kỷ XIX, chúng ta còn thấy nhiều hình thức của ca trù và nhiều bản tuồng chèo được ghi lại. Rõ ràng các hình thức thơ ca bằng quốc âm đã dần dần chiếm hẳn được vị trí thích đáng của nó trong văn đàn. Riêng lối hát nói trong ca trù tiến đến dạng ổn định của nó gồm 11 câu và dạng biến cách của nó (dôi trổ giữa). Những nhà thơ nổi tiếng về thể hát nói là Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh… Tuy nhiên, về sau cũng có người dựa theo thể hát nói đó để làm những bài thơ dài hơn, thí dụ như bài Hương sơn phong cảnh của Vũ Phạm Hàm, gồm 75 câu.

So với trước, thể biền ngẫu bằng quốc âm thời này được phát triển hơn. Trước hết, hãy nói đến loại thư có tính cách công văn dưới hình thức biền ngẫu: bức thư còn lại hiện nay coi như cổ nhất là bức thư của Trịnh Kiểm gửi quận công Phan Ngạn (nhan đề là: Trịnh Kiểm dị Phan quận công thư và bức thư của Trịnh Tráng gửi Nguyễn Phúc Nguyên năm 1625. Loại công văn dưới hình thức biền ngẫu này được dùng nhiều ở đời Tây Sơn, hầu hết do Phan Huy Ích thảo ra, thí dụ như Du nhị súy quốc âm chiếu văn, hoặc như Diệu quận quán thứ quốc âm hiểu văn đều vào năm 1800. Đoạn cuối của bài thứ hai như sau:

Nghiêm cơ giời đành thu góp về nhân,



Vâng nơi thánh lấy chở che làm lượng

Bao nhiêu kẻ trót theo đảng dữ như đã thích mê hồi thiện, thì đều noi chúc nghiệp cũ cho yên,

Hoặc mấy người riêng bấm chí cao, mà hay nỗ lực lập công, ắt lại chịu ân hưởng nay càng hậu.

Dầu trước có hà tì nào xá trách,

Ai sớm hay sớm ngộ thảy đều dung

Hội thanh minh đặng trên dưới đều vui

Người Bái quận đều móc mưa hiệp sái

Phương tị vi, kíp tày chưa tỏ

Thuở Côn cương ngọc đá khôn chia

Nghĩa cả mà làm

Lòng ngay xá gửi.

Sau nữa phải kể đến một số hình thức biền văn khác như văn tế, văn sách, kinh nghĩa. Trong ba hình thức này, thì văn tế phát triển hơn, có thể do tình hình chiến tranh liên miên, chết chóc nhiều, vì chỉ một tay nhà văn Phan Huy ích mà soạn rất nhiều bài văn tế tướng sĩ trận vong, văn tế tướng sĩ rằm tháng Bảy cho cả triều Tây Sơn ở giai đoạn đầu và triều Gia Long ở giai đoạn sau. Riêng những loại văn tế như văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh, văn tế người yêu Trương Quỳnh Như của Phạm Thái, hay văn tế chồng là vua Quang Trung của Lê Ngọc Hân… coi như loại văn tế thường tình. Trong các loại văn tế đó, loại theo thể phú Đường luật chiếm ưu thế. Riêng loại kinh nghĩa và văn sách bằng quốc âm chỉ thấy một người độc nhất là Lê Quý Đôn làm và sau này cũng không được ai nối tiếp. Ngoài ra, lối văn xuôi cổ đã được Nguyễn Tử Mận dùng trong bài phê bình Chiêu Lỳ. Lối này phải chờ đến đầu thế kỷ XX mới phát triển. Cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ các thể thơ ca bằng Hán văn dần dần được ít người làm. Các thể thơ ca bằng quốc âm ngày một phát triển. Thể văn xuôi mới xuất hiện làm hạn chế sự phát triển của loại biền văn. Trên báo chí ta vẫn còn thấy bóng dáng của phú, văn tế, riêng loại văn sách, kinh nghĩa coi như mất hẳn trừ những bài chữ Hán ở trường ốc. Thơ ca bằng quốc âm, nhất là các thể thơ ca cổ truyền dân tộc, đặc biệt được chú trọng, không phải chỉ trong phạm vi thưởng thức văn chương thuần tuý, mà nhiều khi được vận dụng rộng rãi trong hoạt động tuyên truyền cổ động cho các lãnh vực chính trị, xã hội…




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương