Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang2/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

Chương II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC THƠ CA TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

1. HÌNH THỨC THƠ CA DÂN GIAN, CƠ SỞ CỦA HÌNH THỨC THƠ CA CỔ TRUYỀN DÂN TỘC


Như đã nói ở mục trên, cha ông chúng ta với ý chí tự cường mạnh mẽ, khi đấu tranh cho nền độc lập dân tộc, thì cũng đấu tranh cho nền độc lập văn hóa, trong đó có văn học và nghệ thuật. Nền văn học độc lập của ta mà cơ sở là các hình thức thơ ca cổ truyền, được xác định trải qua những thử thách của hàng nghìn năm lịch sử.

Nhìn lại lịch sử thơ ca, ta thấy rằng các thể thơ ca cổ truyền dân tộc của ta là những thể thơ được sử dụng phổ biến và làm cơ sở cho sự ra đời của những thể thơ mới. Sở dĩ như vậy là vì thơ ca của ta gắn chặt với tiếng nói của ta, với cuộc sống của ta, còn những hình thức thơ ca nước ngoài dù có được giai cấp thống trị phong kiến hay thực dân đề cao trong những thời kỳ lịch sử nhất định bằng cách đem dùng vào việc giáo dục ở nhà trưởng, việc thi cử hay việc tuyên truyền cho chế độ thống trị qua báo chí, sách vở…, cuối cùng cũng không tránh khỏi sự gạt bỏ qua sự sàng lọc của nhân dân ta trong quá trình tiếp thu những cái tốt đẹp của văn nghệ nước ngoài, trên cơ sở nền văn nghệ cổ truyền dân tộc.

Các hình thức thơ ca cổ truyền của ta nằm trong phạm trù văn học dân gian truyền miệng, do đó ta chưa thể hiểu rõ được xuất xứ và niên đại của nó. Có điều, mọi người chúng ta đều biết rằng không phải ngay một lúc mà chúng ta đã có được những câu tục ngữ, câu đố hay những bài ca dao, dân ca trong các dạng hoàn chỉnh và ổn định của nó. Nền thơ ca dân gian của ta chỉ có thể được sáng tạo và dần dần được nâng cao theo sự tiến triển của chế độ kinh tế và xã hội và sự tiến triển của tiếng nói dân tộc với chức năng biểu hiện cảm xúc và tư duy, trong quá trình sản xuất và chiến đấu.

Những câu hát ban đầu từ thời thượng cổ, chưa hề tách khỏi quá trình lao động mà gắn chặt với quá trình đó; có thể nói, đó là một chi tiết của công việc lao động. Những điệu hò chặt củi, hò chèo thuyền, hò kéo lưới, hò đập đất, những câu gọi bê, gọi nghé, những câu trẻ em hát, trẻ em chơi… là những câu chưa tách rời khẩu ngữ, thí dụ những câu đồng dao:



Xúc xắc

Xúc xẻ

Nhà nào

Còn đèn

Còn lửa v. v.

hay những câu ca dao:



Tay cầm con dao

Làm sao cho sắc

Để mà dễ cắt

Để mà dễ chặt

Chặt lấy củi cành…

Không nhất thiết là số từ trong dòng thơ đã được hạn định đều đặn ngay từ bước đầu, mà thật ra dòng thơ dài ngắn khác nhau, cũng như khẩu ngữ thường dài ngắn khác nhau. Những câu hát đó không thiếu gì trong thơ ca dân gian của ta, mà thường được gọi là lối trúc chi tứ. Vì mang tính chất khẩu ngữ cho nên câu hát dài ngắn thì có thể tùy ý nhưng nhất thiết phải được ghép trọn trong một dòng thơ, mà không được bắc cầu sang một dòng khác. Như vậy, câu thơ dân gian trong quá trìnhh tiến triển có tính chất tự phát của nó, được chia ra hai hướng: hoặc là tìm tới một hình thức ổn định và thích hợp với lối diễn cảm nhiều màu sắc hơn. Hướng thứ hai đó, được xác định bằng cách tổ hợp thể này với thể khác để hình thành ra một thể mới, rồi thể mới này lại tổ hợp một lần nữa với một thể khác, để trở thành một thể mới hơn v.v… Tất nhiên, sự tổ hợp này không thể vô hạn định, mà ngừng lại khi đã đạt đến một thể ổn định và thích hợp với quy luật của sự diễn đạt ngữ nghĩa và ngữ điệu. Cảm xúc và tư duy có thể biểu hiện bằng một từ và một từ có thể là một đơn vị của dòng thơ, nhưng trong văn học dân gian của ta không có thể thơ một từ như vậy – mà chỉ có thể thơ với đơn vị dòng thơ nhỏ nhất là hai từ, cái kiểu như bài Xúc xắc, xúc xẻ… nói trên, hay như bài Vè vẻ – Vè ve – Nghe vè – Chim cá – Chim sả – Cá thu – Chim cu – Cá giếc… Vì không có thể một từ cho nên không thể nói thể ba từ là sự tổ hợp của thể một từ với thể hai từ, mà thực chất thể ba từ, cái kiểu như bài Xỉa cá mè – Đè cá chép – Chân nào đẹp – Đi buôn men – Chân nào đen – Ở nhà làm chó… hay như bài Rồng rắn chỉ được coi như cùng với thể hai từ, là hai thể cơ bản: một chẵn một lẻ hay nói theo thuật ngữ triết học phương Đông là một âm một dương.

Sự tổ hợp ở bậc thấp là sự tổ hợp đơn thuần một âm với một âm như: thể hai từ với hai từ thành thể bốn từ như kiểu bài:

Bồ cu, bồ các

Tha rác lên cây

Gió đánh lung lay…;

hay là một dương với một dương như: thể ba từ với ba từ thành thể sáu từ như kiểu các câu tục ngữ:

Ăn cơm mới, nói chuyện cũ.

Đói cho sạch, rách cho thơm.

hay câu dân ca:

Miễn em mở miệng em ừ.

Anh sẽ chẳng từ lao khổ.

hay nữa là một âm với một dương như: thể hai từ với ba từ thành thể năm từ như kiểu các câu tục ngữ

Cơm treo, mèo nhịn đói

Ăn xôi chùa, ngọng miệng.

hoặc như lối hát giặm Nghệ Tĩnh, sẽ nói ở phần hai.

So với thể bốn từ thì thể năm từ và thể sáu từ đã cao hơn về chất lượng. Đúng là như vậy, vì số lượng từ trong dòng thơ tăng lên, sẽ dẫn đến sự phối trí không phải chỉ đơn thuần về nhịp điệu âm tiết, mà còn cả về nhịp điệu của sự biểu hiện cảm xúc và tư duy. Sự phối trí này nâng tính đa dạng của hình thức thơ lên một bậc. Tính đa dạng này sẽ được nâng dần lên, khi sự tổ hợp tiến lên bậc cao hơn, như sự tổ hợp của thể ba từ với bốn từ thành thể bảy từ thí dụ:



Mâm sơn nhịp, mâm nan cũng nhịp;

Phượng hoàng đua, bìm bịp cũng đua;

hay sự tổ hợp của thể bốn từ với bốn từ thành thể tám từ, thí dụ:



Thân tôi cô quả, từ thuở lên ba;

Mặt mẹ mày cha, tôi chua lừng thấy

Đường cày đường cấy, tôi chửa từng quen

hay nữa là sự tổ hợp của các thể như bốn từ với năm từ thành chín từ, năm từ với năm từ thành mười từ v.v…

Tuy nhiên, như đã nói ở đoạn trên, sự tổ hợp không thể tiến triển một cách vô hạn độ được, mà phải dừng lại khi gặp một hình thức thích đáng. Hình thức ổn định cao nhất trong nghệ thuật thơ ca cổ truyền của ta chính là hai thể lục bát và lục bát giát thất, trong đó thể lục bát được coi như thể cơ sở, vì bản thân nó có thể đứng riêng một mình trong các thể loại lớn như diễn ca, truyện thơ…, còn lục bát gián thất thì đúng như tên của nó, là cộng thêm sự tổ hợp với thể bảy từ, chứ bản thân thể bảy từ đứng riêng một mình thì lại không phải là thể phổ biến và nếu như có được áp dụng vào truyện thơ kiểu Lục súc tranh công thì tính hoàn chỉnh của thể thơ sẽ bị phá vỡ, vì lối ngắt nhịp của nó quá cố định, khác hẳn với lối ngắt nhịp sinh động của thể lục bát như đã nói ở chương Sự xác định tinh thần dân tộc… Chúng ta đã thấy rõ rằng thơ lục bát là lối thơ cổ truyền của ta, khác hẳn với lối thơ của Trung Quốc về cách ngắt nhịp, cách gieo vần. Hơn thế nữa, nếu căn cứ vào quy luật tổ hợp để xét về kết cấu câu thơ, ta càng thấy rõ thể đó là kết quả ở mức độ cao của sự tổ hợp giữa thể sáu từ với thể tám từ. Tuy nhiên, chắc chắn ngay từ lúc đầu, căn cứ vào quy luật phối hợp của thanh điệu, nhạc điệu với ngữ điệu cha ông chúng ta không thể có được dạng hoàn chỉnh sáu tám (6/8) như chúng ta thường biết, mà phải trải qua nhiều khâu mò mẫm, chọn lọc, sắp xếp qua các dạng có tính chất tiền đề, thí dụ như các câu ca dao:


– dạng:

4

4 + 4

Người đẹp như tiên

Tắm nước đồng Triền, cũng xấu như ma.

Người xấu như ma,

Tắm nước đồng Trà, cũng đẹp như tiên.

– hay dạng:

4 + 4

6

Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò.

Chín tháng lò dò biết đi v.v…

Rõ ràng thể thơ lục bát hoàn chỉnh với nhiều nét đặc sắc của nó mà chúng ta có được ngày nay là kết tinh của sự sáng tạo của ông cha chúng ta, thông qua quá trình sản xuất và chiến đấu lâu dài và bền bỉ. Thể lục bát với nhịp điệu uyển chuyển, tổ hợp với câu song thất với nhịp điệu rắn chắc của nó, trở thành thể lục bát gián thất là một thể có nhịp điệu rất sinh động. Có thể nói thể lục bát và thể lục bát gián thất là hai thể xuất sắc và phổ biến nhất trong các hình thức thơ ca cổ truyền của ta.

Tuy nhiên, khi nói các hình thức như lực bát và lục bát gián thất tiến đến mức độ hoàn chỉnh, thì không có nghĩa nói rằng các hình thức đó nhất thiết không bao giờ biến dạng nữa. Chúng ta không phủ nhận tính loại biệt của thơ ca và hình thức thơ ca. Nhưng hình thức thơ ca như đã nói ở chương trên là gắn với cuộc sống và cuộc sống thay đổi, thì hình thức thơ ca không thể không thay đổi, không thể không có những nét biến dạng.

Trở lại từ buổi ban đầu thời thượng cổ, chúng ta thấy ca, vũ nhạc chưa tách rời nhau. Bài ca ban đầu gắn chặt với điệu bộ của thân thể, điệu bộ của động tác trong lao động, như vậy là đã bao gồm ba yếu tố nói trên vì điệu bộ là tiền đề của vũ, giọng hò và âm thanh của nhịp điệu động tác phát ra là tiền đề của ca và nhạc. Dần dần bài ca không phải chỉ dừng ở chỗ phục vụ trực tiếp quá trình lao động, mà có xu hướng vươn lên bằng cách mô phỏng nó và nghệ thuật hóa nó đi, tùy từng mức độ nhất định. Ngày nay chúng ta nghe những điệu hò sông Mã ở Thanh Hóa, hò hụi ở Quảng Bình, hò mái nhì, mái đẩy ở Thừa Thiên, chúng ta chỉ còn nhận định được bóng dáng của điệu bộ lao động, chứ lời ca và nét nhạc so với điệu bộ lao động thì đã được nâng cao và biến hóa đi nhiều. Bước thứ nhất, ca nhạc tách khỏi vũ, đến bước thứ hai, nhạc lại tách khỏi ca. Ngày nay chúng ta có khái niệm phân biệt ca dao khác với dân ca là có lý do chính xác của nó. Dân ca khác với ca dao ở chỗ dân ca có nhạc điệu cụ thể, và nếu khi ghi lại mà tước bỏ phần nhạc, thí dụ như Kinh thi, thì chỉ còn lời ca giống như ca dao. Theo nghĩa của sách Thuyết văn, cũng như theo lời chú thích của sách Mao truyện, thì nghĩa cổ của từ ca là hát có nhạc đi theo, còn nghĩa cổ của từ dao là hát riêng không có đàn sáo đi theo. Hiểu như vậy thì ca dao là một thuật ngữ chỉ bao trùm những bài hát hoặc có nhạc, hoặc không có nhạc. Nhưng trong thực tế, những bài hát cổ của Trung Quốc cũng như của ta thời xưa, vì quá lâu đời không rõ nét nhạc như thế nào nữa, nên chỉ còn truyền và ghi lại được lời ca. Vậy nói ca dao cổ là nói những lời ca đó, còn nói dân ca là nói những bài hát có nét nhạc rõ ràng, thí dụ các điệu trống quân, cò lả, quan họ v.v… Sở dĩ phân biệt sự khác nhau giữa ca dao và dân ca, là để hiểu rằng khuôn khổ của câu thơ lục bát hay lục bát gián thất hoàn chỉnh có khi chỉ thích hợp cho việc sáng tác ca dao hay sáng tác thơ, còn nếu áp dụng vào việc sáng tác lời ca trong các làn điệu dân ca, thì tùy mức độ cụ thể mà khuôn khổ đó phải giãn ra cho thích hợp. Chính sự giãn ra đó đã làm cho các câu lục bát hay lục bát gián thất phải chuyển từ chính thể ra biến thể. Hình thức lục bát biến thể nói đây khác hẳn với tiền đề lục bát nói ở trên; tiền đề lục bát ở giai đoạn hình thành của câu thơ có tính chất khấp khểnh không đầy đủ của nó, chính như vậy nó mới tiến triển đến mức độ hoàn chỉnh, còn lục bất biến thể ở giai đoạn phát triển của câu thơ, lại từ mức độ hoàn chỉnh mà giãn ra, nhưng giãn ra trên cơ sở duy trì cái cốt của thể hoàn chỉnh, chứ không hề phá vỡ nó, thí dụ mấy câu hát xẩm sau đây:



Lúc đêm khuya, sương lạnh, trăng mờ

Canh tàn rượu tỉnh lúc bấy giờ em nghĩ thương thân.

Em tiếc thay trong giá trắng ngần,

Nỡ gieo mình vào đám phong trần làng chơi.

Chốn hang sâu lẩn quất hương trời,

Non xanh nước biếc dễ ai người biết cho…?

mà nếu bỏ những lời đệm đi, chúng ta sẽ có những câu lục bát hoàn chỉnh:



Đêm khuya sương lạnh trăng mờ

Canh tàn rượu tỉnh, bấy giờ thương thân,

Tiếc thay trong giá trắng ngần,

Gieo mình vào đám phong trần làng chơi

Hang sâu lẩn quất hương trời,

Non xanh nước biếc ai người biết cho?…

Như vậy quy luật của hiện tượng biến thể là câu thơ giãn ra do chỗ được tăng lên một số lượng từ để biểu hiện cho đầy đủ ngữ điệu và nhạc điệu diễn cảm, nhưng với nguyên tắc là số lượng từ thêm vào đó không được thay thế vị trí của hệ thống từ trong thể hoàn chỉnh, cũng như không được ảnh hưởng tới vần và nhịp của hệ thống đó. Đối với lối lục bát gián thất, quy luật biến thể cũng tương tự như vậy. Nói chung, các hình thức biến thể của lục bát và lục bát gián thất rất cần thiết cho các làn điệu dân ca hơn là việc sáng tác thơ, vì thơ thì đã có thể có nhiều hình thức khác thay thế.

Nhìn lại các hình thức thơ ca cổ truyền của ta từ thể hai từ, thể ba từ là hai thể cơ bản… cho đến hai thể xuất sắc nhất và phổ biến nhất là thể lục bát và lục bát gián thất, chúng ta thấy rằng tác dụng và ảnh hưởng giữa các thể không đồng đều. Những thể hai từ, ba từ hiện nay coi như mất hẳn, những thể sáu từ, bảy từ, tám từ cũng vẫn được sử dụng. Thể bốn từ còn được sử dụng trong một số thơ hoặc vè, nhưng cũng không phải là thể phổ biến. Thể năm từ là một thể phổ biến trong sáng tác loại vè hát giặm Nghệ Tĩnh. So với các thể trên, thì thể lục bát và lục bát gián thất có tác dụng và ảnh hưởng lớn nhất. Thể lục bát được dùng để sáng tác các loại diễn ca và nhất là các loại truyện thơ, là những loại đã chiếm một địa vị quan trọng từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX. Thể lục bát gián thất cũng phát triển song song với thể trên và được sử dụng để sáng tác các loại tự truyện, các khúc ngâm; so với thể lục bát thì thể này dùng có bị hạn chế hơn. Cả hai thể lục bát và lục bát gián thất hiện nay vẫn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, và vẫn giữ được năng lực biểu hiện riêng (Ba mươi năm đời ta có Đảng của Tố Hữu). Trong khuôn khổ của thể loại, nhiều nhà thơ vận dụng với tinh thần sáng tạo, cách tân.

Trong mấy ngàn năm lịch sử, thơ ca của chúng ta có rất nhiều loại, nhưng phần lớn những loại bị nhân dân ta lãng quên sớm hơn chính là những loại thơ ca mô phỏng nước ngoài, riêng các thể thơ ca cổ truyền là những thể sống mãi với chúng ta và làm cơ sở cho nền văn học dân tộc.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương