Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI


Chương VI. CÁC THỂ TRƯỜNG CA, TRUYỆN THƠ, THƠ TRƯỜNG THIÊN



tải về 2.21 Mb.
trang12/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

Chương VI. CÁC THỂ TRƯỜNG CA, TRUYỆN THƠ, THƠ TRƯỜNG THIÊN


Các thể trường ca, truyện thơ, thơ trường thiên đều là những hình thức thơ tự sự, hoặc ít nhiều dựa trên phương thức tự sự.

Trong nền văn học thế giới, thơ tự sự nói chung đã có một lịch sử phát triển lâu đời từ những anh hùng ca thời cổ đại đến những tình ca, truyện thơ, thơ trường thiên. Văn học Việt Nam cũng đã để lại nhiều áng thơ tự sự có giá trị mà hình thức phổ biến hơn cả là trường ca và truyện thơ.

Trước hết là hình thức trường ca dân gian. Thông thường trường ca này có hai loại: loại anh hùng ca và loại tạm gọi là tình ca. Trong văn học kinh chưa tìm thấy hai loại riêng biệt đó mà chỉ có loại vè dài hơi. Vè là một hình thức thơ tự sự thường phản ánh một cách kịp thời hoạt động của một nhân vật, hoặc một sự kiện nào đó trong đời sống và được sáng tác bằng nhiều thể thơ: thí dụ thể hát dặm, thể lục bát hoàn chỉnh hay biến thể. Những vè dài hơi có tiếng như Vè Chàng Lía, Vè bá Phó, Vè thất thủ kinh đô. Nhìn chung kết cấu của vè còn lỏng lảo, lời vè có tính chất kể lể dàn trải, nói chung nghệ thuật vè còn mang nhiều tính chất dân gian dưới hình thức tự nhiên.

Anh hùng ca và tình ca là những bài ca dưới hình thái thơ tự sự khá phổ biến trên thế giới. Ở nước ta hình thức đó mới tìm thấy trong văn học dân tộc thiểu số. Anh hùng ca thường phản ánh những sự kiện lịch sử trọng đại, những chiến công và kỳ tích vẻ vang, có ý nghĩa toàn dân trong cuộc đấu tranh để chế ngự thiên nhiên hoặc phát triển bộ tộc. Còn tình ca thường thiên về miêu tả những cuộc tình duyên éo le “đẫm máu và nước mắt” dưới chế độ cũ.

Trong thời kỳ hiện đại, hình thức trường ca cũng đặc biệt được phát triển với những chủ đề và đề tài cách mạng. Những thiên anh hùng ca nổi tiếng của Maiacôpxki về Cách mạng tháng Mười, về nhân dân Xô Viết, về nin là những tác phẩm bất hủ. Trường ca là một hình thức của truyện thơ, nhưng không phải bất kỳ một truyện thơ nào cũng là một trường ca hoặc có màu sắc trường ca. Trường ca không dung nạp mọi loại đề tài và mọi loại tính cách. Nội dung của trường ca thường gắn với các phạm trù thẩm mỹ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả. Những tính cách chủ yếu trong trường ca dù là một tính cách riêng biệt hay tập thể cũng đều có phẩm chất cao cả ở mức độ này hay khác (với những nhân vật chính diện). Trường ca thường có cốt truyện như một truyện thơ, nhưng đôi khi cốt truyện không hoàn chỉnh, nhất là khi gắn với việc ca ngợi và miêu tả trực tiếp những sự kiện lịch sử nào đó mà bản thân những sự kiện này chưa hình thành một cốt truyện cụ thể.

Trong những năm gần đây, chúng ta có một số trường ca do văn nghệ sĩ sáng tác như Du kích sông Loan của Xuân Hoàng, Bài ca Chim chơ rao của Thu Bồn. Các trường ca hiện đại này phần nhiều đều mang màu sắc anh hùng ca thông qua việc miêu tả những tấm gương anh hùng và những chiến công oanh liệt của nhân dân ta.

Bên cạnh hình thức trường ca, trong văn học ta có một hiện tượng đáng được lưu ý, đó là sự phát triển khá phong phú về truyện thơ

Truyện thơ căn bản dựa vào phương thức tự sự với một hệ thống sự kiện và một cốt truyện để bộc lộ nội dung chủ đề. Cốt truyện trong truyện thơ cũng giống như cốt truyện của kịch, tiểu thuyết, v.v… Bằng hình thức kể có cốt truyện, nhà thơ có điều kiện đi sâu vào những tình tiết, những sự kiện của câu chuyện, những khía cạnh khác nhau của một xung đột xã hội, do đó truyện thơ có khả năng phản ánh những mặt phong phú của đời sống xã hội. Trên ý nghĩa đó truyện thơ có thể được xem như một tiểu thuyết. Một mặt khác do chỗ vận dụng ngôn ngữ thơ ca để diễn đạt nên từ hình ảnh, nhịp điệu đến cú pháp thơ ca, truyện thơ tự xác định chỗ khác nhau với tiểu thuyết.

Ngôn ngữ trong truyện thơ là ngôn ngữ có nhịp điệu, tập trung về hình ảnh và tâm trạng, gợi cảm và giàu màu sắc trữ tình. Ngôn ngữ trong truyện thơ không phải là ngôn ngữ theo lối kể của văn xuôi và lời nói thông thường mà có nhiều tính chất cách điệu hóa. Đi sâu vào quá trình sáng tạo thì giữa truyện thơ và tiểu thuyết còn khác nhau ở nội dung cấu tứ. Cấu tứ trong truyện thơ mang màu sắc của cấu tứ thơ trữ tình kết hợp với cấu tứ của tiểu thuyết. Nếu nhà thơ nào viết truyện thơ mà thiên về cấu tứ của tiểu thuyết, của lối kể trong văn xuôi thì câu chuyện sẽ bị hạn chế phần gợi cảm; nếu thiên về cấu tứ của thơ trữ tình mà không lưu ý đến tính chất xác định của hệ thống sự kiện và cốt truyện thì truyện thơ sẽ bị hạn chế về giá trị phản ánh hiện thực khách quan.

Như ở phần trên đã nói, truyện thơ có thể xuất hiện khá sớm từ thế kỷ XVI, XVII về sau và viết bằng nhiều thể thơ khác nhau như thất ngôn, bát cú Đường luật, lục bát hoàn chỉnh hoặc biến thể, và ngày nay truyện thơ cũng được viết theo thể thơ mới, thơ tự do. Có người cho rằng trong văn học Việt Nam truyện thơ chỉ là một hình thức thừa kế truyện cổ tích và được nâng cao hơn truyện cổ tích trong lúc chưa có tiểu thuyết văn xuôi. Luận điểm đó không phải không có căn cứ vì khi truyện thơ ra đời thì người ta chú ý vào truyện thơ nhiều hơn, người ta ưa kể truyện thơ hơn là kể truyện cổ tích. Từ đầu thế kỷ XX, khi tiểu thuyết mới ra đời thì hình thức truyện thơ cũng ít hẳn đi.

Truyện thơ của ta thường rút đề tài qua hai nguồn: nguồn nước ngoài thí dụ Nhị độ mai, Kiều, nguồn trong nước và đây cũng là nguồn chính như Thạch Sanh, Phạm Tải Ngọc Hoa, v.v… Nguồn trong nước hầu hết rút ở truyện cổ tích, ở truyền thuyết lịch sử. Do thành phần giai cấp và thế giới quan của các nhà thơ thể hiện trong việc khai thác đề tài cũng như trực tiếp xây dựng tác phẩm, nhìn chung truyện thơ có hai loại: một loại có tính chất bác học như Quan Âm thị Kính, Hoa tiên, v.v… một loại có tính chất bình dân như Lý Công, Tống Trân Cúc hoa.

Những truyện thơ được xem là xuất hiện sớm nhất. Được viết bằng thể tứ tuyệt và thất ngôn bát cú Đường luật, có Tô Công Phụng sử, truyện Vương Tường và Lâm tuyền kỳ ngộ. Về sau nhiều truyện thơ được viết bằng các thể thơ dân tộc như thể nói sử (Lục súc tranh công) thể lục bát chưa hoàn chỉnh như Ông Ninh cổ truyện… Và phổ biến nhất là việc sử dụng thể lục bát hoàn chỉnh vào truyện thơ như các tác phẩm Kiều, Hoa tiên, v.v…

So với tiểu thuyết truyện thơ có thể bị hạn chế hơn trong việc miêu tả, đặc biệt là việc miêu tả những chi tiết. Do đó, truyện thơ cần phải được phát huy những ưu thế riêng của thể loại như: tính chất trữ tình của cảm xúc, sự chọn lọc của hình ảnh, và sự hài hòa gợi cảm của nhịp điệu.

Trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại, vai trò và tác dụng của truyện thơ phần nào bị hạn chế so với những thế kỷ trước, song nó vẫn tồn tại và còn tác dụng. Ở thời kỳ kháng chiến và những năm hòa bình lập lại, chúng ta có một số truyện thơ viết về đề tài chiến đấu, về cuộc đời của các anh hùng chiến sĩ, về truyền thống vẻ vang trong chiến đấu của một vùng, một địa phương, về một số đề tài khác như các tập truyện thơ: Người trai Bình Định của Xuân Thiêm, Gió nam của Trần Hữu Thung, Mẹ con đồng chí Chanh của Nguyễn Đình Thi.

Trong thời kỳ tiểu thuyết chưa phát triển, thông qua hình thức kể bằng thơ, truyện thơ thực hiện luôn chức năng của tiểu thuyết. Đến giai đoạn tiểu thuyết hiện đại phát triển, truyện thơ không bị thay thế hẳn mà vẫn có chức năng và phạm vi riêng của nó trong việc phản ánh hiện thực.

Tuy nhiên sự có mặt của tiểu thuyết đòi hỏi truyện thơ phải nâng cao hơn phẩm chất và đặc trưng của thể loại.

Bên cạnh các thể trường ca và truyện thơ chúng ta có những bài thơ dài đề cập đến một vấn đề, một nhân vật hoặc một số sự kiện nào đó trong đời sống. Những thơ trường thiên này vận dụng cả hình thức tự sự và trữ tình. Cảm hứng trữ tình giữ một vai trò quan trọng. Tác phẩm không bị ràng buộc vào một hệ thống sự kiện hoàn chỉnh của cốt truyện mà gần như chỉ lấy một vài sự kiện làm chỗ dựa để xây dựng nội dung. Nhiều bài thơ trường thiên có sự kiện, nhưng không có cốt truyện rõ rệt, lấy cuộc sống khách quan làm điểm tựa nhưng lại không nhằm miêu tả sự kiện khách quan một cách hoàn chỉnh.

Trung tâm hấp dẫn của những sáng tác này không phải chỉ ở câu truyện được kể lại hoặc sự việc được dẫn ra mà chủ yếu là ở nội dung của thi tứ toát lên từ hình ảnh cảm xúc và ở sức lôi cuốn của lý tưởng.

Trong văn học cổ của ta, có những bài thơ trường thiên theo lối cổ phong (cũng gọi là thể hành), thí dụ bài Hương miết hành. Nếu như ở trường ca có những sáng tác nằm trong phạm trù văn học dân gian, thì thơ trường thiên lại thuộc phạm trù văn học thành văn.

So sánh giữa một trường ca và một bài thơ trường thiên thì cốt truyện ở rường ca rõ rệt và hoàn chỉnh hơn. Trường ca nằm trong hình thức chung của thơ tự sự, còn thơ trường thiên có vận dụng những nhân tố tự sự nhưng lại không thuộc hẳn vào loại thơ tự sự. Trường ca bộc lộ rõ rệt qua nội dung tính chất ngợi ca, hào hùng (loại anh hùng ca) còn với thơ trường thiên thì tính chất ngợi ca không phải hẳn là một thuộc tính của nội dung.

Nếu so sánh một truyện thơ với một bài thơ trường thiên thì truyện thơ là một câu truyện kể bằng thơ mà thơ trường thiên là một bài thơ dài có gắn với những sự kiện hoặc tình tiết nào đó của một cốt truyện hoặc của đời sống thực tế. Nếu so sánh giữa một bài thơ trữ tình và một bài thơ trường thiên thì bài thơ trữ tình hẹp hơn về dung lượng. Thơ trữ tình nghiêng thuần túy về yếu tố cảm xúc và suy nghĩ còn ở thơ trường thiên có sự dung nạp ít nhiều yếu tố tự sự. Thơ trường thiên là một thể thơ khá phổ biến trong văn học ở một số các nước như Liên Xô (cũ), Anh, Pháp, nhưng lại hiếm trong văn học ta thời xưa nhất là văn học bằng quốc âm. Những bài thơ trường thiên trong văn học thời kỳ hiện đại như: Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông của Xuân Diệu, Bài thơ Hắc hải của Nguyễn Đình Thi, và Ba mươi năm đời ta có Đảng của Tố Hữu, đều là những sáng tác có giá trị. Những bài thơ trường thiên này có sức diễn tả và gợi cảm mạnh mẽ, giàu tính chất sử thi mà cũng giàu cảm xúc trữ tình.



Chương VII. THƠ TỰ DO


Khi nói đến thơ tự do chúng ta thường muốn nói một thể thơ không tuân theo những quy tắc về cách luật như các thể thơ Đường, thơ lục bát, thơ mới, v.v…

Thuật ngữ thơ tự do ít được nhắc đến trong thời kỳ hình thành và phát triển của phong trào thơ mới giai đoạn 1930-1945 tuy trong thời kỳ đó có thơ tự do xuất hiện.

Thực ra thì trong một số bài theo kiểu từ khúc của Tản Đà cũng có dáng dấp, cách điệu tự do. Nhưng thơ Tản Đà vẫn chưa vươn lên được hình thức thơ tự do thời kỳ sau. Một số nhà thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nam Trân, v.v.. cũng có viết một hai bài thơ tự do trong toàn bộ sáng tác của mình. Bên cạnh những thể thơ mới ổn định như các thể năm từ, bảy từ, tám từ, v.v… những bài thơ tự do trên đã vượt ra khỏi khuôn khổ và quy tắc đó và tạo nên một nhịp điệu và âm hưởng riêng khá độc đáo. Trong bài Tiếng trúc tuyệt vời, Thế Lữ đã vận dụng những âm điệu và tiết tấu đặc biệt, những câu thơ dài ngắn xen lẫn để nâng nhạc điệu câu thơ lên, khi bay bổng, khi thiết tha dìu dặt thích hợp với chủ đề.

Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao nghe réo rắt?

Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt

Mây bay… gió quyến mây bay…

Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.

Ánh chiều thu

Lướt mặt hồ thu

Sương hồng lam nhẹ lan trên sóng biếc.

Rặng lau già xao xác tiếng reo khô.

Như khua động nỗi nhớ nhung thương tiếc

Trong lòng người đứng bên hồ.

Rõ ràng những câu thơ trên mang tính chất của hình thức thơ tự do. Nhà thơ đã cố gắng phô diễn nhạc điệu và hình thái của câu thơ cho phù hợp với tính chất của đối tượng miêu tả nên đã vượt khỏi những quy tắc cách luật cố định.

Cũng có thể kể những bài thơ tự do khác như Xuân về của Lưu Trọng Lư, Mùa đông của Nam Trân, Thiên đường và địa ngục của Võ Liêm Sơn, và các bài Thanh khí và Thư, thơ của Phạm Văn Hạnh. Một số bài thơ tự do trong thời kỳ này có đặc điểm là tuy câu thơ và bài thơ không hạn định về số từ và số câu, nhưng các câu thơ đều có sự hiệp vần; người viết chú ý nhiều đến nhịp điệu của bài thơ, nhịp điệu bên trong và cả phần nhịp điệu bên ngoài bộc lộ rõ trong âm thanh và tiết tấu.

Thơ tự do lúc này cũng có những nét thơ có dáng dấp của từ khúc. Song cả thơ mới và thơ tự do đều không phải là từ khúc. Mạch thơ tự do hoàn toàn không bị chi phối bởi một quy luật nào, mà mở rộng theo hai chiều dọc và ngang một cách phóng túng. Nhịp điệu của bài thơ tự do thường gắn với đối tượng miêu tả hơn là gắn với những làn điệu vốn có. Tuy đã có những bài thơ tự do xuất hiện, nhưng thơ tự do ở thời kỳ 1930–1945 không được nói đến nhiều. Có thể vì nhiều lý do, song một lý do căn bản là hình thức thơ đang chuyển từ thơ cũ sang thơ mới. Sự ra đời của thơ mới đang gặp những khó khăn, hoặc là do sự công kích của những nhà thơ cũ bảo thủ, hoặc do nhiệm vụ phải củng cố và phát huy những ưu điểm của thơ mới. Thơ mới so với thơ cũ là một bước phát triển, quy cách sáng tạo rộng rãi, phóng túng hơn. Những quy cách đó không phải được thừa nhận dễ dàng trên dư luận chung mà đòi hỏi phải được chứng minh bằng những sự thành công trong thực tế. Thơ tự do so với thơ mới lại càng phóng túng và rộng rãi hơn nên việc đề xướng và cổ vũ cho thơ tự do trong giai đoạn này là chưa có cơ sở thực tế trong hoạt động sáng tác cũng như trong tâm lý thưởng thức của người đọc.

Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là trong những năm đầu khác chiến thơ tự do lại phát triển với nhiều hình thức rất phong phú, nhiều cách sử dụng táo bạo, nhiều hình ảnh và tiết tấu mới lạ. Ví dụ như các bài thơ nhớ của Hồng Nguyên, Nhớ máu và Tình đất nước của Trần Mai Ninh, v.v…

Khi nói đến thơ tự do là muốn nói đến một thể thơ ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu, về sự hạn định câu và cho tác giả có điều kiện diễn tả đối tượng một cách thích hợp nhất, cho tứ thơ thoại lên bay bổng, cho nhịp điệu thơ phục vụ đắc lực nhất việc biểu hiện nội dung. Như thế là đứng về mặt hình thức cấu tạo thơ tự do có thể có câu dài ngắn khác nhau. Mạch thơ có thể liên tục hoặc ngắt ra nhiều câu ngắn, khổ thơ có thể không cần thống nhất và hạn định về số câu. Thí dụ như những câu thơ của Tố Hữu trong bài Với Lê nin:



Lê–nin đó

Muôn triệu lần nảy nở

Giữa Loài ta

Muôn triệu lần rạng rỡ

Như mặt trời chói giũa biển bao la

Và mỗi lần sóng gió nổi quanh ta

Lê-nin đó

Ngời ngời chân lý

Như những ngày xưa

Người là đồng chí

Hồn nhiên giản dị

Giũa công nông ngồi chật quanh Người

Rất yêu thương đôi mắt nheo cười

Như những ngày xưa

Người là chiến sĩ

Không sợ gian nguy không giờ phút nghỉ

Ghét mọi quân thù, ghét mọi nước sơn

Suốt đời mang tấm áo da sờn

Đôi giày ống gót mòn sỏi đá.

Về cách gieo vần thì chúng ta thấy lối gieo vần của thơ tự do cũng rất linh động. Nó không theo một quy tắc gieo vần của một thể thơ cách luật nào cả. Toàn bài thơ không theo một vần như trong thể thất ngôn bát cú và cũng không theo lối gieo vần của một số thể thơ mới. Có thể, tác giả gieo vần hoàn toàn khác nhau ở từng đoạn khác nhau. Có khi gieo theo vần chân có khi lại ở vần lưng, có khi liên tiếp, có khi gián cách, – có khi vần cả một đoạn, kết thúc bằng vần ở một câu lục bát, thí dụ:



Cây lũy

Tre thành

Giường kê cánh cửa

Bàn ăn lát nứa

Câu đối dán đè khẩu hiệu xinh xinh

Thương dân nhà chật chội

Bọn anh đóng ở đình

Chẳng tu cũng cơm muối

Cô gái Mán thương tình

Biếu anh dẫy sắn để dành trên nương.

(Minh Tiệp – Bức tranh sinh hoạt



Này giặc đói giặc thiếu

Này giặc ốm giặc xâm lăng

Chà chà vạn ức triệu

Bao vây mình hung hăng

Anh ơi tôi vẫn ngang tàng

Tôi bắn, tôi cuốc, tôi đan, tôi trồng

Tôi ăn quả chín tôi uống nước trong

Phên đan che lạnh gió đông thổi về.

(Bức tranh sinh hoạt)

Rõ ràng cách gieo vần của thơ tự do là không có quy luật. Vần không còn là một tiêu chuẩn, một nguyên tắc trong thơ nữa mà chỉ còn là một yếu tố, một phương tiện cho câu thơ giữ được nhịp điệu.

Vậy phải chăng thơ tự do là một loại thơ hoàn toàn có tính chất tùy tiện trong cấu tạo hình thức? Thực ra thì không phải như thế. Thơ tự do luôn tự đòi hỏi phải giữ được phẩm chất của thơ trong nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về nội dung, bài thơ tự do phải có đầy đủ chất lượng của một sáng tác thơ ca, phải giàu xúc cảm, hình ảnh tập trung, cô đọng, có chất thơ. Tính chất tự do và sinh động của hình thức nhằm diễn tả trung thực nội dung cảm xúc mà không bị lệ thuộc vào khuôn khổ và luật lệ thơ. Về hình thức, thơ tự do phải giữ được sự hài hoà của nhịp điệu. Nhịp điệu đây có thể không chỉ dựa trên cơ sở của sự gieo vần, nhưng mà chủ yếu dựa trên cơ sở của sự sắp đặt tiết tấu ở các mạch thơ, ở âm thanh và màu sắc của các từ, ở sự phối hợp giai điệu trong thơ để tạo nên chất nhạc, chất rung ngân lên từ bên trong câu thơ. Sự hài hòa về mặt nhịp điệu trong thơ tự do không do những yếu tố cách luật xác định và cấu tạo như trong thơ Đường, thơ lục bát, v.v.., không xác định được bằng những yếu tố và nguyên tắc cụ thể, mà thường do những quy luật nội tại, những luật vô hình ràng buộc. Do đó làm thơ tự do không phải là chuyện dễ dàng hơn các thể thơ khác. Hình thức thơ tự do được vận dụng rất linh động cho phù hợp với các việc diễn tả nội dung cảm xúc nhưng nó quyết không dung hòa với lối viết tùy tiện, khổ độc như những đoạn văn xuôi chặt khúc. Trong thời kỳ kháng chiến, Xuân Diệu trong mục Tin thơ trên báo Văn nghệ đã lưu ý uốn nắn hiện tượng này: “Nhân danh sự tự do người ta đã phũ phàng cắt năm cắt bảy những vần thơ đáng lẽ liền. Bài thơ phải đâu là thực dân và băm vằm nó. Lắm khi câu thơ không còn khác gì một câu văn xuôi xếp làm ba dòng là thành ba câu thơ. Câu thơ không phải tự lòng người mà là câu thơ xếp chữ nhà in, câu thơ typographique”.

Xuân Diệu đã nói có lý về nguyên tắc của thơ tự do: “Tự do là mình đặt kỷ luật cho mình một kỷ luật linh động, tùy theo mỗi trường hợp, nhưng luôn luôn có kỷ luật. Muốn ca muốn hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ai nghe? Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài lại tự tạo ra một nhịp điệu riêng cho thích hợp, cái điệu ấy không được phiêu lưu mà phải cần thiết. Phải cao tay lắm mới sai khiến được thơ tự do. Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm”.

Từ sau hòa bình lập lại các thể thơ phát triển khá phong phú, trong đó thơ tự do chiếm một vị trí quan trọng. Ngày nay thơ tự do đã trở thành một thể thơ quen thuộc và gần gũi của mọi người. Thời gian đã sàng lọc, sắp xếp và ổn định lại mọi sự phát triển của hình thức thơ theo quy luật hài hòa giữa hình thức và nội dung, và theo những quy luật riêng về hình thức của thơ ca được ràng buộc về mặt nhịp điệu, âm thanh, tiết tấu.

Thơ tự do không phải là một hình thức định trước của nhà thơ khi sáng tác, mà là một hình thức được nhà thơ tìm đến với độ chín của tâm hồn, phù hợp nhất để diễn tả đối tượng, tâm đắc nhất để diễn tả nhưng trạng thái tinh vi của tình cảm. Những bài thơ tự do có nội phong phú, có hình thức đẹp và nhịp điệu hài hòa thường có một sức hấp dẫn đặc biệt. Trong trong lai, thơ tự do sẽ có một vị trí quan trọng. Nhìn vào quá trình phát triển của thơ ca trên ba mươi năm nay, thơ tự do ngày càng phát triển từ chỗ lẻ tẻ một vài bài, đến nay đã trở thành một trong những thể thơ phổ biến nhất.

Những bài thơ tự do đơn điệu về hình thức, được viết ra một cách vội vã tùy tiện dễ bị nhanh chóng rơi vào lãng quên - vì quy luật sáng tạo của hình thức thơ ca là hướng về cái đẹp hài hòa của thanh, của sắc và của nhạc trên cơ sở phản ánh và tái tạo những cái đẹp đó trong đời sống.

So với thơ mới thì thơ tự do ít bị ràng buộc hơn về nguyên tắc sáng tác. Trong thơ tự do lại có những khuynh hướng tìm đến chốn xa xôi hơn trong vườn thơ, tới địa hạt của thơ không vần. Thơ không vần thường là những bài tự do không có vần, bài thơ không có một sự hiệp vần nào theo nguyên tắc định lệ. Thơ không vần là một trong những vấn đề được đưa ra thảo luận tại hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc 9–1949, nhân đề cập đến thơ của Nguyễn Đình Thi và bài Đêm mít tinh của tác giả.

Nói đến thơ không vần, cần trước hết xác định vai trò của vần ở trong thơ. Nếu quả thật vần là một yếu tố quan trọng bậc nhất, quyết định phẩm chất của thể loại thơ ca thì thơ không vần sẽ không còn gọi là thơ theo ý nghĩa đầy đủ nhất của khái niệm đó. Trong cuộc tranh luận cũng có ý kiến phát biểu “Thơ là có vần, thơ không vần hãy cho nó một tên khác”.

Vần có một tầm quan trọng trong sáng tạo hình thức của thơ ca. Vần là một nhân tố góp phần tạo thành nhịp điệu và sự hài hòa của thơ. Vần là nhịp cầu nối liền những câu thơ vào một bài thơ, thống nhất nhịp điệu thơ trong một âm hưởng trọn vẹn. Vần đem lại một sức rung, sức gợi góp phần nâng cao hơn cảm xúc thẩm mỹ của thơ. Trong cuộc tranh luận, Xuân Diệu cho rằng “có vần, những bước thơ không có vẻ chông chênh mà trái lại hồn thơ tựa vào những câu thơ một cách vững chắc” hoặc vần giúp cho trí nhớ của công chúng, vần giúp vào việc làm nẩy sinh những tứ thơ tân kỳ, vần tạo cho sự nghỉ hơi một cách khoan khoái, nghỉ hơi mà có vần thì lý thú như ngậm âm nhạc vào trong miệng, v.v..

Một số nhà thơ vận dụng những từ và những lối gieo vần đặc biệt để xoáy vào những ý nào đó trong nội dung, hoặc nhấn mạnh và nói lên một điều gì, như vần điệu trong thơ Maiacốpxki, Hồ Xuân Hương, v.v…

Đối với thơ, vần là quan trọng, nhưng không thể nói được rằng vần quyết định cái gì là thơ và không phải là thơ. Thơ có nhiều nội dung cũng như là hình thức. Riêng về hình thức, vần chỉ là một yếu tố của hình thức thơ, góp phần tạo thành nhịp điệu của thơ. Nhịp điệu của thơ là đặc trưng cơ bản của hình thức thơ. Nhịp điệu của thơ bao gồm nhiều yếu tố: âm tiết, đoạn tiết tấu, giai điệu và vần thơ. Sự tổng hợp và hài hòa của những nhân tố đó tạo thành nhịp điệu thơ. Nhịp điệu là sự láy lại một cách đều đặn và nhịp nhàng những tiết tấu của câu thơ mà sự sắp xếp những tiết tấu đó lại do quy luật của thanh điệu chi phối. Nhịp điệu rất linh hoạt và cơ động, tạo thành do sự phối hợp của những quy luật riêng về âm thanh. Thể thơ là những hình thức biểu hiện cụ thể và xác định của nhịp điệu. Sự thay đổi và sáng tạo trong nhịp điệu là cơ sở của sự tạo thành những thể thơ mới về mặt thanh âm và vần điệu. Hay nói đúng hơn là mỗi thể thơ tạo nên một nhịp điệu riêng do sự quy định về câu, về từ và vần. Dù dưới hình thức sáng tạo tìm tòi nào, thơ bao giờ cũng còn giữ được nhịp điệu, nhịp điệu làm cho tứ thơ thêm bay bổng gợi cảm. Có những bài thơ tuy không có vần liên tục, nhưng vẫn có nhịp điệu, xướng đọc lên, câu thơ vẫn ngân theo một nhịp riêng, vẫn rào rạt một âm hưởng độc đáo. Ví dụ những câu thơ trong bài Nhớ máu của Trần Mai Ninh:

Ô cái gió Tuy Hòa…

Cái gió chuyên cần

Và phóng túng

Gió đi ngang, đi dọc

Gió trẻ lại, – lưng chừng

Gió nghĩ

Gió cười

Gió reo lên lồng lộng

Tôi đã thấy lòng tôi dậy

Rồi đây

Còn mấy bước tới Nha Trang

A gần lắm!

Ta gần máu

Ta gần người

Ta gần quyết liệt.

Ở đây, tứ thơ đã tìm đến một hình thức thơ thích hợp. Nếu có được điệu vần phù hợp thì đó là một điều hay. Nhưng nếu gặp khó khăn khi vận dụng vần điệu, nếu phải chọn một trong hai yếu tố: giữa ý thơ và vần điệu thì bao giờ nhà thơ cũng phải giữ lấy phần nội dung.

“Vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm nhưng không phải hết vần là hết thơ. Khi làm thơ, thái độ của người làm là ghi cho đúng cảm xúc. Nếu cảm xúc gặp được vần thì hay. Nhưng gặp khi nó gò bó hay vượt lên nó đã. Hình thức nghệ thuật (các luật bằng trắc) phải tự thân nó ra. Khi gạt luật bên ngoài đi phải có luật bên trong rất mạnh”. (Nguyễn Đình Thi)

Ý kiến của Nguyễn Đình Thi về vần nói chung là chính xác và cũng là ý kiến chung của hội nghị tranh luận. Có những bài thơ không có vần và cũng nghèo nàn về tứ thơ và xúc cảm. Trong trường hợp đó sự non kém của bài thơ không phải là do thiếu vần mà chủ yếu là do ở nội dung thơ.

Hiện tượng thơ không vần là hiện tượng có thực trong thơ ca thời kỳ hiện đại nhưng không phổ biến. Có rất ít những bài thơ không hiệp vần trong toàn bài. Người đọc thường gặp nhiều hơn là hiện tượng những dòng thơ hoặc khổ thơ không vần trong một bài thơ có gieo vần. Trong thực tế sáng tác, các nhà thơ đều có ý thức sử dụng vần trong thơ ca để tăng thêm sức gợi cảm và âm điệu nhịp nhàng của câu thơ.

Thơ không vần là một hình thức của thơ tự do. Ngày nay thơ tự do là thể thơ được sáng tác nhiều và có nhiều dạng thể hiện rất phong phú. Sự xen lẫn những mạch thơ rất tự do với những mạch thơ cách luật như lục bát, song thất, ngũ ngôn, thơ mới là một hiện tượng khá phổ biến.

Những năm gần đây, trong một số bài thơ tự do, cũng đã bắt đầu thấy xuất hiện hình thức câu thơ bậc thang. Nhịp của dòng thơ tự đo bị ngắt thành nhiều đoạn nhỏ mà mỗi đoạn nhỏ thường là một đoạn tiết tấu. Những tiết tấu đó không thể xướng ngâm liên tục mà lên xuống theo nhịp ngắt của câu thơ. Trong một số trường hợp sự ngắt câu theo hình thức bậc thang có tác dụng cả về hai phương diện: nội dung và nhịp điệu. Câu thơ sẽ tăng thêm sức gợi cảm, nhạc điệu của thơ ngân vang hơn, ý của thơ được nhấn mạnh hơn. Trong bài Với Lênin Tố Hữu đã sử dụng rất đạt lối ngắt nhịp theo bậc thang ở hai câu kết:

Tôi vẫn thấy Lênin

Bình thường khỏe mạnh

Giũa mùa đông nước Nga

Cùng công nhân đi vác gỗ xây nhà

Và chiều nay trước phút vội đi xa

Người còn nghe

thánh thót

Krupxkaia

Đọc trong sách

Tình yêu cuộc sống”

Tuy nhiên, việc sử dụng cách ngắt nhịp theo bậc thang trong câu thơ tự do là một điều cần hạn chế trong mức độ cần thiết: vì quy luật phối âm của tiếng Việt, âm hưởng nhịp nhàng của nhịp điệu đòi hỏi tính liên tục và gắn bó với giữa các tiết tấu trong một câu thơ. Có một số người lạm dụng lối ngắt nhịp theo bậc thang làm cho nhạc điệu của bài thơ bị tan vỡ, hoặc lạm dụng hình thức biểu hiện này để diễn tả những ý tưởng ồn ào, lập dị. Bọn Nhân Văn giai phẩm cũng đã từng lạm dụng lối thơ bậc thang mà chúng thường rêu rao là “học tập Mai–a” để phô diễn những tư tưởng tư sản phản động của chúng.

Gần đây trong câu thơ tự do cũng có hiện tượng một câu thơ dài bị ngắt thành những dòng thơ ngắn. Nếu xem đây là hiện tượng bắc cầu, thì câu thơ không chỉ bắc cầu qua hai dòng thơ (như thường thấy trong câu thơ bắc cầu của phong trào thơ mới) mà bắc cầu qua nhiều dòng thơ thậm chí qua suốt cả một khổ thơ dài. Ý tưởng không được thể hiện trọn vẹn trong một dòng thơ mà kéo dài ra qua nhiều dòng thơ ngắn (chữ đầu câu không phải bao giờ cũng viết hoa):



Người thuỷ thủ

nhìn mặt trời sắp tắt

thấy lòng mình biển cháy mênh mông

Ngày mai đây

ngày chiến đấu sau cùng

Các anh sẽ về Nam yêu quý

dâng kháng chiến lòng các anh và vũ khí

hay các anh sẽ tự nhận chìm tàu

quyết không rơi vào tay quân cá mập kia đâu!

(Tế Hanh – Người thủy thủ và con chim én)

Trong phần lớn những bài thơ của mình, Trinh Đường thường hay dùng hình thức này:

Quê tôi nằm

khoảng cây số 900

có đèo Ải Vân anh hùng

có Ngũ hành sơn

lóng lánh năm hòn ngọc bích

có dập Vĩnh trinh

ấp ủ bao người mất tích

có nước Thu bồn

dòng kỷ niệm xôn xao

có câu ca dao:

Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng



thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi”

và những điều không nói nên lời

nhắc đến khôn cầm nước mắt.

(Trinh Đường – 728)

Ngoài các dạng khác nhau của các bài thơ và câu thơ tự do trên, thơ tự do còn chỉ những bài thơ vận dụng nhiều thể cách luật xen lẫn nhau theo từng câu, từng đoạn mà không theo một quy luật nào. Hình thức này thường được gọi là hợp thể.

Dưới đây chúng tôi dẫn một số bài thơ tự do và thơ không vần của các tác giả Hồng Nguyên và Nguyễn Đình Thi.



NHỚ

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Gặp nhau hồi chua biết chữ

Quen nhau từ buổi “một hai”

Súng bắn chưa quen.

Quân sự mười bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Lột sắt đường tàu

Rèn thêm đao kiếm

Áo vải chân không

Đi lùng giặc đánh

Ba năm rồi gởi lại quê hương

Mái lều gianh

Tiếng mõ đêm trường

Luống cày đất đỏ

Ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya

Chúng tôi đi

Nắng mưa sờn mép ba lô

Tháng năm bạn cùng thôn xóm

Nghỉ lại lưng đèo

Nằm trên dốc nắng

Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng

Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa

Đằng nớ vợ chưa?

Đằng nớ?

Tớ còn chờ độc lập



Cả lũ cười vang bên ruộng bắp

Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu…

(Hồng Nguyên)



ĐÊM MíT TINH

Muôn ngàn đêm hẹn nhau họp đêm nay

Yên lặng nép ngồi

Tia vàng vút bay

Tung lên hoa lứa

Lên lên mãi

Một vầng sao ngời muôn vầng sao

Bụi ngọc ngập trời

Rơi rơi trên đầu trên cổ

Trên ngón tay

Triệu triệu sao

Rừng Việt Bắc

Trời sao đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những xóm đồng thơm mát

Những ngã đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nhúc những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

Ngàn sao phơi phới đang bay

Dạt dào mắt không thấy nữa

Dưới kia Hà Nội nhìn lên

Phố phường nín thở

Những lề đường mòn cũ

Lành lạnh mưa phùn

Hà Nội

Một mình buồn xé ruột

Ngày ngày buồn thức dậy

Quay mặt đi đâu ngày hôm nay

Gió mùa đông trong lá chưa đi

Còn đến bao giờ bao giờ,

Đêm nay trời sao trắng bạch

Cháy trùm đất nước

Đêm lòe sáng

Đi lên, đi lên

Ta lớn ta khoẻ

Súng ta rợp đồng

Ngàn sao chào múa

Trời nắng bỏng

Bao nhiêu tường chói lóa

Những lùm cây cháy cả lên

Rừng Than lương dữ dội reo hò

Đỏ đỏ trôi đường phố.

Hà Nội phố hè ngực đập thình thình

Tiếng hát reo cười, cuốn trào nước mắt:

Sao ơi, núi rừng ơi nức nở

(Nguyễn Đình Thi)



Chương VII. THƠ VĂN XUÔI


Ranh giới về hình thức giữa thơ và thơ văn xuôi cũng như giữa thơ văn xuôi và văn xuôi thường khó phân định. Có người cho rằng thơ văn xuôi khác văn xuôi ở chỗ trong thơ văn xuôi có hình ảnh và tứ thơ, còn thơ văn xuôi khác thơ ở chỗ mạch câu chảy tràn ra không chịu ràng buộc theo niêm luật nào.

Cách phân biệt giữa thơ văn xuôi và văn xuôi như trên là đúng nhưng chưa cụ thể vì chúng ta có thể đặt câu hỏi: thế nào là một hình ảnh thơ, một tứ thơ? Và tự nhiên lại phải trở về với sự phân định cơ bản về sự khác nhau giữa thơ và văn xuôi. Trong vở kịch Tư sản học làm quý tộc của Molière, tác giả có để cho nhân vật thầy triết học phân biệt giữa thơ và văn xuôi. Thầy triết học có được một ý đúng khi cho rằng văn xuôi là lời nói thông thường, nhưng cũng rất hài hước khi phân định tất cả cái gì không phải là thơ thì đều là văn xuôi, và không phải là văn xuôi thì đều là thơ.

Có người cho rằng thơ đề cập đến lĩnh vực cao siêu, đến cái tinh túy, còn văn xuôi diễn đạt cái tầm thường, vụ lợi ích thực tế. Nhận xét trên thường bắt nguồn từ những quan điểm duy tâm, thần bí, nghệ thuật vị nghệ thuật.

Có người tìm đặc trưng của thơ ở sự chọn lọc của hình ảnh, ở sự hàm súc và trong sáng của ngôn ngữ, ở vẻ đẹp và phong điệu riêng của thi tứ, ở sức gợi và xao động của cảm xúc, v.v…

Tất cả những yếu tố trên đều có trong đặc trưng về nội dung cũng như hình thức của thơ. Thơ dựa vào phương thức biểu hiện trữ tình, với nhiệm vụ chủ yếu là biểu đạt những xúc cảm và tâm trạng của con người, biểu hiện phần tinh túy của sự vật, qua những hình ảnh gợi cảm, trên cơ sở của ngôn ngữ hàm súc và có nhịp điệu.

Về phương diện hình thức thì nhân tố khác nhau cơ bản giữa tác phẩm bằng thơ và tác phẩm bằng văn xuôi là ở chỗ sáng tác thơ có nhịp điệu. Nhịp điệu đó không phải là nhịp điệu thông thường vốn có của ngôn ngữ văn xuôi mà là nhịp điệu được cách luật hóa, nhịp điệu được quy định, do đó cú pháp thơ ca khác cú pháp văn xuôi. Trên cơ sở của ngôn ngữ hình tượng có nhịp điệu, hình ảnh của thơ tập trung, sáng tạo và đột xuất hơn, yếu tố trữ tình phong phú hơn.

Thơ văn xuôi khác văn xuôi ở nhiều phương diện. Thơ văn xuôi là một thể thơ thuộc phương thức biểu hiện trữ tình; dựa trên sự bộc lộ xúc cảm trực tiếp qua hình ảnh và tâm trạng. Còn văn xuôi thì có thể thuộc nhiều phương thức biểu hiện khác nhau. Một câu văn xuôi có thể là một lời nói thông thường của một câu đối thoại (như trong kịch), là một lời kể của một câu chuyện kể như trong tiểu thuyết hoặc trong các thể ký, hoặc là một thành phần trong một bài chính luận. Do đó thơ văn xuôi phải phong phú hơn về cảm xúc trữ tình so với văn xuôi trong tự sự, miêu tả hoặc đối thoại, v.v…

Một phương diện khác và cũng là phương diện chủ yếu phân biệt thơ văn xuôi với văn xuôi là chất thơ thể hiện trong cảm xúc, trong cấu tứ thơ và hình ảnh thơ. Sự vận dụng tứ thơ và hình ảnh thơ làm cho câu thơ văn xuôi (dù cho là câu thơ văn xuôi có cấu trúc gần gũi nhất với câu văn xuôi) có những màu sắc và đặc điểm riêng biệt. Hình ảnh và tứ thơ được nhận thức và sáng tạo trên một gốc độ quan sát và lối suy nghĩ khác với lối suy nghĩ và quan sát thông thường.

Những hình thức so sánh và vận dụng ngôn ngữ cũng khác với lối so sánh và vận dụng ngôn ngữ trong cách diễn đạt thông thường của văn xuôi. Câu thơ mang nhiều tính chất cách điệu hóa và lý tưởng hóa từ nội dung cảm nghĩ, liên tưởng đến cách vận dụng ngôn ngữ hình ảnh để nắm bắt cho được tính chất của sự vật biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. Ví dụ như những câu thơ về biển của Chế Lan Viên trong Cành phong lan bể rất khác với cách nói, cách tả về biển trong văn xuôi của kịch hoặc tiểu thuyết:

Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại

Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời

Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái.

Cấu trúc của các câu thơ văn xuôi trên gần gũi với cấu trúc của câu văn xuôi, nhưng trong nội dung lại chứa đựng nhiều chất thơ qua hình ảnh, liên tưởng và so sánh có màu sắc riêng biệt. Đó cũng là trường hợp của Huy Cận trong bài Lúa mới:



Gió nhẹ nhàng chở lúa

Về xóm thôn, cái cổng mở rộng rênh

Như cánh mũi em bé phập phồng thở sữa mẹ khi

bình minh ngủ dậy

Lúa! Lúa! vui ríu rít như răng cười, bông dầy hạt mẩy

Lúa lao xao như nói chuyện thầm thì, lúa như đàn ong

vàng đậu thành cụm.

Những câu viết trên của Chế Lan Viên và Huy Cận có thể xem là những câu thơ văn xuôi. Thơ văn xuôi chủ yếu là thuộc phạm trù của thơ. Nội dung của thi tứ vẫn là vấn đề cơ bản nhất để phân biệt giữa thơ văn xuôi và văn xuôi. Tuy phạm vi diễn đạt của thơ văn xuôi có rộng rãi hơn, phóng túng hơn, song thơ văn xuôi cần phải giữ được tính tập trung, hàm xúc của hình ảnh và ngôn ngũ thơ.

Cần phân biệt ranh giới giữa thơ văn xuôi và thơ. Nếu sự khác nhau cơ bản giữa thơ văn xuôi và văn xuôi là ở nội dung của thi tứ, thì sự khác nhau giữa thơ văn xuôi và thơ lại cần được xác định chủ yếu trên phương diện cấu tạo về hình thức. Chúng ta không thể chỉ dựa vào số từ trong một câu làm tiêu chuẩn hạn định để xét xem câu nào là thơ và câu nào là thơ văn xuôi, tuy rằng câu thơ thường bao giờ cũng ngắn hơn câu thơ văn xuôi. Cần phải tìm hiểu trên nhiều khía cạnh: tổng số tiết tấu trong một nhịp thơ, số từ trong một câu và lối diễn đạt nội dung ý thơ.

Tiếng Việt Nam là ngôn ngữ đơn âm tiết như chúng ta đã nói ở trên, do đó nhịp điệu của câu thơ không thể kéo dài vô hạn định như trong văn xuôi. Nhịp điệu của câu thơ thường được xác định rõ rệt và có sự hài hòa nhất định trong một phạm vi nào đó của số từ và tiết tấu. Trong câu thơ Việt Nam số từ thường là từ 5 đến 8 từ. Số nhịp ngắt phổ biến nhất trong câu thơ Việt Nam là từ 2 đến 3 tiết tấu. Trong phạm vi số từ và tiết tấu đó, câu thơ thường có một sự hài hòa nhất định về âm điệu, và nhịp điệu cũng được xác định rõ rệt. Các thể thơ cách luật từ trước tới nay cũng thường được cấu tạo trong khuôn khổ đó (trong thơ ca dân gian từ thể 5 từ đến 8 từ và các hình thức lục bát và lục bát biến thể; trong các thể thơ ca cổ từ ngũ ngôn đến các thể thất ngôn, thất ngôn bát cú, v.v.. Các thể thơ mới ổn định và phổ biến nhất cũng thường dùng câu thơ từ 5 đến 8 từ. Chúng ta đã có dịp tìm hiểu nhịp điệu thơ qua những câu lục bát, những câu bảy từ hay tám từ. Câu thơ trong khuôn khổ từ 5 đến 8 từ và từ 2 đến 3 tiết tấu rất thích hợp cho sự xướng ngâm; nhịp điệu hài hòa, cân đối, chất nhạc trong thơ vang lên rất rõ.

Trong thơ Việt Nam thường có rất ít những câu thơ có 4 tiết tấu hoặc có từ 11, 12 từ trở lên. Thường thường trong một bài thơ gặp những câu dài như thế, nhịp điệu của mạch thơ bị dãn ra, tiết tấu không rõ rệt, nhạc điệu của thơ bị hòa tan trong nhịp điệu bình thường của câu văn xuôi.

Thí dụ như trong bài thơ Tặng chiến sĩ sông Lô của Võ Liêm Sơn, mạch thơ đang hùng tráng dồn dập, bỗng thắt dần lại trong những câu ngắn:



Sông Lô đầy sát khí

Sông Lô càng hùng vĩ

Tôi yêu Sông Lô

Tôi càng yêu chiến sĩ

Sông Lô!

Sông Lô!

Nhưng rồi mạch thơ lại chuyển sang những câu quá dài, nhịp điệu, vì thế, trở nên nặng nề và đều đều:



Mau mau xuống Hồng hà về thủ đô

Gột rửa cái lòng dơ bẩn của bọn bán nước bọn vong nô!

Cái mùi tanh thối của quân cướp nước, quân hung đồ.

Hay trong bài thơ Bình minh của Đông Phong cũng có hiện tượng tương tự:



Tôi yêu bình minh từ thuở còn thơ

Về sau, lòng càng sôi nổi

Muốn học một bài giảng văn nóng hổi tả về cảnh mặt trời lên

Thường sau những câu thơ dài như thế, các tác giả lại phải ngắt mạch thơ cho câu thơ ngắn hơn để nhịp điệu thơ trở lại nhịp nhàng.



Đừng đuổi thơ tôi, vì một chút chiều tà nào ngả bóng

Hãy kiên lòng, sẽ thấy nắng mai lên.

hay những câu:



Khi đã có hướng rồi, mỗi buổi sáng buổi chiều ngỡ như vô vị

Đều đúc thành chiến lũy chở che tôi

Trong thung lũng đau thương vẫn tìm ra vũ khí

Phá cô đơn “ta” hòa hợp với “người”

(Chế Lan Viên)

Nhịp điệu thơ sẽ nặng nề nếu toàn bài đều là những câu dài từ 11,12 từ trở lên. Chính đó cũng là một trong những lý do cơ bản làm cho Nguyễn Vỹ không được hoan nghênh trong thể thơ 12 từ. Các bài thơ Đức thánh đồng đen, Đền đổ đều là những bài thơ 12 chân, nghèo nàn về nội dung và nặng nề về hình thức và nhịp điệu.

Những câu thơ dài từ 11,12 từ trở lên sẽ dần biến thành câu thơ văn xuôi và bài thơ bao gồm những câu thơ đó sẽ có xu hướng trở thành bài thơ văn xuôi.

Dĩ nhiên để phân biệt giữa thơ văn xuôi và thơ, chúng ta cũng cần quan tâm thêm đến vần và lối diễn của nội dung thơ ngoài vấn đề số từ và tiết tấu trong một câu. Nhìn chung thì thơ văn xuôi ít bắt vần. Cũng có bài thơ văn xuôi có vần, bắt theo vần chân hoặc níu nhau ở vần lưng. Vần trong thơ văn xuôi cũng như thơ tự do, không tuân theo một nguyên tắc hiệp vần cố định nào.

Về lối diễn đạt (bao gồm vấn đề tu từ, ngữ pháp, cú pháp, v.v…) thì trong một bài thơ văn xuôi thường có những câu có nội dung thi tứ nhưng lại diễn theo mạch thơ có dáng dấp cấu trúc như câu văn xuôi.



Một mùi hương của từng hồng hoang cổ đại, khi rừng chết đi thì ánh nng, mùi hoa, lời chim, chất nhựa cũng vùi theo.

Mùa xuân không biết không hay sáng ấy, vẫn lấy máu mình nuôi mạch lá.

Ôi hôm nay! cầm hòn than thấy vết lá lấp lánh như còn sống.

Tưởng trong mỗi đường gân xưa, máu vẫn chảy đều.

Do đó, nhịp điệu của câu thơ văn xuôi không còn mang tính chất đầy đủ của nhịp điệu thơ nữa. Người đọc không thể xướng ngâm hay ngâm và nghỉ theo lối xướng ngâm của thơ cách luật. Các tiết tấu không còn được phân bố đều đặn để tạo thành nhịp điệu được.

Cũng như thơ tự do, thơ văn xuôi buộc người viết phải theo những quy luật nghiêm khắc bên trong của nó. Trước hết tác giả phải có cảm xúc một thi nhân và dù với tính chất rộng rãi và linh hoạt của phạm vi diễn tả, nhà thơ phải tìm được sự hài hòa bên trong của ngôn ngữ và nhịp điệu, và sự hàm súc của hình ảnh và lời thơ. Một bài thơ văn xuôi không thể là một bài văn xuôi bình thường mà phải là một sáng tác giàu chất thơ. Ở đây cảm hứng thơ ca tuy không biểu hiện ra ở những câu thơ, nhưng người viết phải biết chọn lọc những hình thức phù hợp.

Viết thơ văn xuôi cần phải nắm vững nhịp điệu, tiết tấu của câu thơ dài rộng phá thể, và phải tinh vi nghe được cái nhạc bên trong của câu thơ: khi nhạc ấy không thể hiện ra những vần mà lỗ tai cảm thấy ngay thì nó lại càng phải dồi dào, đầy căng như nhựa mật của trái làm nứt vỏ.

Thơ văn xuôi cũng có thể xem là sự dãn ra của các hình thức thơ cách luật. Sự dãn ra này là do yêu cầu về nội dung quy định. Vấn đề chủ yếu trong thơ văn xuôi là nhận thức và phản ánh sự vật qua sự biểu hiện cảm xúc và miêu tả hình ảnh. Những bài thơ văn xuôi hay thường dạt dào tình ý, giàu sức cảm, sức nghĩ, sức lay động v.v..

Thơ văn xuôi vốn có ở nhiều nước. Nhiều tác giả nổi tiếng đã xây dựng sự nghiệp thơ ca của mình trên thể thơ văn xuôi như Uýt- man, nhà thơ người Mỹ. Đối với thơ ca phương Đông trước đây đã có những thể văn vần và biền văn (trong đó có văn xuôi cổ) gần gũi và có dáng dấp như thơ văn xuôi. Xuân Diệu cho rằng trong văn học Việt Nam (và cả trong văn học Trung Quốc) thơ văn xuôi có nguồn gốc ở thể phú. Nhận định trên có cơ sở, vì thực chất phú cũng là sự giãn ra của các thể cổ thi để mở rộng dung lượng phản ánh. Nhưng nói cho đúng hơn thì trong thơ ca của ta, các thể văn vần như phú và văn tế và các loại biền văn như hịch, cáo đều có dáng dấp của thơ văn xuôi. Những bài phú như Bạch đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Tài tử đa cùng phú của Cao Bá Quát, Hàn cho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ, Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng, v.v.. cũng như những bài văn tế như Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh, Văn tế Phan Chu Trinh của Phan Bội Châu, v.v… đều là những sáng tác có dáng dấp thơ văn xuôi, làm cơ sở cho các thể thơ văn xuôi sau này. Về các thể hịch và cáo trong loại biền văn (với những sáng tác tiêu biểu như Hịch tướng sĩ văn của Trần Hưng Đạo, Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, v.v…) cũng có những nét giống thơ văn xuôi. Và suy cho cùng thì thể văn xuôi cổ cũng là nguồn gốc gần xa của một loại thơ văn xuôi sau này.

Giữa các thể văn và biền văn trên với thơ văn xuôi có những chỗ giống nhau là: câu thơ và mạch thơ (hoặc có vần hoặc không có vần, hoặc có đối hoặc không có đối) phóng khoáng, mở rộng và kéo dài như những câu văn xuôi. Dung lượng của toàn bài khá phong phú, do đó, lối diễn đạt và lối bình luận không bị hạn chế như trong khuôn khổ thơ cách luật, mà nhà thơ có thể đi được vào nhiều khía cạnh, của cảm xúc và tư duy.

Nhưng phần khác nhau là ở chỗ phú, văn tế cũng như hịch và cáo trong sáng tác có những quy tắc về vần, về đối, về khuôn khổ cấu tạo mà thơ văn xuôi không có. Các thể phú lưu thủy, văn tế tự do… gần gũi với thơ văn xuôi hơn. Thơ văn xuôi cũng không bị ràng buộc về đề tài và chủ đề như một số loại văn tế, hịch và cáo.

Sang đầu thế kỷ XX, một số sáng tác của Tản Đà, Đông Hồ, Tương Phố có tính chất thơ văn xuôi. Trong thời kỳ 1930–45 một số bài của Phạm Văn Hạnh (Giọt sương hoa) cũng như một số bài viết của các nhà thơ Xuân Diệu và Chế Lan Viên, v.v… cũng có màu sắc thơ văn xuôi.

Chế Lan Viên trong tập Ánh sáng và phù sa xuất bản những năm gần đây có giới thiệu ba bài Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi, gọi chung là văn xuôi về một vùng Thơ.

– Chế Lan Viên là người viết nhiều thơ văn xuôi hơn cả và cũng có nhiều bài có giá trị.

Dưới đây chúng tôi trích một số đoạn trong một số sáng tác của Tương Phố, Đông Hồ, Tản Đà, Phạm Văn Hạnh, Chế Lan Viên, Huy Cận, v.v… nhằm giới thiệu những lối viết có tính chất thơ văn xuôi, hoặc là những bài văn xuôi có chất thơ, hoặc là những bài thơ có chất văn xuôi.



GIỌT LỆ THU

(trích)

… Xuân qua; hạ lại, cảnh tình đà chẳng khác chi đông thu sang tâm sự lại dạt dào, thương tâm gió đuổi mây chiều; lòng em lai láng biết bao sầu tình! Anh ơi phong thu vò võ một mình, mỗi khi nhớ anh em lại ngừng tay kim chỉ, cuốn bức châu liêm, xa trông non nước và hồi tưởng những trường xưa lối trước đi về có nhau, thì muôn nghìn tâm sự bây giờ lại như xô lùi em về cảnh đời dĩ vãng, mà ngọn triều trong dạ cũng mênh mang cơn sóng lệ…! Em nhiều khi nghĩ cũng thương, nước mắt muốn thôi đi không khóc nữa, những hai hàng châu lệ vẫn cứ chan hòa như mưa



Nước non ngao ngán tình xưa

Trăm năm bạn cũ bây giờ xa đâu?

Để riêng ai



Bức khăn hồng tầm tã giọt châu

Gối khăn còn ngấn lệ sầu tới nay.

Anh ơi, nước non còn đó mà anh vội đi đâu? Ngày xanh sao chẳng ở cùng nhau, duyên thắm nỡ nào chia rẽ lứa?

Ngoài nội uyên kia cùng chắp cánh, trên lương yến nọ chẳng lìa đôi, từng mây kết bạn ngang trời, nghĩ chim ríu rít, tủi người lẻ loi. Ôi chim có đôi người sao lẻ bạn, chăn đơn gối chiếc, em biết cùng ai than thở chuyện trăm năm?

(Tương Phố – Viết ở sông Thương mùa thu năm Quý hợi 1923)


LINH PHƯỢNG Ký

(trích)

… Thôi từ đây cải rụng kim rơi, mây chìm bèo nổi, từ đây rồi lúc nào tôi cũng thấy chung quanh mình tôi đầy những cảnh tiêu điều buồn bã, âu sầu hiu quạnh lạ thường; gặp những khi đêm khuya canh vắng, gió xế mưa chiều, hồi tưởng đến cảnh cũ niềm xưa, mới ngày nào đây cùng ai chung cơn may rủi, chung nỗi khóc cười, khi chăn êm khi nệm ấm, khi gió gác khi trăng sân, cùng ai vui thú mà chạnh lòng. Mỗi lần nghĩ đến thế, thì thấy mình bâng khuâng như người làm nát ngọc chìm châu…

(Đông Hồ)

GIỌT SƯƠNG XUÂN

Bữa qua lạnh lẽo, mai kia rồi lại âm thầm. Nắng chiều nay mỏng manh như điều hoài vọng. Em có nghe dặt dìu khúc nhạc im lìm vắng đưa hương hồng man mác?

Trời xuân rung động. Tôi muốn như ai vẽ trên mặt giấy muôn hình sắc của bóng sớm với mây chiều. Như tôi muốn ghi hết những hoài niệm, tiêu tao, mà chắc đâu em còn nhớ?

Tia sáng lách mây, nằm thu trong bình cẩm chướng. Thôi đừng sửa lại hoa nghiêng: tôi chỉ sợ ánh vàng tan nát… với những giờ quang đãng buổi xuân qua.

Mây bay tới tấp: những mớ hoa xưa rải rác ngang trời. Em có thấy vẫn thơm nồng tươi tắn tựa hồ đã xóa bỏ thời gian. Em có thấy vẫn còn sống những buổi đầu thơ dại?

Một đôi khi với những nâng niu đằm thắm với những hương vị ngất ngây? Vì em cũng lặng nhìn mây có lẽ đã đọc được lòng tôi rõ ràng hơn trang sách mở.

(Phạm Văn Hạnh)
CẢNH PHONG LAN BỂ

(trích)

Thôi ta nhớ đất liền rồi! Cho ta về lại đất

Ngọn buồm ta đã muốn quay lưng

Chân trời không ở trước mặt ta mà ở sau lưng ta những thành phố những tầng than thành chân trời kêu gọi

Ta vừa nghe thấy tiếng kêu

Ôi tiếng kêu một nửa than đen, một nửa hồng mái ngói

Của những thành phố như tổ ong mênh mông sáp bám vào đá núi

Mà mỗi con ong cần lao làm mật làm than trong mỗi căn nhà

Những thành phố như rồng xưa lên cạn khoanh mình nghe lại bể

Những tiếng thúc giục của trăm lớp sóng cuộc đời không ngừng không nghỉ

Rồng vui lây muối nhả ngọc xưa làm trái ngọt nuôi người

Hồng Gai! Cẩm Phả! Cửa Ông! Hà Lầm! Hà Tu! Bàng Danh! Uông Bí!

Những thành phố măng non chưa sống hết cuộc đời thành phố.

Nhưng chất than đã thành thi tứ tỏa trên đầu…

Chất than hun dưới chỗ nằm làm cho hoa và mặt người đậm sắc

Giọng người, giọng chim, tiếng xe, tiếng máy rồ lên trong gió vì nghe trong máu hơi than

Than! than! than! than! than! than!

Nắng sáng sương chiều mặt trời ban trưa, vầng hồng ban mai, mặt trăng đầu hôm, mặt trăng giữa tối…

Cho đến một vì sao xa rất xa

Cũng theo than mà nhấp nháy

Còn ai yên ổn vì than!

Mười hai giờ than đổi thay sắc màu như hồn thi sĩ hôm qua qua nay đã lạ.

Những thành phố như những bài thơ luôn luôn đổi tứ với màu than.

(Chế Lan Viên, Ánh sáng và phù sa)



LúA MỚi

(trích)

Lúa mới đã gặt rồi đang phơi dàn trên sân rộng

Những hạt lúa nhám và thơm như má hồng tơ của chàng trai mười tám

Những hạt lúa căng tròn như ngực mới, nở nang, ôm sự sống bồi hồi

Những hạt lúa đúc nắng sữa mùa thu, những hạt lúa tháng mười!

Cất tiếng hát anh em ơi, ca ngợi mùa lúa mới

Ca ngợi quê ta tuổi đói chẳng còn về.

Lúa thơm từ bờ ruộng thơm vô, gió tự trải mình làm giải lụa

Gió nhẹ nhàng chở lúa

Về xóm thôn, cái cổng mở rộng lênh

Như cánh mũi em bé phập phồng thở sữa mẹ khi bình minh ngủ dậy

Lúa! lúa! vui ríu rít như răng cười, bông đầy hạt mẩy;

Lúa lao xao như nói chuyện thầm thì, lúa như đàn ong vàng đậu thành từng cụm

Khi mùa xuân về từ tổ cũ san đi.

(Huy Cận, Bài thơ cuộc đời)
NHỮNG SÁCH THAM KHẢO CHÍNH

I. CáC SáCH KINH ĐIỂN

Mác và Ang–ghen bàn về văn học nghệ thuật (Nhà xuất bản Sự thật)

Lê nin bàn về văn học nghê thuật (Nhà xuất bản Sự thật)

Bàn về văn hóa và văn nghệ – Hồ Chí Minh và nhiều tác giả (Nhà xuất bản Văn hóa – Nghệ thuật).



II. các sÁcH Lý LUẬN, PHÊ BìNH

1. Việt văn

Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn (bản dịch của Nhà xuất bản Sử học)

Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn (bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học)

Vân đài loại ngữ của Lê Quí Đôn (bản dịch của Nhà xuất bản Văn hóa)

Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (bản dịch của Nhà xuất bản Văn học)

Lệch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) của Phan Huy Chú (bản dịch của nhà xuất bản Sử học)

Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính.

Quốc văn cụ thể của Bùi Kỷ.

Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm.

Việt nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi.

Văn thơ Phan Bội Châu của Đặng Thai Mai.

Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh

Mấy vấn đề văn học của Nguyễn Đình Thi.

Phê bình thơ của Chế Lan Viên.

Dao có mài mới sắc của Xuân Diệu.

Sự tích và nghệ thuật hát bộ của Đoàn Nồng.

Tìm hiểu nghệ thuật tuồng của Mịch Quang

Tìm hiểu sân khấu chèo của Trần Việt Ngữ và Hoàng Kiều

Tìm hiểu phương pháp viết chèo của Hà Văn Cầu.

Nghệ thuật thơ ca A–ri–xtôt (Bản dịch của Nhà xuất bản Văn hóa – Nghệ thuật)

Nguyên lý mỹ học Mác – Lênin của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (bản dịch của Nhà xuất bản Sự thật).

Trung Quốc văn học sử của Sở nghiên cứu văn học

Trung Quốc (bản dịch của Nhà xuất bản Văn học).

Nguyên lý văn học (Tập 2) nhiều tác giả.



2. Nga văn

Lý luận văn học (tập I và II) của viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (Mạc–tư–khoa, 1964)

Sơ thảo nguyên lý và lịch sử thơ Nga (phần 1). Ti–mô– phi–ép (Mạc–tư–khoa, 1958).

3. Hán văn, Trung văn

Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp

Văn tâm điêu long trát ký của Hoàng Khản.

Trùng tu quảng vận (bản đời Tống).

Trung Quốc văn học sử của Sở nghiên cứu văn học Trung Quốc.

Trung Quốc tục văn học sử của Trịnh Chấn Đạc.

Sơ từ nghiên cứu luận văn tập của Tác giả xuất bản xã xuất bản.

Nhạc phủ thi nghiên cứu luận văn tập của Tác giả xuất bản xã xuất bản.

Khúc nghệ luận tập của Trung Hoa thư cục xuất bản.

4. Pháp văn

L’art poétique của Boilean.

Etude sur la litérature annamite của Cordier.

Etude sur al littérature annamite của Villard.

Le théâtre annamite của Villard.

Esthétique của Hegel (bản dịch Pháp văn của Nhà xuất bản Aubier, Paris).

Histoire de la littérature francaise của Henri Clouard (Du symbolisme à nos jours).

III. các sách THƠ VĂN Và HỢP TuYỂN THơ VĂN

1. Việt văn

Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm.

Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm.

Nam thi hợp tuyển của Nguyễn Văn Ngọc.

Thi văn bình chú (I, II) của Ngô Tất Tố.

Văn học dời Lý của Ngô Tất Tố.

Văn học đời Trần của Ngô Tất Tố.

Thi văn Việt Nam của Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toản.

Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân.

Hoàng Việt thi văn tuyển (các tập I, II, III) (Nhà xuất bản Văn hóa).

Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (các tập II, III, IV, V, VI) (Nhà xuất bản Văn hóa).

Quốc âm thi tập (Nhà xuất bản Văn Sử Địa).

Hồng Đức quốc âm thi tập (Nhà xuất bản Văn hóa)

Sự nghiệp và thi văn cuả Uy viễn tướng công của Lê Thước. Khối tình con của Tản Đà.

Xuân mộng của Phan Mạnh Danh.

Bút hoa của Phan Mạnh Danh

Đào nương ca của Nguyễn Văn Ngọc.

Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc.

Tục ngữ và dân ca của Vũ Ngọc Phan.

Nhiều tập dân ca khác như:

– Dân ca Quan họ Bắc Ninh

– Dân ca Thanh Hóa

– Hát giặm Nghệ Tĩnh

– Vè Nghệ Tĩnh

– Dân ca miền Nam Trung Bộ (I, II). v.v…

– Cùng các bản dân ca có kèm theo nhạc của Nhà xuất bản Văn hóa – Nghệ thuật.

Nhiều tập truyện thơ như:

– Lâm tuyền kỳ ngộ

– Lục súc tranh công

– Truyện Kiều

– Truyện thơ Tày, Nùng (I và II), v.v..

Nhiều bản chèo, tuồng, cải lương đã xuất bản hoặc chưa xuất bản.

Sơ tuyển thơ văn yêu nước (4 tập) của nhà xuất bản Giáo dục.

Tuyển tập thơ Việt Nam (1945–1960) của Nhà xuất bản Văn học.

Các tập thơ chủ yếu của các tác giả: Tố Hữu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ, v.v…

Đường thi của Ngô Tất Tố.

Thơ Đương của Nhà xuất bản Văn hóa.

2. Hán, Nôm

Thiên Nam dư hạ tập (phần thơ) của văn thần thời Hồng Đức.

Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên.

Quần hiền phú tập của Hoàng Sằn Phu.

Tinh tuyển chư gia thi tập của Dương Đức Nhan.

Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn.

Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích.

Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích.

Cưu đài tập của Nguyễn Húc.

Lã đường di cảo của Thái Thuận.

Thoát Hiên thi tập của Đặng Minh Khiêm.

Ngôn chí thi tập của Phùng Khắc Khoan.

Lê triều ngự chế quốc âm thi (nôm).

Bạch vân quốc ngữ thi tập (nôm).

Thăng bình bách vịnh (nôm), v.v…

Kinh thi.

Sở từ.

Cổ văn: của Nhân dann văn học xuất bản xã



Đường thi tam bách thủ

Nhạc phủ thi tuyển

Tào Tử kiến thi chú

Ngụy Võ đế, Ngụy Văn đế, v.v…



3. Pháp văn

Morceaux choisis d’auteurs annamites của Cordier.

Morceaux choisis des auteurs francais (4 tomes) của Desgranges.

Các tuyển tập thơ của Ronsard, Lamartine, Musset, Hugo.

Mallarmé, Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, v.v…

IV. MỘT SỐ CáC TẠP CHí

Nam phong, Tri tân, Thanh nghị, Phụ nữ tân văn, Văn học tạp chí, Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo (trước Cách mạng), Tạp chí Văn nghệ, Tạp chí Văn Sử Địa, Báo Văn học, Tạp chí Văn học (sau Cách mạng), Tuần báo Văn nghệ, v.v…

***

Ngoài ra, có một số tài liệu do chúng tôi mới sưu tầm, mới dịch từ Hán văn hoặc mới phiên âm từ nôm, chưa in hoặc chưa xuất bản.



MỤC LỤC


Lời nói đầu

Phần thứ nhất
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC THƠ CA
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM


Chuơng I. Quan hệ giữa sự xác định tinh thần dân tộc và sự tiếp thu tinh hoa nước ngoài trong hình thức thơ ca Việt Nam

Chương II. Sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam

1. Hình thức thơ ca dân gian, cơ sở của hình thức thơ ca cổ truyền dân tộc.

2. Sự phát triển của hình thức thơ ca từ thế kỷ thứ X cho đến cuối thế kỷ thứ XIX

3. Sự phát triển của hình thức thơ ca đầu thế kỷ thứ XX

4. Sự phát triển của hình thức thơ ca từ sau Cách mạng tháng Tám

Phần thứ hai
CÁC THỂ THƠ CA


Chương I. Tính chất chung cuả các thể thơ ca cổ

A. Thanh và đối

B. Vần và nhịp

Chương II. Các thể thơ ca cổ truyền Việt Nam

A. Các thể gốc từ bốn từ đến nhiều từ và các thể hỗn hợp khác

B. Ca khúc Việt Nam

1. Dân ca đồng bằng Bắc Bộ và chèo

2. Ca Huế và tuồng cổ

3. Ca trù



Chương III. Các thể thơ mô phỏng thơ ca Trung Quốc

A. Thể thơ cổ phong

B. Thể thơ Đường luật

C. Các thể thơ đặc biệt

D. Từ khúc

Chương IV. Các thể văn vần và biền văn khác

A. Phú và văn tế

B. Thể đối liên và biền ngẫu

C. Văn xuôi cỗ



Chương V. Các thể thơ ca trong phong trào thư mới

A. Thể thơ

B. Vần thơ

C. Nhịp điệu và thanh điệu

D. Một số bài thơ mới có dạng đặc biệt

Chương VI. Các thể trường ca, truyện thơ, thơ trường thiên

Chương VII. Thơ tự do

Chương VIII. Thơ văn xuôi

NHỮNG SÁCH BÁO THAM KHẢO CHÍNH

Phần I. Bùi Văn Nguyên viết từ cuối thế kỷ XIX trở về trước. Hà Minh Đức, viết từ đầu thế kỷ XX về sau.

Phần II. Bùi Văn Nguyên viết các chương I, II, III, IV, Hà Minh Đức viết các chương V, VI, VII, VIII.

–––//–––


THƠ CA VIỆT NAM
HÌNH THỨC VÀ THỂ LOẠI

Tác giả: BÙI VĂN NGUYÊN – HÀ MINH ĐỨC


NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai – Q.1
ĐT: 8225340 – 8296764 – 8220405 – 8222726 – 8296713 – 8223637 FAX: 84.8.298540
Chịu trách nhiệm xuất bản: TRẦN ĐÌNH VIỆT

Biên tập: HOÀNG MAI

Sửa bản in: HOÀNG TÂN

Trình bày bìa: THÁI TUẤN HOÀNG và XUÂN THỦY


In 1.000 cuốn, khổ 14,5 x 20,5 cm. In tại Xí nghiệp in FAHASA. Giấy phép số 649–18/CXB–QLXB, cấp ngày 10–8–1998. In xong nộp lưu chiểu tháng 5/1999.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương