Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang10/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

Chương IV. CÁC THỂ VĂN VẦN VÀ BIỀN VĂN KHÁC


Như đã nói ở trên căn cứ vào hai yếu tố: đối và vần mà người ta chia tất cả các loại thơ ca cổ ra làm bốn hình thức: hoặc có đối, hoặc có vần, hoặc có cả hai, hoặc cũng không bắt buộc có đối hay có vần gì cả. Ngoài các thể thơ ca đã nói ở trên, bốn hình thức đó còn áp dụng vào các thể khác sau đây:

– Thể phú và văn tế là thể bắt buộc phải có vần (vận văn), sau mới thêm phần có đối (biền văn).

– Thể đối liên và biền ngẫu là thể chỉ cần có đối (biền văn).

– Thể văn xuôi cổ là thể không buộc phải có vần và có đối (nhưng thường thì ít nhiều có đối và thỉnh thoảng cũng có vần)

Sau đây, lần lượt sẽ trình bày các thể đó.

A. PHÚ VÀ VĂN TẾ


I. PHú

Phú vốn là một thể văn vần bắt nguồn từ thơ cổ, không bắt buộc phải có đối. Phú nghĩa là trình bày, mô tả cùng nghĩa trong ba từ: “phú, tỉ, hứng”, có thể nói: nếu thơ thiên về tả tình, thì phú thiên về tả cảnh, nhưng vì cách đặt câu của phú khác với thơ, nên thành ra một thể riêng. Dần dần về sau, phú chia ra làm hai thể: một thể chỉ cần có vần mà không cân đối, gọi là cổ thể, đời Đường lại đặt ra lệ: phú phải có vần và có đối, gọi cà cận thể.



1. Phú cổ thể

Phú cổ thể chính là một thể văn vốn là từ thơ cổ phong dãn ra, do đó cách kết cấu rộng rãi, các đoạn mạch cũng không cần phải chặt chẽ, chỉ cần vần mà không cần đối, cũng không cần hạn số vần nhất định, mỗi câu có thể là bốn từ, bảy từ hay nhiều từ theo lối trường đoản cú không cần đối. Những bài phú dùng toàn câu bốn từ, gọi là phú tứ tự, dùng toàn câu bảy từ, gọi là phú thất tự. Những bài phú theo lối trường đoản cú, lối văn xuôi có vần gọi là phú lưu thủy. Ngoài ra những bài phú có những câu đệm từ hề (chừ), gọi là phú theo điệu Sở từ. Sau đây là mấy thí dụ:

a) Trích đoạn đầu bài phú Tài bán làm thể tứ tự:

Tài bàn, tài bàn! Ai sinh ra chàng? Trăm hai mươi quân, phu bá kéo hàng. Cũng văn, cũng sách cũng chi, lão, thang. Nào ăn, nào đánh, muốn dọc muốn ngang. Có lạ gì đâu, khác chín lưng khàn. Từ khi mới sang, vát mặt nghênh ngang; đi đâu theo đó, sum họp thành làng

(Khuyết danh)

b) Trích đoạn đầu bài Ngọc tỉnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi, làm theo thể Lưu thủy.

Khách có kể: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng hồng

Ao trong ngắm làn nước biếc. Nhạc phù vịnh khúc Phù dung.

Chợt có người: mặc áo quê, đội mũ vàng.

Tiên phong dạo cốt, khác xa trần gian

Hỏi: “Ở đâu lại?” Rằng: “Từ Họa Sơn”

Bèn bắc ghế, bèn mời ngồi…

c) Trích đoạn đầu bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, làm theo thể Lưu thủy có pha lối Sở từ.



Khách có kẻ giương buồm giong gió chơi vơi, lướt bể chơi trăng mải miết.

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; chiều lần thăm chừ Vũ huyệt

Cửu giang, Ngũ hồ, Tam Ngô, Bách Việt,

Nơi có người đi đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân mộng chứa trong kho tư tưởng cũng nhiều,

Mã tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.

Bèn giữa dòng chữ buông chèo; học Tử trường chừ thú tiêu dao…

Bài Ngọc tỉnh liên phú và bài Bạch Đằng giang phú đều theo lối Lưu thuỷ, câu dài câu ngắn không nhất định, và không buộc phải đối nhau, nhưng thực ra thỉnh thoảng cũng có câu đối nhau. Bài sau chỉ khác bài trước ở chỗ thỉnh thoảng có pha điệu Sở từ



2. Phú cận thể hay phú đường luật

Nếu phú cổ thể ít được dùng trong văn học quốc âm, thì phú cận thể hầu như được dùng rất phổ biến. Thể phú này có từ đời Đường nên đời sau gọi là phú Đường luật. So với phú cổ thể, phú Đường luật có kết cấu chặt chẽ, theo một số quy luật nhất định:



a. Về cách đặt câu

Câu trong phú Đường luật phải có vần và phải đối nhau.



+ Vần: Vần có hai lối: độc vận, nghĩa là suốt cả bài chỉ có một vần, liên vận, nghĩa là bài gồm nhiều vần. Vần thì có thể vần bằng, có thể vần trắc, độc vận cũng có thể hoặc bằng, hoặc trắc. Gieo vần có hai cách: phóng vận, tức là tự người làm buộc phải theo một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhất định. Thí dụ như Hương giang thu phiếm của Phan Bội Châu. Hạn vận: Người buồn cảnh có vui đâu. Trong phú liên vận, từ câu trên chuyển xuống câu dưới, từ đoạn trên chuyển xuống đoạn dưới đều tự do thay đổi vần lúc nào cũng được, miễn là nằm trong một đoạn mạch của bố cục.

+ Đối: Câu trong phú Đường luật khác câu trong phú cổ thể là phải đối nhau dù đặt theo lối bát tự, song quan, cách cú hay hạc tất. Đối thì phải đối thanh đi đôi với đối ý. Trong câu bát tự và song quan, nếu từ cuối câu trên là trắc thì từ cuối câu dưới là bằng hoặc ngược lại; trong câu cách cú hay hạc tất, từ “đậu” cũng phải theo lệ đó. Đấy là luật của hệ thống ngang, còn có niêm của hệ thống dọc, tức là quan hệ về thanh giữa các câu bát tự, song quan, cách cú, hạc tất trong một bài phú. Thí dụ:

Khổ dạng trâm anh.

Nết na chương phủ.

Hoi miệng sữa tuổi còn giọt máu, nét hào hoa chừng ná Tấn, Dương; Chòm tóc xanh vừa chấm ngang vai, lời khi nghiệp những so Y, Phó.

Chú ý: Ở đây, hai câu bát tự chuyển xuống hai câu cách cú. Như vậy, từ phủ ở cuối câu thứ hai bát tự là trắc phải ăn khớp với từ máu là từ đậu cũng trắc ở cuối vế thứ nhất câu đầu cách cú kế tiếp. Cũng như vậy, từ Dương là bằng ở cuối câu đầu cách cú phải ăn khớp với từ vai là từ đậu cũng bằng ở cuối vế thứ nhất câu thứ hai cách cú, v.v… Có thể tóm tắt niêm trong 4 câu nói trên như sau:

phủ (trắc)

máu (trắc)

Dương (bằng)

vai (bằng)

Phó (trắc) v.v…

Như vậy, là thanh trắc hay thanh bằng phải niêm từng cặp với nhau, nếu lẻ là thất niêm.

b. Về cách bố cục:

Cách sắp đặt đoạn mạch trong một bài phú Đường luật cũng chặt chẽ như trong một bài thơ Đường luật, nghĩa là cũng đủ khai, thừa, thực, luận, kết. Trong một bài phú, thường người ta chia ra 5 hoặc 6 đoạn, thí dụ:

1. Lung: đoạn mở đầu nói bao quát toàn bài, cũng như phá đề.

2. Biện nguyên: giải thích ý nghĩa của chủ đề, cũng như thừa đề.

3. Thích thực: phân tích ý nghĩa toàn bài.

4. Phù diễn: dẫn chứng hoặc minh họa thêm cho rõ phần phân tích ở trên.

Cả hai đoạn này thực tế là một tương đương với phần thích thực trong thơ.

5. Nghị luận: bình luận ý nghĩa toàn bài.

6. Kết: phần tóm tắt và kết thúc.

Đây là nói chung, thực chất một bài phú thường gồm 4 đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết. Ở đoạn mở đầu cũng như ở phần đầu mỗi đoạn không dùng câu dài như cách cú hay hạc tất, mà chỉ dùng câu ngắn như bát tự, song quan, rồi mới đến câu dài. Trong mỗi đoạn, thường gieo một vần (nếu bài có nhiều vần), nhưng cũng có thể gieo nhiều vần, nếu không muốn gò bó.

Sau đây, trích một bài hoàn chỉnh để biết rõ cách bố cục:

Tài TỬ ĐA CùNG phú

(Độc vần: vần trắc)



Có một người.

Khổ dạng trâm anh

Nết na chương phú

Hoi miệng sữa tuổi còn giọt máu nét hào hoa chừng ná Tấn; Dương

Chòm tóc xanh vừa chấm ngang vai, lời khí nghiệp những so Y, Phó.

Nghiêng gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điềm lăn tăn

Bút vén mây dìu đặt văn chương, vòng thuyền khuyên, lỗ trỗ

Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan, Khổng chí xông pha nào quản chông gai.

Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình, Chu; tài bay nhẩy ngại chi lao khổ

Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước xuống, chén tiếu đàm mời mọc Trích tiên;

Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng họa thì thầm Lão Đổ.

Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mặt trần toan đạp cửa phù đồ

Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, gương tay Tạo rắp xoay cơn khí số

Tưởng đến khi vinh hiển đã an tường;

Song nghĩ lại trần ai không đếch chỗ

Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp, ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa;

Đèn con con gon chiếc chiếu lôi thôi, đêm tịch mịch soi chung vừng nguyệt tỏ.

Áo Trọng Do bạc thếch, dãi xuân thu cho đượm sắc cần lao;

Cơm Phiếu Mẫu hẩm sì, đói tuế nguyệt phải ngậm mùi tân khổ.

Gió trăng rơi rụng, để cái quyên gầy?

Sương tuyết hắt hiu, làm con nhạn võ.

Túi thanh bạch ngược xuôi miền khách địa; trăm nghìn đường, chỉ nhện dệt thưa mau.

Đèn toan hàn thúc nhắp mái nam song, dăm ba ngọn; lửa huỳnh khiêu nho nhỏ.

Miệng châu quế những rì rầm học vấn, chị chú Tô cằn nhằn chí hiểm nghèo;

Vai tân sài đủng đỉnh ngâm nga, vợ anh Mãi băn khoăn từng kẻ khó:

Đói rau rừng, thấy thóc Chu mà trả, đá Thú dương chơm chởm, xanh mắt Di nằm tốt ngáy o o;

Khát nước sông, trông dòng đục không vơ, phao Vị Thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho lụ khụ:

Trông ra nhấp nhô sóng nhân tình

Nghảnh lại vật vờ mây thế cố

Ngán nhẽ kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực chốn hầu môn;

Quảng đâu kẻ mảng cái giàm danh, áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.

Khéo ứng thù những các quan trên;

Xin bái nghảnh cùng anh phường phố

Khét mùi thế vị chẳng thà không!

Thơm nức phương danh nên mới khổ.

Tình uốn éo muốn vạch trời lên hỏi, nào kiếp Chử Đồng đâu tá, nỡ hoài chi chén ngọc để trần ai?

Trí lẳng lơ toan vượt bể đi tu, hỏi quê tiên tứ nơi mô, xin lĩnh lấy vân đan làm tế độ.

Bài phú Dương Hùng dù nghiên tả, thì xin quyết tống bần quỷ ra đến miền Đông Hải, để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài;

Câu văn Hàn Dũ phòng thiêng chăng, thì xin huyết tống cùng thần ra đến đất Côn–lôn, để ta gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú.

Nhọc nhằn có nhục mát cơn vinh;

Cay đắng lúc cùng bù lúc phú

Vậy có:

Lời nôm dặn bảo thế gian rằng:

Đừng thấy người bạch diện thư sinh,

Mà cười rằng “da cùng tài tử”

(Cao Bá Quát)



II. VĂN TẾ

Theo sách Thọ Mai, thì từ “văn tế” có một nghĩa rất rộng bao gồm nhiều loại văn dùng để tế thần, tế thánh, tế sống, tế ma và cả các loại văn dùng để chúc mừng như chúc thọ, chúc việc thăng quan quan tiến chức… Dần dần về sau, từ “văn tế” dùng theo nghĩa hẹp nghĩa là văn tế ma có mục đích kể tính nết, công đức người chết và lòng thương mến của người sống đối với người chết đó.

Văn tế thường được làm theo nhiều hình thức, có thể quy vào hai loại như sau:

– Văn tế thể tự do

– Văn tế phỏng theo thể phú Đường luật

1. Văn tế thể tự do

Văn tế thể tự do là thể không gò bó theo một khuôn khổ nào cả, dài ngắn không nhất định. Thể tự do đó hoặc theo lối từ khúc như bài Văn tế hoàng hậu của Dương Ước (trích dưới đây) hoặc theo lối lục bát như bài Chiêu hồi nước của Nguyễn Quyền, hoặc theo lối song thất lục bát, như bài Văn tế chúng sinh của Nguyễn Du, hoặc theo lối văn xuôi cổ như bài Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái hay bài Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh (trích dưới đây).



HOàNG HẬU TẾ VĂN

Duy…

Vu sơn nhất đóa vân

Lãng uyển nhất đoạn tuyết

Đào nguyên nhất chi hoa

Thu không nhất luân nguyệt

Khởi kỳ: Vân tán, tuyết tiêu

Hoa tàn, nguyệt khuyết!

Phục duy! Thượng hưởng!

VĂN TẾ CHỊ

Than ôi!

Dòng nước chảy về đâu, biết có về Đông hải vậy chăng.

Hồn phách chị ở đâu, biết có về Đông hải vậy chăng?

Hay là nơi Bồng hồ Lãng uyển, hay là nơi tứ phú thành đô?

Ao vàng khơi thẳm, biết là thăng giáng ở nơi cao, bụi còn một chút hình hài đưa về đất cố hương, muôn nước nghìn non, xa khơi cách trở.

Ôi! Kiếp nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như lửa đóm, như chiêm bao, giây phút nên không, dù nhẫn trăm năm cũng chẳng mấy.

Thương thay chị, mới hai mươi chín tuổi, cũng là kiếp hóa sinh. Gửi mình vào tài tử mười ba năm, đã dốc một lời nguyền, song cay đắng có nhau, mà vinh hiển bao giờ chưa được thấy. Rơi máu ở nhân gian năm bảy bận, chỉn còn hai chút gái, vả sữa măng đường ấy, dù trưởng thành ngày khác cũng rằng không.

Ôi! Tạo vật làm sao, con người thế mà đến điều đau đớn thế! Bên trời góc bể, thân cố có ai, đất khách quê người, bui một chị một em, đã hình đơn bóng chiếc.

Bát ngát thay! Cành hoa trôi nước, chiếc nhạn về Nam.

Vậy thì chén đất vàng từ đây, nấm cỏ xanh từ đây, muôn nghìn kiếp cũng từ đây, thăm thẳm biết bao giờ lại thấy vậy chăng?

Giang đình một lá, quái biệt đôi nơi. Chín suối là đâu? Có linh xin hưởng.

(Nguyễn Hữu Chỉnh)

Đây là lối văn xuôi cổ (sẽ nói ở sau): lối này không có vần, đối thì không bắt buộc, nhưng thật ra ở đây thỉnh thoảng có chỗ đối nhau, khiến cho bài văn bổng, trầm dễ đọc.

2. Văn tế phóng theo thể phú Đường luật

Đây là thể thông dụng nhất. Nói chung, cách đặt câu bố cục, gieo vân thì phỏng theo thể phú Đường luật, do đó người ta gọi văn tế kiểu này là biến thể của phú (Đường luật). Tuy nhiên, so với phú cũng có chỗ khác:



a. Về cách gieo vần: Văn tế thiên về lối độc vận, phân lớn độc vận (phần trắc). Cũng có những bài độc vận (vần bằng) như bài Văn tế vua quang Trung của Lê Ngọc Hân. Thí dụ, hai câu đầu:

Than rằng.

Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn nước vừa cùng trông vẻ thụy,

Một phút mây che vừng Thái bạch, trong sáu cung thoắt đã lạt hơi hương;

Chú ý; Vần hương (bằng)



b. Về cách đặt câu: Nếu mở đầu bài phú hay phần đầu các đoạn mạch bài phú, thường dùng câu bát tự, thì mở đầu bài văn tế có nhiều cách:

+ Hoặc đùng câu bát tự chuyển xuống cách cú hay hạc tất như các bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh đều của Nguyễn Đình Chiểu.

Thí dụ: Đoạn mở đầu bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:

Than ôi! Súng giặc đất rền.

Lòng dân trời tỏ

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn, danh nổi như phao, Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất, tiếng vang như mõ…

+ Hoặc dùng câu cách cú chuyển xuống song quan như bài Văn tế sống Trường lưu nhị nữ của Nguyễn Du.

Thí dụ: Trích đoạn mở đầu

Chùa Phổ Cứu trăng dìu gió dặt, ngỡ một ngày nên nghĩa trăm năm;

Doanh Đào Nguyên nước chảy hoa trôi, bỗng nửa bước chia đường đôi ngả.

Chữ chung tình nghĩ lại ngậm ngùi.

Câu vĩnh quyết đọc càng buồn bã…

+ Hoặc nhà dùng câu gối hạc chuyển xuống cách cú, rồi song quan như bài Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu.

Ngoài ra, các đoạn mạch khác cũng tương tự như phú, nghĩa là bắt đầu từ câu bát tự đến các câu khác.

c. Về cách bố cục: Một bài văn tế thường gồm có 4 đoạn:

– Đoạn mở đầu (bắt đầu bằng mấy từ: Than ôi, Than rằng hay Thương ôi…)

– Đoạn kể đức tính, sự nghiệp người chết (thường bắt đầu bằng mấy từ: Nhớ ông xưa, Nhớ cha xưa, Nhớ bạn xưa…)

– Đoạn than tiếc người chết (thường bắt đầu bằng từ Ôi!…

– Đoạn tỏ tình thương tiếc của người đứng tế (thường bắt đầu bằng mấy từ: Tôi nay, Con nay…)

Cuối cùng là mấy từ kết thúc: Phục duy, thượng hưởng.

Thí dụ đoạn mở và đoạn kết bài Văn tế Phan Châu Trinh:

Than ôi!

Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được ngó son sông nên nhớ bực tiên tri;

Dấu địa linh con Lạc cháu Hồng, người sao trước có sau không, kinh sấm sét luống đau lòng hậu bối.

Vẫn biết tinh thần di tạo hóa, sống là còn mà thác cũng như còn; chỉ vì thời thế khuất anh hùng, xưa đã rủi mà nay càng thêm rủi.

Lấy ai đây nối gót nghìn thu, vậy ta phải kêu người chín suối.

Nhớ tiên sinh xưa: Tú dục Nam châu, linh chung Đà hải.

Nghiệp thừa gia: cung kiếm cũng pha đường; nền tác thánh; thì thư từng thuộc lối.

Gan to tày bể sức xông pha nào kẻ ức muôn người. Mắt sáng hơn đèn, tài lanh lợi tờ khi năm bảy tuổi

Vận nước gặp cơn dâu bể đeo vai thần sĩ, còn lòng đâu áo mũ xênh xang; thói nhà chăm việc bút nghiên, giấu mặt hào hùng, khi tạm cũng khoa trường len lỏi…

Thương ôi!



Bể bạc còn trơ, trời xanh khó hỏi. Nghìn vàng khôn chuộc được anh hào, tấc dạ quyết thề cùng sông núi.

Trước đã giỏi, thì sau thêm giỏi nữa, dấu cộng hòa nên ráng sức theo đòi,

Thác mà thiêng thời sống phải thiêng hơn, thang độc lập quyết đều tay vin tới.

Lời này ông biết cho chăng? Lòng ấy trời đà soi tới.

(Phan Bội Châu)


B. THỂ ĐỐI LIÊN VÀ BIỀN NGẪU


Nếu các thể thú, văn tế, chủ yếu là thuộc loại văn vần thì các thể đối liên và biền ngẫu như kinh nghĩa văn sách, hịch, cáo, chiếu, biểu, v.v… lại thuộc loại văn có đối mà không có vần.

I. ĐỐI LIÊN

Đối liên (câu đối), cũng có tên gọi khác là doanh thiếp, doanh liên (doanh: cột; thiếp; mảnh giấy có viết chữ, liên: đối liền nhau) là một thể văn gồm hai vế đối nhau (vừa đối ý, vừa đối thanh).

Câu đối được sử dũng với nhiều ý nghĩa, như để thử tài thông minh, học giỏi của người khác hoặc để bày tỏ chí hướng tâm tư của mình, hoặc để mừng nhau, phúng điếu nhau, hoặc nữa là để ở các nơi đình chùa, miếu mạo, các nơi phong cảnh lâu đài v.v... Do đó, có nhiều loại câu đối như câu đối tức cảnh (trông thấy cảnh gì thì đối ngay cảnh ấy), câu đối sách (lấy nghĩa hoặc lấy chữ sách mà đối) câu đối chơi chữ (như câu đối dùng từ lóng, hay câu đối chiết tự) chiết: bẻ gãy) lấy ý nghĩa trong hình tượng chữ Hán mà đối…).

Chính với ý nghĩa như vậy cho nên câu đối thường phải cô đọng mới hay; riêng loại câu đối ra để thử tài thì thường lại cầu kỳ, hiểm hóc làm thế nào cho khó đối thì mới hay. Về hình thức thơ, người ta thường chia câu đối làm ba loại. Trước hết, đã gọi là câu đối, thì ít nhất cũng là hai câu đặt theo lối song quan. Câu đối theo lối song quan gồm có hai loại: câu đối vặt và câu đối thơ. Những câu đặt theo lối cách cú, hạc tất hoặc dài hơn nữa thì gọi là câu đối phú.



1. Câu đối vặt (hoặc là câu tiểu đối)

Mỗi vế của câu đối vặt gồm từ ba, bốn đến năm, sáu từ.

Những câu đối năm từ thường cũng xếp vào câu đối vặt, vì khuôn khổ năm từ ngắn quá, chưa bao gồm được hết ý nghĩa trang trọng của nó, theo quan niệm xưa. Thí dụ về câu đối vặt:

a. Ba từ:

Tôi tôi vôi

Bác bác trứng

b. Bốn từ:

Ô! quạ tha gà,

Xà! rắn bắt ngóe.

c. Năm từ:

Trời sinh ông Tú cát.

Đất nẻ con bọ hung

d. Sáu từ:

Con ruồi đậu mâm xôi đậu;

Cái kiến bò đĩa thịt bò.

Lối chơi chữ hai nghĩa ở đây: tôi, bác, ô, xà, cát, hung, đậu bò.



2. Câu đối thơ

Hai vế của câu đối đặt theo thể thơ thất ngôn luật đúng với quy cách của nó. Thí dụ:

a)

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo.

Nhân tình bạc thế lại bôi vôi.

(Thơ Tết của Tú Xương)

b)

Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy

Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ

Hình thức trên là hình thức hai câu thực hay hai câu luận trong một bài thất ngôn luật. Có khi, câu đối cũng bảy từ, nhưng lại theo kiểu nói lối, và như vậy không phải là câu đối thơ mà là câu đối vặt, thí dụ:



Gái phố Đum, yếm đỏ lòm lòm

Trai xứ Nghệ, bảng vàng chói chói.

(Khuyết danh)



3. Câu đối phú

Đây là loại câu đối mà mỗi vế dài từ tám, chín từ đến năm mươi, sáu mươi từ, v.v… Mỗi vế như vậy có thể gồm hai đoạn (cách cú) có thể gồm ba đoạn (hạc tất), có thể gồm nhiều đoạn (phức hợp). Thí dụ:



a. Tám từ (cách cú):

Tích lịch nhất thanh, quần gian đởm tán,

Giang sơn thiên cổ, đại hiệp hồn hương

b. Chín từ (cách cú):

Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới,

Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên.

(Khuyết danh)

Chú ý: Câu đối này, theo kiểu nói lối, nên có vần.

c. Mười từ (cách cú):

Tam mộc sâm đình, tọa trước hào hề nữ tử

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân

Chú ý: Tương truyền Phùng chắc Khoan khi đi Bắc sứ qua khu rừng nọ có gặp một người con gái ngồi dưới gốc cây, ông liền đọc vế trên, người con gái đó đáp lại vế dưới. Đây là câu đối chiết tự:

– ba chữ mộc là chữ sâm (rậm cây)

– nữ tử thành chữ hảo (tốt đẹp)

– hai chữ sơn thành chữ xuất (ra)

– lại nhân thành chữ sứ (đi sứ)

d. Mười hai từ (hạc tất):

Thúy Kiều đi qua cầu nhác thấy chàng Kim Trọng lòng đã trọng

Trọng Thủy nhòm vào nước, thoáng nhìn nàng Mỵ mắt rơi châu

(câu đối thi ở hội đền Hùng, Khuyết danh)

Chú ý: Chơi chữ: Kiều (là cầu) – Kim Trọng: Thủy (là nước) – Mỵ Châu.

đ. Mười sáu từ:

Vốn dòng thi lễ, đôi tám xuân thu; gặp khách thư sinh, đem lòng dục dịch

Đệ tử Trương Chu, mười năm Khổng, Mạnh, thấy nàng nhan sắc, mới phải thưa trình

(Khuyết danh)

Chú ý: Chơi chữ: Ngũ kinh: Thi, Lễ, Xuân Thu, Thư, Dịch.

– Bảy bậc đại nho: Trương Tái, Chu Hi, Khổng Tử, Mạnh Tử, Nhan Hồi, Trình Di, Trình Hạo.



e. Hai mươi ba từ (phức hợp):

Lo vì dân, nghĩ vì dân, vui khổ cũng vì dân, dốc chí thờ dân, công Bác với dân, thiên thu bất tận;

Bố gọi bác, con gọi Bác, cháu chắt lại gọi Bác, nối dòng theo Bác, lòng dân mong Bác vạn thọ vô cương.

(Chúc thọ Bác 70 tuổi – Nguyễn Văn Tứ


Báo Quân đội nhân dân – Xuân Canh tí (1960)

g. Sáu mươi lăm từ (phức hợp):

Thời cũng may, công đăng hòa có đâu, nhẹ nhàng nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy tháng, quan ngoài tám chín niên, nào cờ nào biển, nào mũ mão cân đai, nào võng thắm lọng xanh, hèo hoa gươm bạc, mặt tài tình mà gặp hội kiếm cung, khắp trời nam bể bắc cũng phong lưu, mùi thế nếm qua đã đủ (câu của Nguyễn Văn Siêu ra).

Quyết trả phắt, nợ tang bồng không để vướng, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu trai năm bẩy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, trà chuyện thuốc lá, tay khí vũ mà ngoài vòng cương tỏa, lấy gió nội trăng ngàn làm tri thức, tuổi trời thêm đó là hơn (câu của Cao Bá Quát đối).

Chú ý: Đây là một loại câu đối dài, cách đối thanh đối ý cũng rộng rãi, miễn là giữa vế trên và vế dưới có đối nhau là được, nghĩa là hễ từ cuối từng đoạn (câu đầu) và từ cuối toàn câu cứ bên này bằng thì bên kia trắc hay ngược lại, chứ cũng không có một quy luật nhất định nào.

II. BIỀN NGẪU

Cũng như thể đối liên, thể biền ngẫu nằm trong phạm trù biền văn, nói chung tức là thể văn chỉ cần đối mà không cần vần. Nếu như trong đối liên, chỉ có hai vế đối nhau hoặc là hai đoạn gồm nhiều vế đối nhau, thì trong bài văn biền ngẫu (biền: hai con ngựa kéo xe sóng nhau; ngẫu có hai nghĩa: tình cờ, từng cặp) có nhiều vế, nhiều đoạn bao gồm nhiều loại câu bất kỳ đối nhau từng cặp như các câu hát tự, song quan, cách cú hạc tất.



1. Tính chất chung về câu văn biền ngẫu

Lối văn biền ngẫu được chia ra làm hai thể:



a. Cổ thể

Biền văn nói chung đã có từ đời Lục triều. Yêu cầu tối thiểu của thể này là chỉ cần câu đối nhau là được, còn câu muốn đặt kiểu gì cũng được, dài ngắn bao nhiêu từ cũng được, lại có khi hai đoạn dài đối nhau cũng được, không gò bó lắm. Lối này người ta gọi là lối cổ thể mà cách đối câu so với văn xuôi cổ thì chặt chẽ hơn vì đây là loại biền văn, chứ không phải tản văn, nhưng so với tứ lục sau này thì lại rộng rãi hơn nhiều. Thí dụ: một đoạn văn theo lối cổ thể: Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn:



Huống chi ta cùng các ngươi; sinh phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại, nghênh ngang đường. Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. Thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng; giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau?

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.

b. Cận thể (hay thể tứ lục)

Lối văn biền ngẫu câu ngắn câu dài từng cặp trên, dần dần đi đến một thể ổn định từng cặp mỗi câu mười từ ngắt làm hai nhịp 4/6, gọi là lối cận thể để phân biệt với lối cổ thể ở trên. Thể này có từ đời Lục triều, nhưng đến đời Đường thì mới được sắp đặt theo một khuôn khổ nhất định như kiểu các loại văn vần khác (thơ, phú). Những nhà thơ như Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên đều giỏi về lối văn đó. Khi nói về thể này, người ta thường nhắc câu văn: “Biền tứ lệ lục, cẩm tâm tú khẩu và gọi tắt là thể biền lệ”. Thể biền lệ đời Đường chưa buộc phải có niêm, đến đời Tống mới đặt thêm niêm và đưa vào làm văn trường ốc, gọi là thể tứ lục. Lối cận thể đời sau được thông dụng là thể tứ lục đời Tống.

Như trên đã nói, gọi là tứ lục vì mỗi câu có mười từ ngắt làm hai nhịp bằng cách kết hợp thể tứ ngôn với thể lục ngôn hay nói một cách khác, đây là một hợp thể của tứ ngôn và lục ngôn. Thí dụ:

Thừa thắng trường khu (tứ), Tây kinh ký vi ngã hữu (lục)

Tuyển phong tiến thủ (tứ), Đông đô tận phục cựu phong (lục)

(Nghĩa: thừa thắng ruổi dài, Tây kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông đô đất cũ thu về)

Giữ dân làm gốc (tứ) chớ mong đục nước béo cò (lục)

Nuôi sức đợi thời (tứ) đừng có tham miếng bỏ bát (lục)

Toàn bài mà cứ dùng một kiểu câu tứ lục đọc lên nghe cũng chán tai, nên để cho nhịp điệu thay đổi, có chỗ người ta đảo lên là lục tứ, thí dụ:



Những kẻ hại nòi hại nước (lục) xác xé thây vằm (tứ)

Cùng ai đồng chí đồng cừu (lục) vai kề sát cánh (tứ)

Như thế, cũng vẫn còn độc điệu, nên nhà làm văn lại tiến lên một bước nữa là dùng cả các câu bát tự như:



Đọc cáo Bình Ngô

Noi gương Sát Thái

hoặc câu song quan, như:



Đời trị loạn, sách xưa còn chép bản,

Lẽ chính tà, đời trước hãy treo gương

hoặc nữa cũng câu cách cú, nhưng ngắt nhịp khác, như:



Nhỏ là loài ong kiến, còn biết lẽ quân thần,

Lớn là loài hổ lang, cũng niệm tình phụ tử

Như thế là thể từ lục đã biết cách và xích lại thể biền ngẫu cổ thể ở trên. Tuy nhiên, tứ lục biến cách vẫn nằm trong phạm trù cận thể vì còn khác với cổ thể ở chỗ có niêm.

Niêm có tác dụng làm cho bài vần được nhịp nhàng, cân đối hơn. Niêm trong thể tứ lục (hoặc tứ lục biến cách) cũng dựa theo luật bằng trắc, có phần giống với niêm trong thơ Đường luật, tức là tính theo hệ thống đọc của bài, câu trên bắt xuống câu dưới, căn cứ ở:

– Từ cuối câu (nếu là câu bát tự hay song quan)

– Từ cuối vế (câu đậu) và từ cuối câu (nếu là câu cách cú).

Và như vậy là bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc, móc xích câu này với câu khác từ đầu cho đến cuối bài, theo công thức sau đây:



Công thức của niêm lối cận thể như sau:

Thí dụ một đoạn gồm có:



2 câu song quan thất ngôn

2 câu cách cú tứ lục.

Niêm:


Từ cuối của câu thứ 2 song quan........ là bằng

Từ cuối của vế thứ 1 câu thứ 1 cách cú phải là bằng

Niêm:

Từ cuối của vế thứ 2 câu thứ 1 cách cú… lại là trắc



Từ cuối của vế thứ 1 câu thứ 2 cách cú phải là trắc

Từ cuối của vế thứ 2 câu thứ 2 cách cú… lại là bằng, v.v…



Tóm tắt

1

2

3

4

5

6

7

bằng




}

niêm




1

2

3

4

(bằng)

5

6

7

8

9

10 (trắc)

} Niêm

1

2

3

4

(trắc)

5

6

7

8

9

10 (bằng)

} v.v…

Như trên đã nói muốn có niêm mà lại giữ được cả đối thì chỉ có câu đơn giản từ một vế (bát tự, song quan) đến hai vế (cách cú) mà thôi, câu từ ba vế (hạc tất) trở lên vì phức tạp quá nên không dùng được, nếu không muốn niêm bị phá vỡ.

Cách đặt câu lệ trên, coi như thất niêm. Đấy là đặc trưng của thế tứ lục (và tứ lục biến cách) so với phú Đường luật có chỗ khác, vì phú Đường luật chỉ cần vần theo hệ thống ngang, mà không cần niêm theo hệ thống dọc.

Thí dụ một đoạn văn theo lối cận thể, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (trích đoạn):



Phấn tích Lam Sơn.

Thể thân hoang dã

Niệm thế thù khởi khả cộng đái,

Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh

Thống tâm tật thủ giả thùy nhập dư niên,

Thường phủ ngọa tân giả cái phi nhất nhật.

Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,

Tức cổ nghiện kim, tế suy cứu hưng vong chi lý

Đồ hồi chi chí

Ngộ mị bất vong

Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi thời,

Chính tặc thế phương trương chi nhật.

Nãi dĩ: Nhân tài thu diệp,

Tuấn kiệt thần tinh

Bôn tẩu tiền hậu giả ký phạp kỳ nhân,

u mô duy ác giả hưu quả kỳ trợ

Đặc dĩ cứu nhân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông,

Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp di hư tả…

Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa,

Chốn hoang dã nương mình.

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đã mười mấy năm trờ;,

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh;

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên.

Chính lúc quân thù đương mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu.

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần:

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.

Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đắm, muốn tiến về đông

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chăm còn dành phía tả.

Chú ý: Ở nguyên văn cũng như ở bản dịch, niêm trong đoạn này rất chỉnh; cứ một cặp trắc tiếp đến một cặp bằng hay ngược lại và cứ như thế mà tiếp diễn cho đến hết.

Tuy nhiên vì lối này gò bó, cho nên ngay trong bài cáo của Nguyễn Trãi cũng có chỗ không theo đúng niêm thí dụ như đoạn: Chấp nhất kỷ chi kiến, v.v…

2. Các loại văn biền ngẫu

Văn biền ngẫu khá phức tạp bao gồm nhiều loại, tựu trung có thể chia ra như sau:

– Loại văn có tính chất chính trị như hịch, cáo;

– Loại văn có tính chất hành chính chuyên dùng ở cung đình như chiếu, chế, biểu trướng.

– Loại văn có tính chất từ chương chuyên dùng ở trường ốc như văn sách, kinh nghĩa.

+ Loại thứ nhất: Hịch và cáo.

a. Hịch:

Hịch là một thể văn chiến đấu thời xưa có tính chất cổ động thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống kẻ thù trong hoặc ngoài nước.

Vốn xưa đó là những bài diễn thuyết quân sự gọi là thệ thí dụ như những bài Cam thệ, Thang thệ, Thái thệ, v.v… ở Kinh Thư. Từ “hịch” lần đầu xuất hiện thời Chiến quốc (thí dụ như Hịch Tề hoàn Công đánh Sở). Chữ hịch Hán văn nếu chiết ra thì có nghĩa là bài văn công khai (minh bạch chi văn) khắc vào gỗ để tuyên bố cùng mọi người, do đó nên có tên là lộ bố (nói công khai).

Về bố cục, bài hịch thường có bốn phần chính:

– Phần mở đầu có tính cách nêu vấn đề.

– Phần thứ hai thường nêu lên truyền thống đấu tranh vẻ vang trong sử sách để gây lòng tin tưởng.

– Phần thứ ba thường nhận định tình hình phía ta và phía địch như về phía ta, vạch rõ ưu khuyết điểm, về phía địch, nêu rõ tội ác để gây lòng căm thù sâu sắc.

– Phần kết thúc thường đề ra chủ trương cự thể và kêu gọi đoàn kết đấu tranh.

Tuy nhiên, cách kết cấu một bài hịch thì tùy nội dung mà thay đổi, không nhất thiết phải theo trật tự trên, miễn là lô–gic phải thật là chặt chẽ và lập luận phải đanh thép, thuyết phục. Thể văn hịch thì có thể là văn xuôi, có thể là văn vần, có thể là văn biền ngẫu (thể biền ngẫu thường được dùng nhiều), miễn là lời văn biểu hiện được nội dung chiến đấu như tha thiết khi đi vào tình cảm, hùng tráng khi kêu gọi ra chiến trường, v.v…

Thời xưa chỉ vua chúa, quan tướng mới thảo ra hịch, nhưng trong giai đoạn chống Pháp, thì nhân dân đứng lên khởi nghĩa chống áp bức cũng có thể làm hịch kêu gọi chiến đấu, do đó trong các loại của tứ lục, thì hịch là một loại phổ biến nhất và được làm bằng quốc âm nhiều nhất.



b. Cáo:

Nếu hịch thiên về cổ động, huấn thị, thì cáo lại thiên về tổng kết một công việc, trình bày một chủ trương xã hội hay chính trị có tính cách tuyên ngôn để cho mọi người cùng biết. Khi vua Thang đánh thắng vua Kiệt nhà Hạ, đến đất Bằng có đọc bài Cáo, người đời sau gọi là Thang cáo. Bài Bình Ngô đại cáo do Lê Lợi sai công bố cũng có ý nghĩa như vậy.

Cũng như hịch, cáo có thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lý luận phải sắc bén, nội dung phải chắc nịch và bố cục phải rõ ràng. cách chia đoạn mạch thì do nội dung quyết định, nhưng thông thường, bài cáo xưa nay thường gồm có các phần như sau:

– Phần mở đầu nêu lên luận đề chính nghĩa và chứng minh luận đề đó

– Phần thứ hai xác định bản cáo trạng tội ác của giặc.

– Phần thứ ba kể lại vắn tắt quá trình chinh phạt và kết quả thắng lợi.

– Phần cuối là lời tuyên bố kết thúc để mọi người hiểu rõ những nhân tố tất thắng của cuộc chiến đấu chính nghĩa.

Thể văn cáo cũng rộng rãi: văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu đều được cả. Thí dụ những bài cáo trong Kinh Thư viết bằng văn xuôi, còn Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi viết thì bằng Hán văn và bằng tứ lục cận thể.



Sau đây là một thí dụ văn tứ lục cận thể về loại này:

HỊCH TÂY SƠN ĐáNH TRỊNH

Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đấng quân sư!

Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh cách.

Hội thuận ứng thế đừng được chửa?

Việc chinh trụ lòng há muốn ru!

Dậy:

Bẩm khí trời Nam,

Vốn dòng họ Nguyễn

Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đôi phen Trương tử giã ơn Hàn

Áo cơm vua nên nhờ nghĩa vua, chi để Tào Man m vạc Hán.

Giận quốc phó ra lòng bội thượng.

Nên Tây Sơn xương nghĩa cần vương

Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kéo đảng nghịch đặt mưu ngấp nghé;

Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng dân sa chốn lầm than.

Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân,

Ắt dấu cũ lại cơ đồ Hữu Hạ

Nào biết ngôi đời có bảy, giặc họ Trương toan phiến biến mười tuần;

Bỗng xui thế nước làm ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước

Thế bạng duật đương còn đối mặt;

Thói đường lang sao khéo lắng tai!

Ngoài mượn lời còn viện làm danh, dân kinh loạn ngữ binh điếu phạt,

Trong mang chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa bình nên nỗi lưu ly.

Cung đài thành quách phá lâng lâng,

Sáng ông thuyền bè thu thảy thảy.

Cơn gấp khúc chẳng thương lòng ngoại tộc, đã cùng rừng đuổi thú thời thôi.

Dấu cưỡi rồng còn đội chức tiến quân, lại khoét lỗ bừa sâu sao nỡ?

So chữ bạo, lửa nồng quá Hạng;

Dò lòng người, nước chảy về Lưu.

Chúng điêu tàn mang cờ nghĩa về đầu, khiến quân số một ngày một thịnh;

Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, nên binh uy càng thấm càng thêm

Quảng Nam đà quét sạch bui nhơ.

Thuận Hóa lại đem về đất cũ.

Nam một dải trăm nh phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần.

Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện?

Sắp sủa vốn nguyện lòng thực,

Vỗ về phải ngỏ lời ngay.

Chữ hướng minh” phải mượn ai suy, thương sĩ nữ huyền hoàng là thế.

Máy trợ thuận hẳn nhiều kẻ biết, Tần lại đân ngựu tửu nữa ta

Ai biết suy lẽ phải, quyết một lòng Hạ chúng hề tô

Ta chả phụ dân lành, ắt bốn chữ thu hào vô phạm.

Thói bội phản chớ quen như trước,

Phúc thái bình đều hiểu về sau.

Nước triều đông vì chẳng thuận lòng, lại cự cưỡng rắp giơ tay chắn;

Lửa cháy đã nỡ hòa lầm ngọc dầu hiền ngu khôn lọt lưới trời.

Ân với uy ngỏ cáo lòi hằng.

Thuận hay nghịch mặc lòng ai quyết.

Trước nghe lời hịch

Kíp lại chân xe.

+ Loại thứ hai: Chiếu, chế, biểu, trướng

Đây là những thể văn chuyên để cho vua dùng như chiếu, chế hay cho quan (và các nhà thế tộc) dùng như biểu, trướng. Chiếu, chế, biểu có tính chất là loại công văn, riêng trướng thì có thể là dùng vào việc công hay việc riêng trong gia đình. Thỉnh thoảng, chiếu và chế cũng được dùng ở các kỳ thi Đình.

Về thể văn, chiếu, chế, biểu, trướng cũng giống như hịch, cáo có thể làm bằng văn xuôi, văn vần hay tứ lục, không có gì khác biệt. Đương nhiên, lời vua ban xuống thì có nghiêm nghị với giọng bề trên hơn và lời thần dân tâu lên thì có ít nhiều tính chất nhún nhường và thù phụng. Chỉ cần phân biệt về tính chất nội dung của nó mà thôi.

a) Chiếu và chế

Chiếu là lời vua ban bố mệnh lệnh cho thần dân nói chung (tức là quan lại và nhân dân). Chế là lời vua phong thưởng cho các quan văn võ có công. Trước thời Thất quốc ở Trung quốc, chiếu gọi là mệnh, sau đổi là lệnh, nhà Tần lại đổi là chế. Nhà Hán định lại phép tắc, chia mệnh ra bốn loại:

– sách thư để phong vương hầu.

– chế để thi hành ân xá

– chiếu để bá cáo với trăm quan

– giới sắc để khuyên răn các châu quận.

Như vậy là các từ chiếu, chế có từ đời Hán, nhưng nội dung ý nghĩa có khác so với đời sau như các triều vua nước ta từ Lý trở đi chẳng hạn. Chiếu sau này không phải chỉ bá cáo riêng cho các quan, mà chung cho cả nước, chế cũng không phải chỉ nói riêng về việc ân xá, mà nói chung về tất cả các việc gia ân, khen, thưởng, v.v… Phạm vi và tác dụng của chiếu và chế có rộng hơn so với quy định đời Hán.

b) Trướng

Trướng là lời chúc tụng lẫn nhau giữa các quan hay các nhà quyền quý trong các lễ mừng thọ, mừng thăng chức, thăng tước v.v… (gọi là trướng vì các lời chúc mừng thường được thêu vào trướng hay viết vào giấy và cài vào một bức trướng.



c) Biểu

Biểu là lời của thần dân dâng lên vua để chúc mừng (hạ biểu, để tạ ơn (tạ biểu) hay để bày tỏ một việc gì (trần tình biểu), v.v…



Sau đây là một thí dụ về lối biểu:

BIỂU TẠ ƠN CỦA NGUYỄN TRÃI

Trộm nghĩ:

Sáu chục niên tàn, chúc phận đã đành giữ phận.

Chín trùng ban xuống, mong ơn lại được ban ơn

Ngẫm lòng biết vinh,

Nghĩ mình thêm thẹn:

Thần:

Vốn dòng xưa thân sĩ;

Quen học lối từ chương.

Ghi nhớ Điển Phần, Chí những rắp việc người xưa đã rắp;

Yêu vì dân chúng, lòng hằng lo điều thiên hạ chưa lo

Nước nhà khói lửa đương khi,

Chân chúa gió mây gặp hội

Cửa viên ruổi ngựa, mưa việc lớn mà nửa đời trung nghĩa vẹn tròn;

Miệng cọp gieo mình, quyết nghị hòa để hai nước can qua xếp nghỉ.

Đặc ân được thưởng,

Chính thức ban cho.

Bàn vốn nghe mà chước vốn theo

Công đã thành mà danh đã toại

Thề Bạch mã, ban phù phong ấp, chung cả mọi người,

Thói Thanh nhăng, tiếng lại lời qua, riêng oan một mối.

Mới biết: chí khăng khăng khó hợp

Cho hay: vật trong trắng dễ nhơ!

Ví tiên đế không thấu ngọn nguồn,

E tiểu thần đã ngậm cười chín suối!

Qua rồi việc ớc,

Không thẹn lòng nay.

Kim mã ngọc đường vật cũ may còn nguyên vẹn;

Thanh thiên bạch nhật, gan trung được tỏ sáng ngời:

Mặt trời đã xế bóng dâu,

Giấc mộng còn vương cửa khuyết.

Tài hèn sức mỏng,

Tóc bạc lòng son.

Tưởng rằng phận thấp trót đã yên bề,

Ngờ đâu lượng trên còn trao chức cả.

(Mừng gặp Hoàng đế bệ hạ):

Làu làu gương sáng,

Lồng lộng trời cao.

Sách Đế Nghiêu tai thánh mắt thần, xét người dùng trí;

Cùng Đại Thuấn lòng trời lượng bể, dãi chúng lấy khoan

Chọn hiền chẳng cứ nào phương,

Dùng tài dốc lòng hết cách.

Kén người như rau phỉ, rau phong đều hái.

Gìn người như đồ thô, đồ méo vẫn dùng.

Thương thần như con ngựa già, đường xa kham ruổi,

Coi thần như cây tùng bách, sương tuyết chịu quen.

Mặc gièm pha chẳng bụng nghi ngờ,

Tự phán đoán riêng lòng tin cậy,

Khiến cho già cỗi,

Trở lại vui tươi.

Chức giữ Đông đài vốn việc triều đình rất trọng.

Việc kiêm Tam quán ấy điều nho giả thêm vinh

Phương chi:

Ban quốc tính cho rạng tổ tông,

Phong công thần xứng hàng hào kiệt:

Cảm kích mà lệ chảy.

Mừng rỡ khiến lòng lo,

Tự xét ngu hèn,

Lấy gì cả đáp.

Thần cúi xin:

Gìn bền tiết cũ,

Hằng kịp người xưa:

Biền thẳm non cao, chưa từng báo ơn trên chút đỉnh

Trời che đất chở, dám đâu quên đức cả muôn trùng.

+ Loại thứ ba: Kinh nghĩa và văn sách

Kinh nghĩa và văn sách là những thể văn biền ngẫu chuyên dùng ở trường ốc, do đó chỉ làm bằng chữ Hán. Tương truyền Lê Quý Đôn có làm một vài bài bằng quốc âm theo lối đó. Cả hai lối này không làm theo thể tứ lục, mà chỉ làm theo thể biền ngẫu thông thường (cổ thể).



a) Kinh nghĩa:

Kinh nghĩa là một bài văn giải thích một câu lấy làm đầu đề trích trong các kinh truyện, do đó cũng gọi là tinh nghĩa (tinh: làm cho rõ). Kinh nghĩa lúc đầu làm theo thể tản văn, về sau mới làm theo thể biền ngẫu. Có hai thể Kinh nghĩa: một thể tự do có thể gồm hai đoạn đối nhau gọi là lưỡng phiến, có thể gồm nhiều đoạn tùy nội dung của đề ra, gọi là tản hành (tức là gặp ý gì thì giải thích ý ấy thành một đoạn).

Đến đời Thành hóa (1465-1487) nhà Minh mới đặt ra thể bát cổ (tám vế) và từ đời Thanh về sau rất được thông dụng ở trường thi.

Các đoạn mạch trong một bài Kinh nghĩa bát cổ như sau:



Không cần đối

1. Phá đề: mở đầu (2 câu)

2. Thừa đề: phát triển câu mở đầu



Lời mình nói

Đối hay không cũng được

(Từ đoạn sau trở đi, phải thay lời người xưa mà nói).

3. Khởi giảng: bắt đầu giảng đại ý của đầu đề.



Tám câu này (bát cổ) buộc phải có đối.

4. Khai giảng: Mở ý đầu bài (2 câu) (cuối đoạn này, có một câu hoàn đề nhắc lại câu đầu bài) (2 câu)

5. Trung cổ: giải thích rõ đầu bài (2 câu)

6. Hậu cổ: bình luận rộng ý đầu bài (2 câu)

7. Két cổ: tóm tắt ý đầu bài (2 câu)



8. Thúc đề: Một vài câu kết thúc (không cần đối nhau) (hay kết tị)

Thí dụ một bài kinh nghĩa bát cổ:

MẸ KHUYÊN CON LúC VỀ NHà CHỒNG

ĐẦU BàI. Con về nhà chồng, phải kính phải răn, chớ trái lời chồng. (Chữ Kinh Lễ: vãng chi nhữ gia, tất kinh tất giới vô vi phu tử.)

BàI LàM. (Câu phá) Khuyên con giữ đạo làm dâu, bà mẹ nghĩ đã đến lắm vậy.

(Câu thừa) Phù con dại cái mang, lẽ xưa nay vốn thế. Khuyên con phải kính trọng chồng, há chẳng phải đạo,

(Khởi giảng) Mẹ đưa con ra cửa, ý nhủ rằng: trong phối định ba giềng dạo cả, thực là phong hóa chi nguyên; mà hôn nhân hai họ giao hoan há để một lời chi trách?

(Lĩnh mạch) Mẹ đưa con ra, mẹ càng nghĩ lắm, con ạ!

(Khởi giảng vế trên) Con, con mẹ, mà dâu, dâu người vậy! Hoặc lời ăn lời nói chỉ ra tuồng, tức lành đồn xa, dữ đồn xa, ai bảo rằng con chi còn nhỏ.

(Khai giảng vế dướí) Dâu, dâu người, mà con, con mẹ vậy! Hoặc trong cửa trong nhà chỉ có chuyện, tức yêu nên tốt, ghét nên xấu, rồi ra trách mẹ chi không răn.

(Hoàn đề) Về nhà chồng phải kính phải răn, chớ trái lời chồng, con nhé!

(Trung cổ vế trên) Lúc ở nhà thờ mẹ, thờ cha, về nhà chồng nhờ chồng nhờ con nhé! Khôn chẳng qua lẽ, khéo chẳng qua lời, chớ bắt chước người đời xỏ chân lỗ mũi chi lăng nhăng. Nhủ này con, nhủ này con: đi đến nơi, về đến chốn, việc nhà cửa chỉ siêng năng, hỏi thì nói, gọi thì thưa, thờ mẹ thờ cha chi phải lễ. Kính lấy đấy! Răn lấy đấy! Liệu học ăn, học nói, học gói, học mở; khi anh nó hoặc ra xô xát chi lời, cũng tươi, cũng đẹp, cũng vui cười, chớ như ai học thói nhà ma, mà học con cà con kê chi kể lể.

(Trung cổ vế dưới) Lúc ở nhà là mẹ là con, về nhà chồng là dâu là con nhé. Khôn cho người dái, dại cho người thương, chớ bắt chước người thế mặc áo qua đầu chi khủng khỉnh. Nghe chưa con? Nghe chưa con? Ăn có nơi, nằm có chốn, lời ăn nết ở chi ra tuồng; gọi thì dạ, bảo thì vâng, thờ mẹ thờ cha chi phải đạo. Kính vậy thay! Răn vậy thay! Chớ cậy khôn, cậy khéo, cậy duyên, cậy tài; khi anh nó hoặc nổi bầng bầng chi sắc, thì lạy thì van thì lễ phép, đừng học chi những tuồng đĩ thõa, mà hoặc dây mơ rễ má chi lôi thôi.

(Hậu cổ vế trên) Đời có kẻ xem chồng như đứa ăn đứa ở, thậm đến điều mày tớ chi khinh. Chẳng biết rằng: ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng người, chẳng suy chẳng nghĩ, lại ra điều cả vú lấp miệng em, sao chẳng biết xấu chàng hổ ai chi lý! Mẹ khuyên con giữ đạo cương thường, khôn hèn cũng chịu, hay dở cũng đành, chớ hoặc sinh vênh vểnh chi môi: khi anh nó giận quá sinh xằng mẹ con ắt phải mắc bèo trôi chi tiếng.

(Hậu cổ vế, dưới) Đời có kẻ giận chồng mà đánh con đánh cái, thậm đến điều mày tao chi quá. Chẳng biết rằng: khôn ngoan cũng thể đàn bà, tuy rằng vụng dại cũng là đàn ông. Bạ ăn bạ nói, lại ra điều múa rìu qua mắt thợ, sao chẳng biết già đòn non lẽ chi cơ? Mẹ khuyên con giữ nết thảo hiền, vọt roi cũng chịu, yêu thương cũng nhờ, chớ hoặc lộ sầm sầm chi mặt; khi anh nọ nói dại càng thêm chuyện, cha con ắt phải mang vớ cọc chi cười.

(Kết cổ) – Con ơi, nhập gia tùy tục, mẹ nhủ cho đạc vợ chi thường, xuất giá tòng phu, con phải giữ nhà chồng chi phép.

(Thúc đề) – Thôi mẹ về!

(Lê Quý Đôn) (?)



b) Văn sách:

Văn sách (sách: mưu mô, kế hoạch) là một thể văn làm để trả lời những câu hỏi của đầu bài về kiến thức và mưu hoạch của mình. Cũng như kinh nghĩa, văn sách có thể làm bằng tản văn hay biền ngẫu. Có hai thể văn sách.

Văn sách mục: tức là loại bài lấy một đề mục hay ba bốn đề mục làm đầu bài, rồi tuần tự theo đấy mà hỏi từng việc cổ, kim, kinh, sử hoặc thời sự. Bài văn sách mục như vậy là bao gồm nhiều vấn đề, nên khá dài. Đôi khi, câu hỏi này chằng chịt sang câu hỏi khác, thí sinh tùy theo đấy mà gỡ dần từng ý, có thể đảo lên đảo xuống chút ít, nhưng thiếu ý hay thừa ý đều không hợp lệ.

Văn sách đạo: tức là loại bài chỉ hỏi riêng một vấn đề, do đó thường là ngắn. Có thể nói văn sách đạo là một phần của văn sách mục.

Về cách làm bài thì cả hai thể trên đều như nhau: bố cục thì dựa theo câu hỏi của đề ra. Tuy nhiên, thí sinh phải theo một số câu lề lối nhất định như sau:

Bắt đầu phải có ba từ: Đối sĩ văn (kẻ sĩ xin thưa), rồi nói cho hết đại ý của đầu đề.

– Tiếp đến câu: Tử thừa sách vấn nhi lược trần chi (Nay vâng lời sách hỏi và bày tỏ ra đây). Tử đây trở đi, cứ theo thứ tự câu hỏi mà trả lời. Cứ đầu mỗi câu phải có mấy từ: Thiết vị (trộm nghĩ rằng).

– Cuối bài, phải có câu: Sĩ giả, hạnh phùng thịnh thế, tòng sự văn trường, Quản kiến như tư, vị tri khả phủ, nguyện chấp sự kỳ trạch nhí tiến chi. Sĩ cẩn đối (Sĩ đây may gặp đời thịnh, theo việc văn trường, kiến thức hẹp hòi như vậy, chưa biết có phải hay không, xin quan trường xét lựa mà cất nhắc cho. Xin vâng lời sách mà đáp).



Thí dụ một bài văn sách mục:

LẤY CHỒNG CHO ĐáNG TẤM CHỒNG

Vấn. – Tục ngữ có câu rằng: “Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen.”

Lại có câu: “Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cái nghiên anh đồ.”

Kim khảo “phù anh đồ dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, tằng kiến ư thiên vạn nữ nhi chi nghị: bất tri hà sở thủ ư anh đồ, nhi quyến luyến nhược thị dư?

Thí vị trần chi, dĩ quan xuân hoài tình tự.



Đáp. - Em là phận gái nghe rằng: Đương sen ngó đào tơ, may gặp hội thanh xuân chi phải lứa, nhi tài trai gái sắc thực là duyên cầm sắt chi tốt đôi.

(Nay vâng lời sách hỏi mà lược bày ra).

Trộm nghĩ rằng: Rồng bay còn đợi đám mây, bắn bình tước phải đợi tay anh hùng. (Lấy chúng em chi) má đỏ hồng hồng, răng đen nhưng nhức, chẳng những muốn cô tú dì nho chi dự, vẫn là mong chồng loan vợ phụng chi chung tình. Nếu mà cú đậu cành mai thời công trang điểm chẳng hoài lắm ru? Vậy nên sớm gửi tơ duyên, ai là chẳng ngọc đá vàng thau chi lừa lọc.

(Nay xét phương ngôn chị em bạn gái nói chuyện rằng:)

“Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cái nghiên anh đồ”.

Ý trộm nghĩ rằng: Ngọc còn đợi giá, vàng chẳng lộn thau. Cây gỗ lim chìm, quyết chẳng nỡ mang làm cọc giậu; hoa đào tươi tốt, hắn không đem bán cho lái buôn. Cam đường với quả quýt hôi, cũng cân nhắc ư ba đồng một, một đồng đôi chi giá.

Thử ngó coi: Ruộng sâu ao cả, chàng nông kia chỉ trọc phú những khoe giàu sang; song Vương Khải, Thạch Sùng đã từng đấu phú, rồi cũng giương mắt ếch ư của đời người thế chi thu.

Nghiên ruộng bút cày anh đồ nọ chi đa văn không ngại khó; kìa Mãi Thần, Mông Chính có lẽ tràng bần, rồi cũng bổng cánh hồng ư bĩ cực thái lai chi hội.

Nông nhì sĩ nhất, lẽ ấy đã rành.

Vả: Chân lấm tay bùn, chàng uống nãi vũ phu chi cục kịch, lấy yếm thắm chỉ đào chỉ tha thướt, giá thể mà mang bầu xách lọ, sao cho cam hạt ngọc để ngâu vầy.

Tai hiền mắt thánh, nho giả nãi quân tử chi thung dung, di môn son má phấn chi nhởn nhơ chừng ấy mà sửa túi nâng khăn, thực mới đáng cảnh ngô cho phụng đậu.

Vậy có thơ rằng:

Dầu có bạc vàng trăm vạn lạng.

Chẳng bằng kinh sử một vài pho.

Lại có thơ rằng:

Gươm trời chi để tay phàm tuốt.

Búa nguyệt sao cho đứa tục mài.

Vả: Tiếng tăm con gái, nết na học trò, nên em nghĩ duyên em, em nghĩ tình em, lại tưởng đến anh đồ chi sự nghiệp. Đèn xanh một ngọn, án tuyết ân cần, quyền vàng mấy con, cửa huỳnh gióng giả.

Còn trong trần lụy, anh đồ là vị vũ chi giao long may khoa thi mà kim bảng đề danh, tức hôm nọ chi hàn nho mà hôm nay đã Bảng nhãn, Thám hoa chi đài các, em phỏng có duyên ưa lá thắm thời trước voi anh, sao võng thiếp, cũng thỏa đòi ư võng giá chi nghênh ngang.

Chung thủa hàn vi, anh đồ là tại sơn chi hổ báo gặp vân thái mà thanh vân đắc lộ, tức bữa kia chi tiện sĩ, mà bữa nay đã Thượng thư, Đô đốc chi phong lưu; em phỏng như phận đẹp chỉ hồng, thì anh quan cả, thiếp hầu bà, cũng sướng khiếp ư ngựa xe chi đủng đỉnh!

Huống chi: Kinh sứ lầu thông, anh đồ chi tài học, đã sẵn tay kinh tế tuy có dài lưng tốn vải, bấy giờ đã đai vàng áo gấm chi bảnh bao.

Tài năng rất mực, anh đồ chi duyên phận, gặp được lúc long vân: tuy có ăn no lại nằm, bấy giờ đã cơm chúa võng đào chi chển chện.

Gương trời vằng vặc, sáng soi nhà vàng gác tía chi linh lung:

Lộc nước miên miên, súc tích gấm cuốn vàng cân chi ban cấp.

Như thế thì: Chồng quan sang, vợ hầu đẹp, ai chẳng khen nhất thề chi thần tiên; danh phận cả bổng lộc nhiều, thế mới thỏa tam sinh chi hương hỏa. Khởi vô sở thủ ư anh đồ tai?

Vậy nên: Yếm trắng nước hồ, vã đi vã lại chi mong anh nho sĩ chi yêu đương. Miệng ong lưỡi én, uốn ngược uốn xuôi, cũng mặc giọng thế gian chi mai mỉa.

Em nay: Tuổi mới trăng tròn, tiết vừa hoa nở, vâng lời sách hỏi, giãi hết niềm đơn. Em cần thưa.

(Lê Quý Đôn) (?)


C. VĂN XUÔI CỔ


Như trên đã nói, văn xuôi cổ không phải như vận văn là buộc phải có vần, mà cũng không phải như biền văn là buộc phải có đối, hình thức câu văn ở đây có tự do hơn, nhưng khác xa với câu văn xuôi mới. vì rằng câu văn xuôi cổ dù sao cũng có dáng dấp của lối vận văn, câu văn ưa có vần có điệu, được sắp xếp thế nào, để đọc lên nghe cho nhịp nhàng, uyển chuyển. Có thể nói: văn xuôi cổ là tiền đề của lối văn biền ngẫu.

Văn xuôi cổ được áp dụng vào nhiều loại: ngoài các loại đã nói ở thể biền ngẫu như hịch, cáo, chiếu, biểu, kinh nghĩa, văn sách, v.v… các loại khác như bi, ký, truyện, tựa, thư, v.v… cũng đều có thể viết bằng văn xuôi cổ: bi (bia) là văn đề ở bia, thí dụ như bài văn bia Vĩnh Lăng của Nguyễn Trãi; ký là văn ghi một cảnh gì hay một việc gì thí dụ như bài Linh tế tháp ký của Trương Hán Siêu; truyện và văn chép về một nhân vật nào đó, một cảnh tình nào đó như truyện Kim hoa nữ sĩ của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục; tựa là văn đề ở đầu một cuốn sách thí dụ Tựa truyện Kiều của Chu Mạnh Trinh; thư là văn viết gửi cho người khác như các bức thư của Nguyễn Trãi trong Quân trung từ mệnh.

Ngoài ra, còn các loại văn tả tình, tả cảnh, nghị luận khác ở thời xưa đều viết bằng văn xuôi cổ thí dụ văn phê bình Chiêu Lỳ của Nguyễn Tử Mẫn, văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh (xem trên).

Về hình thức câu văn các loại trên đều giống nhau, cho nên sau đây không cần trích thêm nữa.





1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương