Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI


Chương V. CÁC THỂ THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI



tải về 2.21 Mb.
trang11/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

Chương V. CÁC THỂ THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI


Thuật ngữ “thơ mới” không nhằm để chỉ một thể thơ xác định và duy nhất nào như thơ Đường luật, thơ tự do và thơ văn xuôi, v.v…

Nói đến thơ mới là đề cập đến trào lưu thơ ca trong văn học Việt Nam phát sinh vào những năm 30 của thế kỷ XX với những cây bút tiêu biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, v.v…

Phong trào thơ mới là một trào lưu thơ ca có những yếu tố mới về nội dung cũng như hình thức. Về nội dung thơ mới là tiếng nói của một lớp công chúng mới có những yêu cầu mới về tư tưởng, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ. Về hình thức, thơ mới mang lại nhiều khả năng biểu hiện cho thơ ca và do đó thúc đẩy sự phát triển của thơ ca thời kỳ hiện đại. Nhưng những hình thức biểu hiện của thơ mới không đoạn tuyệt với quá khứ hoặc mang tính chất ngoại lai. Nhưng nhà thơ mới đã biết khai thác và phát huy những truyền thống tích cực của các hình thức thơ ca dân tộc, đồng thời cũng học tập có sáng tạo những hình thức của thơ ca nước ngoài.

Dưới đây, chúng ta tìm hiểu những hình thức phổ biến và ổn định của thơ mới về mặt kết cấu của thanh điệu, nhịp điệu, vần thơ tóm lại những yếu tố cụ thể của các thể thơ đó.


A. THỂ THƠ


Về mặt này, các nhà thơ mới đã vận dụng nhiều hình thức nhưng phổ biến hơn cả là thể thơ 5 từ, 7 và 8 từ. Ngoài ra cũng có những thể dài ngắn không nhất định. Thí dụ thể ngắn gồm 2,3 từ, thể dài gồm 11,12 từ. Sau đây là một vài thể phổ biến:

1. Thể bốn từ

Trong thơ ca dân gian thể bốn từ thường dùng trong vè dưới hình thức nói lối, kể chuyện. Thơ bốn từ trong thơ mới thường không dùng vần lưng hoặc gieo vần nối đuôi nhau của thể nói lối mà dùng vần chân hoặc gián cách, hoặc liên tiếp hoặc ôm nhau theo những cách hiệp vần phổ biến của thơ mới. Nhiều bài thơ có tính trữ tình đã đi vào biểu hiện nội tâm kết hợp với miêu tả cảnh thiên nhiên, và có những bài có giá trị, thí dụ:



CHIỀU XUÂN

Xuân gợi tràn đầy

Giữa lòng hoan lạc

Trên mình hoa cây…

Nắng vàng lạt lạt

Ngày đi chầy chầy…

Hai hàng cây xanh

Đâm chồi hy vọng

Ôi duyên tốt lành

Én ngàn đưa võng

Hương đồng hanh hanh

Kề bên đường mòn

Mùa đông đã tạnh

Cỏ mọc bờ non

Chiều xuân tươi mạnh

Gió bay vào hồn

Có bàn tay cao

Trút bình ấm dịu

Từ phương xa vào

Người cô yểu diệu

Nghe mình nao nao

Nhạc vương lên trời

Đời măng đang giậy

Tưng bừng muôn nơi

Mái rừng gió hẩy

Chiều xuân đầy lời.

(Huy Cận – Ngày nay số 102)



2. Thể năm từ

Thể thơ năm từ vốn đã có trong thơ ca dân gian (phổ biến là lối hát giặm Nghệ Tĩnh) và trong các loại thơ cổ phong và thơ Đường (ngũ ngôn cổ phong và ngũ ngôn Đường luật):

Một Số nhà thơ mới đã dùng thể thơ năm từ để sáng tác. Những bài thơ năm từ như Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Tình quê của Hàn Mặc Tử, Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Viễn khách của Xuân Diệu, v.v… đều là những bài thơ mới có giá trị trong loại này.

Thể thơ năm từ của phong trào thơ mới không cô đúc một cách gò bó như ngũ ngôn Đường luật, mạch thơ mở rộng hơn, tứ thơ bay bổng và tình ý thiết tha hơn. Thanh điệu ở đây nhịp nhàng và lối diễn đạt ở đây nhuần nhị nhờ sự vận dụng nhiều vần bằng cũng như cách sắp xếp hài hòa giữa tiết tấu và thanh điệu…

Thí dụ Lưu Trọng Lư, trong bài Tiếng thu khi định gợi lên qua khung cảnh mùa thu một nỗi buồn man mác, đã khéo ngắt ý thơ xếp gọn vào những câu năm từ liên tiếp theo kiểu mệnh đề nghi vấn, phù hợp với sự láy ý của điệu thơ, tạo cho bài thơ có một tính chất điệp khúc nội tại đặc sắc:

Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong lòng người cô phục?...

Hoặc có tác giả dùng nhịp thơ dồn dập, thắt lại, chuyển về một tình cảm, xoáy sâu vào một tâm trạng thiết tha.



Dầu ai không mong đợi

Dầu ai không lóng nghe

Tiếng buồn trong sương dục

Tiếng hờn trong lũy tre

Dưới trời thu man mác

Bàn bạc khắp sơn khê

Dầu ai trên bờ liễu

Dầu ai dưới cành lê

Với ngày xanh hờ hững

Cố quên tình phu thê

Trong khi nhìn mây nước

Lòng xuân cũng não nề,

(Hàn Mặc Tử – Gái quê)

Lối diễn tả sâu sắc những xức cảm đó thường ít có trong thơ ngũ ngôn cổ thể hoặc Đường luật

Cũng có một hiện tượng đáng chú ý là do lối gieo vần mới của từng cặp một chéo nhau, ôm nhau hoặc gián cách nên nhiều bài thơ thường ngắt ra từng bốn câu một (từng khổ thơ bốn câu có dáng dấp như một bài ngũ ngôn tứ tuyệt). Nhưng khổ thơ đó vẫn gắn liền với hơi thơ của toàn bài, thí dụ:



ÔNG ĐỒ

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ

1936 (Vũ Đình Liên – Báo Tinh hoa)



3. Thể bảy từ

Thể bảy từ hay gọi là thất ngôn là thể thơ được sử dụng khá phổ biến trong phong trào thơ mới. Về thể thơ này, có những điểm cần chú ý:

a) Thất ngôn bát cú Đường luật Loại này không phát triển, vì chính đây là thể thơ gò bó đang bị thơ mới lấn át. Tuy nhiên cũng có người vẫn tiếp tục sáng tác theo lối này như Quách Tấn với các tác phẩm Một tấm lòng và Múa cổ điển. Mặc dù các nhà thơ này có được một số bài hay, song cũng không cứu vãn được một hình thức thơ không phù hợp với thời đại nữa.

b) Thể thất ngôn được nâng lên qua những sự cách tân về khổ thơ, vần điệu.

Những bài thơ thất ngôn dài ngắn không hạn định về số câu song thường tập hợp lại thành những khổ, mỗi khổ gồm 4 câu (hiện tượng này chủ yếu là do cách gieo vần của thơ mới tạo thành) Ví dụ bài Giây phút chạnh lòng của Thế Lữ gồm 9 khổ (36 câu) và bài Vẻ đẹp thoáng qua cũng của tác giả gồm 7 khổ (28 câu), v.v… Mỗi khổ thơ gần như là một bài thất ngôn tứ tuyệt tuy ý không tập trung và trọn vẹn bằng.

Hình thức bài thơ 4 khổ là hiện tượng khá phổ biến trong thơ mới thất ngôn. Một số nhà thơ mới cho rằng bài thơ 4 khổ (16 câu) có được tính cân đối, mẫu mực để diễn tả nội dung. Nhà thơ không bị gò bó trong một số câu hạn chế như tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú khi muốn bàn về những đề tài rộng rãi. Ý thơ cũng không bị dàn trải hoặc pha loãng nếu mạch thơ kéo dài không hạn định. Bài thơ 4 khổ cũng có ít nhiều dáng dấp của lối xon–nê (sonnet) trong thơ Pháp. Có thể những bài theo lối xon–nê ảnh hưởng phần nào đến cấu trúc của những bài thơ 4 khổ chăng?

Thí dụ:

TRàNG GIANG

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,

Củi một cành khô lạc mấy đòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều;

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang;

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Huy Cận – Lửa thiêng)

Ngoài những bài dẫn chứng trên, có thể kể thêm những bài thơ thất ngôn bốn khổ tiêu biểu như: Trăng huyền diệu, Đây mùa thu tới, Buồn trăng, Đơn sơ, Với bàn tay ấy, v.v… của Xuân Diệu, Áo trắng của Huy Cận, Vu vơ và Ao ước của Tế Hanh, Mùa xuân chín, Đà Lạt, trăng mờ, v.v… của Hàn Mặc Tử, Đêm tàn, Hồi trôi, Xuân v.v… của Chế Lan Viên, Xuân về của Nguyễn Bính, v.v…

Bên cạnh những bài thơ thất ngôn bốn khổ, cũng có những bài thơ thất ngôn ba khổ (12 câu) như Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử, Thu và tình trai của Xuân Diệu.



4. Thể thơ tám từ

Thể thơ tám từ là một sáng tạo của phong trào thơ mới. Một bộ phận quan trọng của thơ mới được viết bằng thể thơ này. Bài thơ không hạn định về số câu, vần gieo bằng vần chân. Gần như không có vần lưng. Lối gieo vần kết hợp vần liên chân với những lối gieo vần trong thơ ca phương Tây. Câu thơ tám từ thường ngắt nhịp theo hai hay ba tiết tấu. Sự nhịp nhàng vẫn được giữ vững trên cơ sở qui luật cân đối giữa các âm tiết, các tiết tấu các đoạn mạch. Những yếu tố mới đó làm cho thể thơ tám từ có một đặc tính và khả năng diễn tả riêng. Tuy nhiên, thực chất thì thể tám từ vẫn bắt nguồn từ các thể thơ ca dân tộc và trực tiếp hơn là ở thể hát nói. Một số người nghiên cứu về thơ mới đều có một nhận xét khá thống nhất là thể thơ tám từ có nguồn gốc ở thể hát nói. Nếu so sánh và phân tích cụ thể, chúng ta có thể xác minh nhận định đó là đúng.

Chỗ giống nhau giữa thể thơ tám từ và thể hát nói.

– Số từ trong câu hát nói có thể từ 4, 5 từ đến 12, 13 từ nhưng thường là 7 và 8 từ. Nên có nhiều câu nhiều khổ trong bài hát nói có cùng một số từ như một khổ thơ 8 từ.

– Về thanh điệu: Thể thơ tám từ tuân theo quy luật sắp xếp thanh điệu của thể hát nói. Và đấy cũng là yếu tố rất cơ bản để thơ mới giống với hát nói.

Một câu hát nói thường được chia làm ba tiết tấu. Mỗi tiết tấu phải đối thanh theo luật bằng trắc.



Ví dụ:

Trải bao nhiêu

/

ngày tháng

/

hạ thu đông

(b)




(t)




(b)

Ròng rã

/

nỗi nhớ nhung

/

xuân có biết

(t)




(b)




(t)

(Tản Đàn – Gặp xuân)

Câu thơ của thể thơ tám từ về cơ bản cũng tuân theo luật bằng trắc đó. Ví dụ:

Anh nhớ tiếng

/

anh nhớ hình

/

anh nhớ ảnh

(t)




(b)




(t)

Anh nhớ em

/

anh nhớ lắm

/

em ơi

(b)




(t)




(b)

(Xuân Diệu – Tương tư chiều)

Đường trong làng

/

hoa dại

/

với mùi rơm

(b)




(t)




(b)

Người cùng tôi

/

đi dạo

/

giũa đường thơm

(b)




(t)




(b)

Về cách gieo vần, thơ tám từ cũng vận dụng cách gieo vần của thể hát nói: dùng cả vần bằng và vần trắc, vần lưng và vần chân. Chúng ta so sánh lối gieo vần của một đoạn hát nói:

GẶp XUÂN

Gặp xuân nay / xuân chớ / lạ lùng

Tóc có khác / trong lòng / ta chẳng khác.

(cv)

Kể từ thuở / biết xuân bốn chín năm về trước

Vẫn rượu thơ / non nước thú làm vui

(cv)

Đến xuân nay / ta tuổi / đã năm mươi

Tính trăm tuổi / đời người / ta có nửa

(cv)

Còn sau nữa / lại bao nhiêu / xuân nữa

Mặc trời cho / ta chửa / hỏi làm chi

(cv)

Sẵn rượu đào / xuân uống / với ta đi

Chỗ quen biết / kể gì / ai chủ khách.

(cv)

(Tản Đà)


và một đoạn thơ tám từ:

LỜi KỸ nỮ

Em sợ lắm / giá băng / tràn mọi nẻo



Trời đầy trăng / lạnh lẽo / suốt xương da

(cv)

Người giai nhân / bến đợi / dưới cây già

Tình du khách / thuyền qua / không buộc chặt

(cv)

Lời kỹ nữ / đã vỡ / vì nước mắt

Cuộc yêu đương / gay gắt / vị làng chơi

(cv)

Người viễn du / lòng bận / nhớ xa khơi

Gỡ tay vướng / để theo lời / gió nước

(cv)

Xao xác tiếng gà / trăng ngà / lạnh buốt

Mắt run mờ / kỹ nữ / thấy sông trôi

Du khách đi / du khách / đã đi rồi

(Xuân Diệu)

Lối gieo vần của hai đoạn thơ trên về cơ bản giống nhau. Với những bài thơ loại trên, thể thơ tám từ rất gần với thể hát nói.

Tuy nhiên phần lớn những bài thơ tám từ thường không gieo vần lưng mà chỉ gieo vần chân. Vần chân được gieo từng cặp theo các dạng liên tiếp, gián cách, ôm nhau, hỗn hợp, v.v… Đó là điểm mới trong cách gieo vần của thơ tám từ so với thể hát nói.

Thể thơ tám từ phát triển từ thể hát nói, song có nhiều điểm khác với hát nói. Cấu tạo của toàn bài thơ tám từ không có sự hạn định về số câu, số khổ thơ như bài hát nói, không có những thành phần như mưỡu đầu, mưỡu cuối và hai câu thơ theo cách luật riêng ở giữa bài. Về cú pháp thơ ca, thể thơ tám từ cũng có nhiều điểm mới trong vận dụng ngôn ngữ so với thể hát nói. Thơ tám từ là một thể thơ giàu tính sáng tạo của phong trào thơ mới.

NHỚ RỪNG

(Lời con hổ ở vườn Bách thú)

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thắm

Nay sa cơ bị nhục nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở lung hoành hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già

Tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi



Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc

Trong hang tối mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những ngày mưa chuyển động bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để chiếm lấy riêng ta vùng phần bí mật?

Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

(Mấy vần thơ, Tập mới – 1941)

5. Thể thơ câu dài câu ngắn từ tám từ trở lên

Trong phong trào thơ mới, thể thơ phổ biến nhất là thể từ 5 đến 8 từ. Những thể 10 từ trở lên rất hiếm. Điểm lại những bài thơ có giá trị của phong trào thơ mới, chúng ta thấy có rất ít những bài thơ theo thể 10 từ trở lên.

Nhịp điệu của những bài thơ có câu thơ từ 10 từ trở lên thường nặng nề, thiếu uyển chuyển, quy luật về thanh điệu không rõ rệt. Thí dụ:

CHỊ THỢ MỎ THAN THÂN

Lên xuống cửa lò thân tôi quen từ thuở nhỏ

Lao công từ lên chín là cái tuổi bơ thờ

Trẻ trong xóm vào tuổi này riêng tôi là khổ

Tôi khổ tôi chẳng buồn vì cha mẹ tôi nghèo khó

Cha tôi đui bởi nạn lửa than trong hầm mỏ

Có sự khoẻ nên không đành khoanh tay ngồi xó

Đói tức phải bò mẹ con tôi dắt nhau đi

Xuống mỏ ngày cũng như đêm: ôi khó thở

Nguy hiểm nặng nề chúng tôi nào kể chi

Làm việc dưới hầm than tối tăm đầy thán khí

Ba trăm thước cách mặt đất thật chốn âm ty

Vì sự sống phải liều, chết có số tử vi

Tin ở thần hộ mạng sáu năm tôi làm mỏ

Thân sống cũng như chết đời khổ như đời chó

Ăn ngủ thì thất thường sức khoẻ mong gì có

Mệt ngủ ngay dưới hầm dầu mỡ với bụi than

Mê man nhớ chết ngột, người gọi còn bàng hoàng

Tỉnh dậy rờ lên mặt, bụi than với hơi nước

Pha lộn với mồ hôi, làm mặt tôi đen mượt

Than ôi lòng trái đất cớ sao lạnh ướt?

Độc hay lành thân vô phước còn mất kể chi?

Cháy hầm than và đất sập tôi thường thấy đôi khi

Dạn mặt với bụi than, nguy hiểm với hiểm nguy

Thân này còn được sống, sớm tối vất vả đi

Đi theo người cùng xóm; n hèn nào biết nghỉ

Đi vào con đường chết, trọn đời còn thứ gì

Khốn khổ thay sự sống, vì sống phải vào mỏ

Trách trời chẳng đáng trách phải trách người bày ra nó

…… bị kiểm duyệt ……

15–1 –1934
(Tuyên thanh An thị – Phụ nữ tân văn số 235)

Bà LA FUGIE, NHà THáM HIỂM Và HỌA Sĩ

(Một bài thơ mới gửi riêng cho các anh nghiện)

Các anh ơi dẹp lọ, dẹp đèn, dẹp tim, dẹp móc,

Để tôi dắt các anh ra mắt một người đàn bà

Một người đàn bà từng biết bao phen lăn lóc

Giữa tạo vật với phong ba (đây chẳng phải là “tạo vật”

phong ba” theo nghĩa bóng của các anh thường than thở)…



Người từng lướt đi chẳng kể nắng nung, tuyết lạnh Đất nghiêng, đá vỡ

Người ăn vận như bạn trai, ngồi lưng ngựa long chong.

Mà qua đèo, xuống hố, lên dốc, lội hào.

Cùng một bọn tùy tùng dân lạ, sắn đi giũa non núi chình chòng.

Rồi chảy qua những ngày phẳng lặng, những đêm hung giông bão…

Các anh ơi, đó là nhà thám hiểm, lại là giống đàn bà, đem cái trí, cái tài, cái gan của mình để phục vụ khoa học

Sống để đi kiếm trên mặt đất, những hóc nào mà loài người còn cô độc.

Những xứ tít mù xa, sống để khảo sát bao la…

Rồi mượt bút họa thần tình mà gộp trong mấy vuông giấy trắng thế giới bằng phong cảnh, nhân loại bằng hình người.

Cái tài nuôi cái chí, người ta tạo người. ôi! mấy bức tranh của họa sĩ là một đời in khắn!

Các anh ơi các anh chẳng có biệt tài, có chí cao, có gan lớn thì tôi chẳng xúi các anh những chuyện đi xa.

Tôi chẳng buộc các anh cưỡi ngựa vượt non, băng ngàn lưu linh xứ lạ.

Chống với gió mưa vất vả với sương tuyết, tơi tả với băng sơn.

Tôi chỉ xin các anh bẻ ống, đập đèn, liệng tim, quăng móc,

Tôi chỉ cầu các anh thôi hút, bỏ đứt tật ghiền:

Các anh hư nghe tôi chăng? Hay là:

Đang lúc tâm hồn tôi rung động vì một bậc anh tài mới thoáng qua.

Đang lúc tôi hăm hở hát ca cái can đảm, cái khí tiết, cái hùng dũng.

Của một người đàn bà mà các anh vẫn nằm điềm nhiên, vẫn móc, vẫn tim, vẫn hút, vẫn ghiền. Thì các anh ơi,

Đành rằng trọn đời, trên thế giới người ta.

Các anh chẳng phải là đàn ông, mà các anh cũng chẳng đáng làm đàn bà!

(Nguyễn Thị Manh Manh


Phụ nữ tân văn ngày 20–4–1934)

6. Thể lục bát

Ngoài các thể thơ ổn định và phổ biến như năm từ bảy từ và tám từ, các thể lục bát và song thất lục bát cũng được nhiều nhà thơ mới sử dụng. Về cấu trúc thể thơ thì thể lục bát và song thất lục bát vẫn ổn định. Còn về cú pháp thơ ca thì ít nhiều có thay đổi cho phù hợp với nội dung và tình cảm mới. Thế Lữ, Huy Cận, Nguyễn Bính, v.v… đã viết được nhiều bài thơ lục bát có giá trị. Nhìn chung về hình thức, thể thơ lục bát trong thời kỳ thơ mới được khai thác theo hai khuynh hướng. Khuynh hướng “hiện đại hóa” và khuynh hướng trở về với ca dao. Khuynh hướng “hiện đại hóa” được thể hiện khá rõ rệt trong những bài thơ lục bát của Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu và Thanh Tịnh. Thực ra các tác giả này cũng không đem lại cho thể lục bát một cái gì mới lạ về hình thức, mà vấn đề chủ yếu là khai thác đặt trưng vốn có của thể này, để thể hiện những xúc cảm mới. Nhịp điệu của câu thơ lục bát được thể hiện hoàn chỉnh qua hai dòng thơ: sự kết hợp giữa hai loại vần chân và vần lưng và thường được gieo ở số từ chẵn đã tạo cho thể lục bát một âm hưởng và một nhịp điệu riêng, đặc biệt là vần chân cũng như vần lưng bao giờ cũng hiệp vần với thanh bằng nên nhịp điệu chung của câu thơ lục bát thường nhẹ nhàng, uyển chuyển và ngân vang. Những bài thơ mới đã khai thác triệt để đặc trưng này của nhịp điệu để diễn tả những nỗi buồn mơ hồ và kéo dài, những tình cảm bâng khuâng thương nhớ, vừa lơ lửng lại vừa quẩn quanh. Những bài thơ lục bát như Buồn đêm mưa, Thu rừng, Ngậm ngùi của Huy Cận và Tiếng sáo Thiên thai của Thế Lữ, Chiều của Xuân Diệu, thể hiện rất rõ đặc điểm này. Các nhà thơ thường vận dụng nhiều thanh bằng, ngắt dòng thơ theo nhị chẵn và dùng nhiều từ lấp láy hoặc sóng đôi để tạo cho bài thơ một nhịp điệu nhẹ nhàng, kéo dài, một cách u uẩn hoặc thanh thoát



Nghe đi rời tạt trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…

Rơi rơi dìu dịu rơi rơi…

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ…

Tương tư hướng lạc phương mờ

Trở nghiêng gối mộng hững hờ nằm nghe.

(Huy Cận)



Sầu thu lên vút song song

Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu.

Non xanh ngày cả buồn chiều

Nhân gian nghe cũng tiêu điều dưới kia

(Huy Cận)



Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều

Lòng không sao cả hiu hiu sẽ buồn

(Xuân Diệu)



Tiếng đưa hiu hắt bên lòng

Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn.

(Thế Lữ)


Bên cạnh khuynh hướng này là khuynh hướng trở về với làn điệu ca dao và tiêu biểu là Nguyễn Bính. Nguyễn Bính làm được nhiều bài thơ lục bát mang phong cách ca dao, về hình ảnh ngôn ngữ nhịp điệu cũng như lối diễn đạt:

Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào!

Nhịp điệu thơ lục bát của Nguyễn Bính thanh thoát linh hoạt. Nhưng có một điều đáng tiếc là Nguyễn Bính về thực chất không phải là một nhà thơ của đồng quê. Nguyễn Bính là một nhà thơ tiểu tư sản thích viết về nông thôn theo cảm xúc và suy nghĩ riêng của mình. Thơ lục bát của Nguyễn Bính còn thiếu cái chất phác bình dị trong nội dung xúc cảm. Tác giả lại hay thi vị hóa cuộc sống ở nông thôn. Nguyễn Bính lại dùng nhiều từ sáo và màu mè để diễn tả những mối tình không được bù đắp, có tính chất éo le bi đát

Cho nên về thực chất cả hai khuynh hướng cũng chỉ là một, cùng có chung một cơ sở về thế giới quan, nhưng khác nhau về đề tài và lối diễn đạt

Trong thơ lục bát càng đã có hiện trong bắc cầu. Một số trường hợp câu thơ được ngắt nhịp linh hoạt hoặc có một ngữ điệu đặc biệt:



Cái gì như thể nhớ mong

Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng.

(Nguyễn Bính)



Đi mau! trốn nét! trốn màu!

Trốn hơi! trốn tiếng! trốn nhau! trốn mình!

(Xuân Diệu)

Các nhà thơ trong phong trào thơ mới nói chung chưa khai thác được chất chắc và khẻo cũng như khả năng kể chuyện của thể thơ lục bát.

B. VẦN THƠ


Các thể thơ trong phong trào thơ mới đều sử dụng nhiều hình thức gieo vần phong phú. Các lối gieo vần đã có trong thơ ca dân tộc đều được khai thác và vận dụng, ngoài ra thơ mới còn tiếp thu nhiều cách gieo vần của thơ ca nước ngoài chủ yếu là thơ ca Pháp.

Hai lối gieo vần cơ bản là vần lưng và vần chân vẫn được chú trọng. Vần lưng được dùng nhiều trong các thể lục bát, thất ngôn và phần nào trong thể thơ tám từ



Buồn gieo theo gió veo hồ

Đèo cao quán chật bến đò lau thưa

(Huy Cận)



Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt…

Người giai nhân bến đợi dưới cây già

Tình du khách thuyền qua không buộc chặt.

(Xuân Diệu)



Sớm nay tiếng chim thanh

Trong gió xanh

Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình.

(Đoàn Phú Tứ)

Những vần lưng níu nhau trực tiếp trong từng câu thơ gợi lên những âm điệu đặc biệt, tăng sức gợi cảm cho tứ thơ.

Ngoài vần lưng thơ mới dùng nhiều hình thức gieo vần chân. Trong thơ ca dân gian và một số thể thơ cũ đã có những cách gieo vần chân theo lối vần liên tiếp và gián cách. Thơ mới vẫn tiếp tục những cách hiệp vần đó, kết hợp với lối hiệp vần của thơ Pháp.



Vần lên tiếp theo lối tứ tuyệt

Năm năm theo tiếng gọi lên đường

Tóc rộng tơi bời gió bốn phương

Mấy lúc thẫn thờ trông trở lại

Để hồn mơ tới bạn quê hương

(Thế Lữ – Giây phút chạnh lòng)

Vần liên tiếp gieo từng cặp một:

Nén đau thương vương ngậm ngùi sẽ kể

Niềm ngao ngán vô biên như trời bể

Ôi tấm gan bền chặt như Thái sơn

Bao nhiêu thu cay đắng chẳng hề sờn

(Huy Thông – Tếng địch sông Ô)

Vần gián cách:

Ta cùng nàng nhìn nhau không tiếng nói

Sợ lời than lay đổ cả đêm sâu

Đôi hơi thở tìm nhau trong bóng tối

Đôi linh hồn chìm đắm bể u sầu

(Chế Lan Viên – Điêu tàn)

Vần ôm nhau:

Trên suối nhỏ chiếc cầu tre hẻo lánh

Tốp người qua lẫy bẫy vịn thanh ngang

Lũ trẻ con sung sướng nô cười vang

Đùa với bóng chảy theo giòng nước lạnh

(Nam Trân – Nắng thu)

Vần hỗn hợp: Những câu thơ xen lẫn nhau mà hiệp vần theo hai vần nhất định và thường là một bằng một trắc.

Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao nghe réo rắt?

Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt

Mây bay… Gió quyến mây bay…

Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.

(Thế Lữ – Tiếng trúc tuyệt vời)


C. NHỊP ĐIỆU VÀ THANH ĐIỆU


Nhìn chung câu thơ mới vẫn giữ đúng nguyên tắc của sự đối thanh về bằng trắc theo quy luật hài hòa về thanh điệu trong tiếng Việt. Dù câu thơ là hai hay ba tiết tấu, sự đối thanh giữa các tiết tấu đi liền nhau vẫn thực hiện được khiến cho câu thơ có âm hưởng và nhịp điệu quen thuộc của ngôn ngữ thi ca dân tộc.

Trong thể thơ 7 từ, lối ngắt nhịp phổ biến là theo dạng 4–3 hoặc 2–2–3.

Ví dụ:

4 – 3:


Áo trắng đơn sơ / mộng trắng trong

Hôm xưa em đến / mắt như lòng

Nở bừng ánh sáng / em đi đến

Gót ngọc dồn hương / bước tỏa hồng

(Huy Cận)

hoặc:

2 – 2 – 3:



Nắng xuống / trời lên / sâu chót vót

Sông dài / trời rộng / bến cô liêu

(Huy Cận)

Hầu hết những bài thơ bảy từ đều dựa theo lối ngắt nhịp trên. Lối ngắt nhịp đó cũng là lối ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn bát cú.

Lối ngắt nhịp trên của thể thơ bảy từ trong thơ mới rất khác với lối ngắt nhịp của câu song thất trong thể song thất lục bát ngát theo nhịp 3–4 hoặc 3–2–2 hay câu thơ bảy từ kiểu nói sử trong thể thơ cổ truyền, cũng ngắt theo nhịp 3–4.

Trong thơ mới cũng có một số câu thơ bảy từ ngắt nhịp theo dạng câu song thất hay câu nói sử:

Tiếng diều sáo / nao nao trong vắt

Trời quang mây / xanh ngắt màu lơ.

(Thế Lữ)


Nhưng những câu thơ loại này rất ít. Đa số và có thể nói là hầu hết đều ngắt nhịp theo câu thơ Đường luật. Có thể tóm tắt hai lối ngắt nhịp và nguyên tắc về thanh điệu của hai thể thơ đó như sau:

Dạng phổ biến của câu thơ mới bảy từ theo công thức A hoặc B



1

2

3

4

5

6

7

–

t



b



t

(vần)



b



t



b

(vần)

Câu thơ song thất, thất trắc thất bằng

1

2

3

4

5

6

7





t



b



t(vần)





b



t(vần)



b(vần)

Qua công thức trên, chúng ta thấy hai câu thơ rất khác nhau về nhịp điệu và thanh điệu

Dùng vần chân và nhiều thanh bằng để hiệp vần nên lối gieo vần theo dạng 4–3 và 2–2–3 tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng hơn cho câu thơ bảy từ. Thể thơ bảy từ cổ truyền ngắt theo nhịp 3–4 hoặc 3–2–2 kết hợp với lối hiệp vần hỗn hợp cả bằng lẫn trắc, cả vần chân lẫn vần lưng tạo nên nhịp điệu câu thơ khỏe nhưng kém phần nhịp nhàng và mềm mại. Do đó những câu thơ song thất thường đi cặp với một câu lục bát để hài hòa thanh điệu làm cho nhịp điệu của câu thơ cân đối, nhiều màu sắc và cũng uyển chuyển hơn.

Thể bảy từ ngắt theo nhịp 3–4 và 3-2-2, kết hợp với lối hiệp vần hỗn hợp (mà không có lục bát kèm theo) thường ít được sử dụng trong thơ ca để xây dựng toàn bài vì nhịp thơ trúc trắc, khó xướng ngâm. Người ta thường thấy thể thơ trên được dùng trong thể nói sử và biến thể trong câu thơ của thể hát nói.

Thể bảy từ trong thơ mới đã tiếp thu thanh điệu và nhịp điệu uyển chuyển nhịp nhàng trong câu thơ Đường, nhưng không bị ràng buộc về các luật đối, niêm, v.v… Tuy lối ngắt nhịp phổ biến trong câu thơ bảy từ là 4–3 và 2–2–3 nhưng có những trường hợp nhịp ngắt thay đổi linh hoạt cho phù hợp với việc biểu hiện nội dung:



2 – 5

Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời

4 – 1 – 2

Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi

2 – 5

Long lanh / tiếng sỏi vang vang hận

4 – 3

Trăng nhớ Tầm dương / nhạc nhớ người

(Xuân Diệu – Nguyệt Cầm)

3 – 4

Đã mê rồi / Tư mã chàng ôi

4 – 3

Người thiếp lao đao / sượng cả người

1 – 1 – 5

Ôi / Ôi / hãm bớt cung cầm lại

2 – 5

Lòng say / đôi má cũng say thôi.

(Hàn Mặc Tử)

Trong thể thơ tám từ, câu thơ thường ngắt làm ba tiết tấu có sự đối thanh giữa các tiết tấu (như đã nói ở trên). Song cũng có nhiều trường hợp lối ngắt nhịp thay đổi làm cho câu thơ có một nhịp điệu riêng.

Trua quanh vườn / Và võng gió an lành

Ngang phòng trưa / ru hồn nhẹ cây xanh.

Trưa quanh gốc / Và mộng hiền của bóng

Bỗng reo theo /… lá… run theo… /… nhịp võng

Trưa lên trời / Và xanh thẳm / bầu trời;

Bỗng mê ly / nằm thấy / trắng / mây trôi…

Trưa / một ít trưa, / lạc vào lăng tẩm

Nhập làm hồn / những tượng xưa u thảm.

(Chế Lan Viên – Trưa đơn giản)

Về mặt thanh điệu, có những trường hợp nhà thơ vận dụng thành công trong một câu thơ sự phối âm của nhiều thanh bằng liền nhau. Thí dụ trong bài Nhị hồ, Xuân Diệu đã dùng toàn thanh bằng trong hai câu thơ:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

Huy Cận trong bài Buồn đêm mưa đã khéo dùng thanh điệu để diễn tả cái buồn của lòng người trong tiếng mưa rơi:



Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la…

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…

Rơi rơi… dìu dịu rơi rơi

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ

Tương tư hướng lạc phương mờ

Trở nghiêng gối mộng hững hờ nằm nghe

Gió về lòng rộng không che

Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư…

Các bài thơ Tiếng sáo Thiên Thai của Thế Lữ, Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ cũng có những hình thái biểu hiện tương tự.


D. MỘT SỐ BÀI THƠ MỚI CÓ DẠNG ĐẶC BIỆT


Trong phong trào thơ mới có một số bài thơ có cấu trúc đặc biệt về câu thơ, khổ thơ, thanh và nhịp điệu. Các bài thơ này được sáng tác ra hoặc là do sự tìm tòi có tính chất hiếu kỳ, hoặc là do sự mô phỏng theo thơ ca nước ngoài, hoặc là để làm vui câu chuyện văn chương. Những hình thức này không được thừa nhận là hình thức phổ biến, tuy nhiên ở những trường hợp sau đây các sáng tác đó ít nhiều có giá trị nghệ thuật

TỐi

Tối

Đi hoài

Chân mỏi

Giăng ló ngàn

Chim về núi

Muôn dặm mịt mù

Một mình lặn lội

Đèo ải bước gập ghềnh

Cảnh tình lòng bối rối

Đường xa gánh nặng ngại ngùng

Quãng vắng canh trường vòi vọi

Ô hay gai góc quãng đường đời

Vất vả thâu đêm đi chưa khỏi.

(Trần Huấn Chương – Lao Bảo 1936)

1. Bài thơ Tối trên đây viết theo khổ thơ hình tam giác. Lối thơ này đã có trong một số bài thơ của Pháp, ví dụ bài Les Djinns của Victor Hugo. Bài Les Djinns cấu trúc theo hình quả trám mà hai đỉnh là câu thơ gồm hai âm tiết và giữa là câu thơ 10 âm tiết.

2. Một trong những bài thơ dùng thanh bằng trong toàn bài:



Chiều chiều đi trên đồi êm như tơ

Chiều đi trong người êm như mơ

Lam nhung ô! màu ngưng lưng trời

Xanh nhung ô! màu phơi nơi nơi

Vàng phai nằm im ôm non gầy

Chim yên co mình nương xương cây

Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa

Đông Nam mây đùn nơi thành xa…

Oanh già theo Quyên: quên tin chàng

Đào theo Phù dung: thư không sang

Ngàn khơi, ngàn khơi, ta ngàn khơi

Làm trăng theo chàng qua muôn nơi

Theo chàng ta làm con chim uyên

Làm mây theo chàng bên nhung yên

Chàng ơi hồn say trong mơ màng

Hồn ta? hay là hồn tình lang

Bên kia Hàm dương: đây Tiêu tương

Tơ lòng nâng cao lên mành dương

Nay hoàng hôn rồi mai hôn hoàng

Trông gương buồn dơ cho dong nhan

Non yên tên bay ngang muôn đầu

Thâm khuê oan gì giam xuân sầu?

Ai xây bờ oan trên xương người?



Ai xây mồ hoa chôn xuân tươi?

(Bích Khê Lê Mộng Thu)

3. Bài thơ tình hoài sau đây làm theo nguyên tắc các chữ trong câu thơ đều cùng theo một dấu, và các câu thơ lần lượt theo các dấu huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã, v.v…

TìNH HOàI

Trời buồn làm gì trời rầu rầu

Anh yêu em xong anh đi đâu?

Lắng tiếng gió suối thấy tiếng khóc

Một bụng một dạ một nặng nhọc

Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi

Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi

Thương thay cho em căm thay anh

Tình hoài càng ngày càng tầy đình.

(Lê Ta)





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương