Thơ ca việt nam hình thức và thể loạI



tải về 2.21 Mb.
trang1/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích2.21 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

THƠ CA VIỆT NAM HÌNH THỨC VÀ THỂ LOẠI


THƠ CA VIỆT NAM
HÌNH THỨC VÀ THỂ LOẠI


Tác giả:
BÙI VĂN NGUYÊN - HÀ MINH ĐỨC


LỜI NÓI ĐU

Để hiểu rõ lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, việc nghiên cứu các hình thức thơ ca của ta vốn đã được đặt ra từ lâu. Rất tiếc là cuốn sách cổ nhất và có lẽ là cuốn sách đầu tiên viết về vấn đề này, cuốn Văn thành bút pháp của Vũ Quỳnh đời Lê Thánh Tông, hiện nay chưa tìm thấy. Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ cũng như Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí (mục Văn tịch chí) lại đi vào nhũng khía cạnh khác của thơ ca. Riêng Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút, khi nói đến văn thể, có điểm qua về thơ, tứ lục, kinh nghĩa, văn sách. Thời Pháp thuộc, ngoài một số sách của nguời Pháp có nói đến hình thức thơ ca như Khảo về văn học Việt Nam (Étude sur la litérature annamite) của Cordier hoặc của Villard, trích tuyển văn bọc Việt Nam (Morceaux choisis d’auteurs annamites) cũng của Cordier …, có mấy cuốn trích tuyển khác dùng trong nhà trường của Lê Thành Ý, của Dương Quảng Hàm, đều có nói qua về các thể loại, đáng chú ý là quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm Riêng sách nói kỹ về hình thức thơ ca ít nhiều có tính cách chuyên đề, phải kể đến các quyển có giá trị như Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốc văn cụ thể của Bùi Kỷ. Ngoài ra, cũng còn một số sách khác có đề cập đến từng mặt của vấn đề như Nam thi hợp tuyển, Đào nương ca của Nguyễn Văn Ngọc v.v… Tuy nhiên, các soạn giả trước đây chưa trình bày một cách thật có hệ thống và đầy đủ mọi hình thức thơ ca cùng với sự phát triển của nó trong văn học Việt Nam.

Nối tiếp những công trình của người trước và dựa vào những tìm tòi và suy nghĩ riêng của mình, chúng tôi cố gắng trình bày trong cuốn sách này một số ý kiến về sự phát triển và về hình thức cấu tạo của các loại văn vần Việt Nam từ thơ ca dân gian đến thơ ca chính thống trên văn đàn từ xưa đến nay, bước đầu đề ra những quy luật phát triển về hình thức, những yếu tố kế thừa và sáng tạo, những phong cách và bút pháp tiêu biểu, những thành tựu về sáng tạo trong ngôn ngữ thơ ca. Đồng thời chúng tôi cũng bước đầu giới thiệu đặc trưng và cấu tạo các hình thức thơ ca trong từng loại thể của nó, với ý thức phân biệt tính sáng tạo với tính mô phỏng, yếu tố dân tộc với yếu tố ngoại lai. Đi vào phân tích sự phát triển của các hình thức thơ ca, chúng tôi luôn theo đúng nguyên tắc hình thức luôn gắn bó với nội dung và phục vụ cho nội dung và luôn lấy cơ sở nội dung để giải thích sự phát triển của hình thức. Tuy nhiên công trình này không phải là một cuốn văn học sử mà là một chuyên đề về hình thức của thơ ca nên chúng tôi nghiêng hẳn về việc phân tích hình thức trên cơ sở gắn chặt với nội dung.

Chúng tôi xin cám ơn tất cả các bạn, các đồng chí đã góp cho những ý kiến quý báu, và mong tất cả các bạn bổ sung cho những chỗ thiếu sót.



Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 1965

Những người biên soạn

Phần thứ nhất: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC THƠ CA TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM


Nền văn hóa dân tộc bao gồm nhiều mặt, trong đó văn học chiếm một địa vị khá quan trọng. Muốn hiểu thấu nội dung, ý nghĩa của văn học, không thể không lưu ý đến các hình thức văn học trong đó có thơ ca. Không phải ngẫu nhiên mà xưa kia Tào Phi đã nhấn mạnh đến đặc trưng các thể loại khi ông đánh giá ưu khuyết điểm của các nhà văn Kiến An: “Văn viết về tấu, biểu phải trang nhã, về thư và nghị luận phải cho chặt, về bia và văn tế phải cho thật, về thơ phú phải cho đẹp. Bốn thể loại đó không giống nhau cho nên khó mà giỏi được hết cả” (Điển luận luận văn). Sau này, Lưu Hiệp, tác giả cuốn Văn tâm điêu long, đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc quan điểm mỹ học của cha con Tào Tháo. Có điều, nếu Tào Phi quá chú trọng đến vẽ đẹp của hình thức, dường như sa vào chủ nghĩa văn thể, thì Lưu Hiệp lại không quên nhấn mạnh đến tính xã hội và tính thời đại của văn chương: “Văn chương thay đổi do sự nhuộm thắm tình đời và thịnh suy (của văn chương) lại gắn liền với thời đại” (Văn tâm điêu long. Thời tự). Quả vậy, vì nội dung và hình thức luôn luôn gắn chặt với nhau như hình với bóng, cho nên giống như các hình thái văn hóa nói chung, hình thức thơ ca cũng có tính xã hội và tính thời đại của nó trong từng chặng đường lịch sử của dân tộc. Bất cứ hình thức thơ ca nào cũng đều có quá trình phát sinh, tiến triển và biến hoá của nó. Trong quá trình đó nó được nuôi dưỡng bởi sức sống dân tộc, nhưng nó cũng không ngừng thu hút những tinh hoa của văn nghệ nước ngoài, trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử. Có ai chối cãi được rằng thơ ca cổ Việt Nam lại không có quan hệ mật thiết với thơ ca cổ Trung Quốc? Và có ai không công nhận ảnh hưởng của thơ ca phương Tây, nhất là của thơ ca Pháp, trong thơ mới của ta? Đương nhiên đấy cũng là một nhân tố cần lưu ý. Nhưng cần phải nói rằng nhân dân ta, khi đã quyết định vận mệnh của mình, trong việc thừa kế cái cũ cũng như trong việc tiếp thu và sáng tạo cái mới. Lịch sử đã chứng minh rằng dân tộc ta có một sức sống phi thường, nhân dân ta có một sức sáng tạo phong phú về mọi mặt vật chất và tinh thần. Cho nên, bên cạnh dòng thơ ca dân gian cổ truyền, dòng thơ ca bác học của ta tuy có chịu ảnh hưởng lúc nhiều lúc ít của thơ ca nước ngoài, nhưng căn bản vẫn chan chứa “tâm hồn và tính cách của người Việt Nam”.

Chương I. QUAN HỆ GIỮA SỰ XÁC ĐỊNH TINH THẦN DÂN TỘC VÀ SỰ TIẾP THU TINH HOA NƯỚC NGOÀI TRONG HÌNH THỨC THƠ CA VIỆT NAM


Đất nước chúng ta giàu đẹp, nhân dân ta anh hùng trong sản xuất và chiến đấu. Sức sống của dân tộc ta vươn lên mạnh mẽ từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sức sống đó là cơ sở của nền văn hiến vẻ vang của ta, với những điển chương, những luật lệ, với một nền lịch sử tư tưởng và lịch sử đấu tranh lâu dài và cả một nền văn nghệ phong phú; nền văn hiến đó thật đáng tự hào như nhà văn Nguyễn Trãi đã nói trong đoạn mở đầu bài Bình Ngô đại cáo:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Chính nhờ có sự xác định tinh thần dân tộc độc lập và dân chủ trong đấu tranh, mà các thể thơ ca dân gian của ta tuy có bị giai cấp phong kiến coi rẻ, vẫn được quần chúng nâng niu, do đó cứ dần dần được phát triển và nâng cao, tiến tới lấn át và thay thế từng phần các thể thơ ca bác học có yếu tố ngoại lai. Và cũng chính nhờ tiếp thu được tinh thần dân tộc độc lập và dân chủ đó mà các nhà thơ lớn của ta qua các thời kỳ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Tú Xương, Sào Nam, Tố Hữu… một mặt sử dụng được tiếng nói quần chúng và điệu thơ dân tộc trong sáng tác của mình, mặt khác, dựa vào sự phong phú về hình tượng và âm thanh của tiếng ta cũng như sự uyển chuyển của lời nói và của ngữ điệu diễn cảm của tiếng ta mà Việt hóa một số hình thức thơ ca cổ Trung Quốc.

Sự mô phỏng hay Việt hoá thành công thơ ca cổ Trung Quốc đó không thể xuất phát từ một sự tùy tiện, mà phải dựa vào quy luật của từ vị, cú pháp, ngữ điệu của tiếng Hán, trên cơ sở tiếp thu của từ vị, cú pháp, ngữ điệu tiếng Việt. Nếu muốn so sánh kết cấu các lối thơ ca dân tộc của ta với các lối thơ ca mô phỏng thơ ca Trung Quốc, tất nhiên ta phải dựa trên nhiều mặt như số câu trong bài, số từ trong câu (có hạn định hay không hạn định), như thanh điệu (bằng, trắc), như nhịp điệu (lối ngắt đoạn), như vần điệu (vần lưng, vần chân) v.v. Điều nổi bật dẫn đến chỗ thơ ca của ta mô phỏng khá dễ dàng thơ ca Trung Quốc là mối quan hệ gần giống về âm tiết, và thanh điệu giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Tiếng Hán và tiếng Việt chủ yếu thuộc về loại ngôn ngữ đơn âm tiết; đơn vị âm tiết trong tiếng Hán và tiếng Việt phần nhiều cũng là đơn vị từ, đấy là một thuận lợi cho việc hạn định được số từ trong câu thơ. Thuận lợi này càng sẽ không gặp khi chúng ta mô phỏng thơ của Pháp nếu căn cứ số chân (pied) trong thơ Pháp để tính số từ trong thơ Việt, thí dụ thơ 12 chân của Pháp khó mà áp dụng cho thành công đối với thơ Việt. Mặt khác, thanh điệu của tiếng Hán và thanh điệu của tiếng Việt có nhiều chỗ gần gũi nhau: cả hai bên đều có điệu bằng, điệu trắc, cho nên cách xếp đặt từ trong câu đương nhiên là phải theo ngữ nghĩa và ngữ điệu, nhưng cũng không thể không chiếu cố đến quy luật bằng trắc tùy theo mức độ của thể thơ. Đây cũng là một yếu tố đặc biệt của thơ Hán và thơ Việt. Sáu thanh trong tiếng Việt sẽ tương ứng dễ dàng với năm thanh trong tiếng Hán. Thuận lợi của sự tiếp thu tinh hoa nghệ thuật thơ ca nước ngoài lại được tăng lên do tính chất phong phú của đơn vị nguyên âm và phụ âm trong tiếng Việt. Tiếng ta có mười một nguyên âm đơn và hai mươi ba phụ âm đơn. Chưa nói sự tổ hợp giữa phụ âm với nguyên âm, hãy nói cách kết hợp âm tiết trong tiếng ta khá lắt léo và khá thú vị như sự tổ hợp giữa bán nguyên âm i và u với nguyên âm có thể xuôi ngược hai chiều, cũng đã làm cho thanh âm tiếng ta rất dồi dào, thí dụ:

uy và iu

oe và eo

uê và êu

Sự tổ hợp về âm cộng thêm với sự tổ hợp về thanh đã nói ở trên, làm cho tiếng Việt ta có đặc tính hết sức uyển chuyển dễ mô phỏng các hình thức thơ ca nước ngoài.

Trong câu thơ của ta, thơ cổ truyền cũng như thơ mô phỏng, thanh điệu và quy luật bằng trắc có tác dụng điều tiết tính nhịp nhàng của câu thơ và mức độ của ngữ điệu trong câu thơ. Nhưng quy luật thanh điệu và bằng trắc đó cần phải được các quy luật về vần và nhịp hỗ trợ thì sự phát huy tác dụng mới được hoàn chỉnh. Nói về vần, chúng ta thường nói trong thơ ca cổ truyền của ta có hai loại vần là vần chân và vần lưng. Vần chân hay vần lưng tuy có khác nhau về vị trí trong câu thơ, đều có một chức năng là lặp lại ngữ âm, để làm tăng sự nhịp nhàng của câu thơ, và để làm cho mạch thơ gắn chặt với nhau, dòng này chuyển sang dòng khác, ý này nối với ý kia đúng như Maiakôpxki trong cuốn Làm thơ như thế nào? đã nói là: “Vần điệu khiến chúng ta quay trở về với dòng trước, bắt chúng ta phải nhớ đến nó, bắt tất cả những dòng trình bày một tư tưởng phải gắn lại với nhau”.

Vần chân là lối vần phổ biến trong thơ ca, cũng như thơ nhiều nước trên thế giới, còn vần lưng là một hiện tượng khá đặc biệt trong thơ ca tuy không phải là duy nhất, vì lối vần này cũng có trong ca dao đời Hán. Vần lưng ở câu tám (thể lục bát) gieo ở từ thứ tư hoặc từ thứ sáu, khiến cho chúng ta nghĩ đến quy luật tổ hợp của thể bốn từ với bốn từ, bốn từ với sáu từ hay sáu từ với sáu từ, cũng như vần lưng trong câu song thất gieo ở từ thứ năm, khiến chúng ta nghĩ tới quy luật tổ hợp của thể năm từ với sáu từ hay năm từ với bảy từ. Có thể lối vần lưng này là dáng dấp của những sự tổ hợp trên, nhưng đã được biến hóa đi. Dù sao thì đây cũng là một cách bắt vần đặc biệt của thơ ca Việt Nam. Có điều, xét về kết cấu của câu thơ, cũng như xét về vị trí của vần, thường gieo từ cuối của dòng thơ, thì rõ ràng vần lưng không có tư cách độc lập của một loại vần mà chỉ được xác nhận và sử dụng trong khuôn khổ phối hợp với vần chân và hỗ trợ cho vần đó. Như vậy sự xác định tinh thần dân tộc trong phạm vi này vẫn không tách rời thơ ca của ta ra khỏi quy luật vần điệu của thơ ca nói chung ở các nước.

Khi so sánh thơ ca của ta với thơ ca Trung Quốc, ngoài việc so sánh về vần thơ đã nói ở trên, chúng ta còn so sánh về cách ngắt nhịp, chia ra đơn vị, tiết tấu, thí dụ như so câu thơ năm từ của ta (thể hát giặm Nghệ Tĩnh) với câu thơ ngũ ngôn của Trung Quốc hay so câu thơ song thất của ta (thể song thất lục bát) với câu thơ thất ngôn của Trung Quốc, chúng ta thấy nhịp của thơ ta là lẻ trước chẵn sau. Không ai chối cãi được rằng đó không phải là một nét đặc sắc của thơ ca của ta. Tuy nhiên, nghiên cứu nhịp điệu câu thơ, không thể máy móc mà tách nhịp điệu ra khỏi hệ thống của lời nói, mà vẫn phải thấy chức năng chủ yếu của nó là truyền cảm nội dung của câu thơ. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy thể thơ hát giặm, nếu tách ra khỏi yếu tố nhạc của bài ca, thì dễ lẫn lộn với thơ ngũ ngôn về nhịp điệu, còn tính chất khỏe và chắc trong câu thơ song thất (ba từ lẻ ở trước, bốn từ chẵn ở sau) sẽ được bổ sung bằng tính uyển chuyển trong câu thơ hát nói, nếu như được sử dụng trong thể này, hoặc trong câu thơ lục bát, nếu như phối hợp với thể này. Sau đây, hãy lấy thí dụ về câu lục bát với tính uyển chuyển của nó trong sự biểu hiện lời nói và ngữ điệu diễn cảm, rất thích hợp cho nghệ thuật sáng tác truyện thơ và nghệ thuật sáng tác ngâm khúc. Sự tổ hợp của thể sáu từ với tám từ tạo ra thể thơ lục bát đặc biệt của Việt Nam, không có trong thơ ca Trung Quốc. Nói đến tính uyển chuyển của thể lục bát, tất nhiên không ai chia một cách máy móc câu thơ ra từng nhịp đôi một:

Lục: 2 –2 –2

Bát: 2 –2 –2 –2.

Vì nếu làm như vậy, câu thơ chỉ còn một cái khung tách khỏi lời nói, mà thật ra nhịp điệu dù tính theo đơn vị nào cũng gắn chặt với cảm xúc và tư duy được diễn dạt qua lời thơ. Và xét theo ngữ nghĩa và ngữ điệu như vậy, câu thơ lục bát quả có chức năng biến hóa theo nhiều dạng khác nhau. Thí dụ:

Cho câu lục mang ký hiệu S, câu bát mang ký hiệu T, chúng ta sẽ thấy.

a) Câu lục có các dạng phổ biến như sau:

1. S = 6


2. S1 = 2 + 2 + 2

3. S2 = 2 + 4

4. S3 = 4 + 2

5. S4 = 3 + 3

6. S5 = 1 + 5

b) Câu bát có các dạng phổ biết thư sau:

1. T = 8


2. T1 = 2 + 2 + 2 + 2

3. T2 = 2 + 6

4. S3 = 6 + 2

5. S4 = 4 + 4

6. S5 = 3 + 5

7. T6 = 5 + 3

8. T7 = 1 + 7

9. T8 = 2 + 4 + 2

10. T9 = 1 + 3 + 4

Sự tổ hợp câu lục với câu bát sẽ cho ta tối thiểu là 60 dạng câu lục bát khác nhau. Sau đây là sáu thí dụ tương đối phù hợp với sáu dạng có thay đổi về tiết tấu mà giả thiết là T cố định và S thay đổi:



1.

S

Thế là tan một giấc mơ,

Thế là cả một bài thơ não nùng!

(Nguyễn Bính)



T

2.

S1

Rơi rơi… dìu dịu… rơi rơi.

Trăm muôn giọt lệ nối lời vu vơ.

(Huy Cận)



T

3.

S2

Sinh rằng: Giải cấu là duyên

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

(Nguyễn Du)



T

4.

S3

Trời cao xanh ngắt: Ô kìa

Hai con hạc trắng bay về bồng lai.

(Thế Lữ)


T

5.

S4

Một nghìn năm, một vạn năm,

Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ.

(Nguyễn Bính)



T

6.

S5

Rằng: Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?

(Nguyễn Du)



T

Có một điều cần chú ý là câu thơ lục bát, hay nói cho chính xác là cặp thơ lục bát được coi như một chỉnh thể về nhịp điệu, xét trong toàn dòng thơ: do đó, qua mấy thí dụ trên, chúng ta thấy tiết tấu có thay đổi cho hợp với nội dung câu thơ, nhưng không hề phá vỡ nhịp điệu của câu thơ, xét trong toàn bộ kết cấu của nó. Bất cứ chúng ta đọc một cặp lục bát nào qua mấy thí dụ trên, chúng ta cũng nhận định được đó là nhịp điệu câu thơ lục bát, chứ không phải câu thơ nào khác. Sự phô diễn ngữ nghĩa ở đây rất nhất trí trong toàn bộ với sự phối hợp ngữ âm của câu thơ. Tính uyển chuyển của câu thơ lục bát tạo cho nó khả năng biểu hiện được nhiều mặt của cuộc sống.

Như vậy, nhìn chung khi xét về đặc trưng của hình thức, câu thơ ta có những chỗ gần gũi với câu thơ cổ Trung Quốc do chỗ giống nhau về tiếng nói đơn âm tiết, về quy luật bằng trắc, về thanh điệu ở một mức độ tương đối. Nhưng câu thơ ta lại cũng có những nét riêng biệt về lối gieo vần, về lối ngắt nhịp, nổi bật nhất là trong câu thơ lục bát

Dựa vào các đặc trưng đó của tiếng Hán và tiếng Việt của hình thức thơ Trung Quốc và hình thức thơ Việt, bước đầu các nhà thơ từ xưa chỉ mô phỏng, rồi dần dần tiến tới Việt hóa từng mặt của hình thức thơ, để tạo ra những thể thơ mới.

Cách Việt hóa đơn giản nhất là sự phối hợp nhịp điệu giữa thơ ta và thơ Trung Quốc, bằng cách xen hai câu thơ thất ngôn của ta vào trong một bài thất ngôn bát cú Đường luật, thí dụ như bài Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Nhân tông:

Hai câu ngũ lục theo điệu song thất (lẻ trước chẵn sau):

Nguyệt vô sự / chiếu nhân vô sự,

Thuý hữu thu / hàm thiên hữu thu,

Nghĩa:


Trăng vô sự / chiếu người vô sự

Nước có thu / lồng trời có thu.

Lối dùng nhịp điệu song thất đưa vào thơ thất ngôn Đường luật về sau được Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm… áp dụng nhiều trong thơ quốc âm, thí dụ hai câu tam tứ trong bài Ngôn chí XII của Nguyễn Trãi:



Bạn cũ thiếu / ham đèn mấy sách

Tích quen chăng / kiếm trúc cùng mai.

Từ cách Việt hóa trên, các nhà thơ ta lại nâng lên một cách Việt hóa cao hơn bằng cách phối hợp các thể thơ khác nhau, để tạo ra một thể thơ mới.

Sự phối hợp thể lục ngôn với thể thất ngôn Đường luật dẫn tới một thể thất ngôn xen lục ngôn đặc biệt của Việt Nam. Đây không phải là những bài lục ngôn thuần túy, cứ mỗi câu có sáu từ, cũng không phải những bài trường đoản cú có xen lục ngôn, thí dụ như những bài Dương chí thủy, Cửu vực trong Kinh Thi, những bài Ly tao, Cửu chương trong Sở từ hay những bài dân ca, nhạc phủ, từ khúc của đời Hán, Đường hay nữa là một số bài thơ của Tào Thực, Phó Huyền, Khổng Dung, Kê Khang… đời Nguỵ Tấn, Nam Bắc triều mà đây là những bài thất ngôn cách luật có xen lục ngôn, mà chúng ta thấy khá phổ biến trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi, của Lê Thánh Tông, của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của Trịnh Căn…

Cách phối hợp trên mới chỉ là cách phối hợp đơn thuần giữa hai thể thơ Trung Quốc để tạo ra một thể thơ cách luật thứ ba, cách phối hợp sau đây lại tiến hơn một bước là phối hợp nhiều thể thơ Trung Quốc với thể thơ Việt Nam. Thí dụ: bài Bồ đề thắng cảnh thi gồm ba khổ: khổ đầu là một bài lục ngôn bát cú cách luật, khổ hai là một bài thất ngôn cách luật, họa lại đúng năm vần bài lục ngôn trên, khổ ba là 18 câu lục bát gián thất biến cách, nghĩa là vần câu thất–trắc gieo ở từ thứ ba chứ không phải ở từ thứ năm như thường lệ:

Doành la dòng bạc phau phau,

Đinh đang mấy phát khoan mau dầu lòng

Chợt ngược trông Điêu điêu quân địch…

hay bài Bồ đề thi gồm hai khổ, khổ đầu là một bài thất ngôn bát cú cách luật, khổ hai là một bài văn tứ lục biến thể, thí dụ hai câu đầu:



Ngang Bồ đề don chốn Lỗ tháo doanh, khen nào xiết

(công Thánh tổ bình Ngô vòi vọi,)

Qua bà đá lạc chiều Tân ngọc vũ, tướng càng ghê

(tài Nữ vương phục Việt nhơn nhơn…)

Nhìn chung, các thể thơ mới sáng tạo trên, do quá trình Việt hoá, chỉ mới đạt đến mức độ tổng hợp thấp. Ban đầu các nhà thơ ta xen hai câu song thất của ta vào một bài thơ bát cú Đường luật, sau lại tiến tới dùng cả thể lục ngôn xen vào nữa để tạo ra một lối thơ cách luật phá cách có mức độ, chỉ phá cách ở số từ hạn định trong câu, chứ vẫn tuân theo niêm luật. Thể thơ Bồ đề thắng cảnh thi hay Bồ đề thi, gọi chung là thể thơ Bồ đề, tuy có nét độc đáo hơn là phối hợp được với hệ thống lục bát gián thất của ta, nhưng cũng chỉ ở mức độ phối hợp về từng khổ, khổ thơ loại nào để riêng loại đó trong hệ thống toàn bài, chứ chưa đạt đến tính chất tổng hợp cao để tạo ra một thể thơ hoàn toàn mới về kết cấu của hình thức.

Hình thức tổng hợp cao giữa thể ngũ ngôn hay thất ngôn Trung Quốc với thể nói sử và thể lục bát của ta, đó là thể hát nói. Thể này được sáng tạo do sự phối hợp khéo léo về các quy luật thanh điệu và nhịp điệu giữa tiếng ta và tiếng Hán, giữa thơ ca và thơ Hán. Câu thơ Việt và câu thơ Hán ở đây không đứng tách rời nhau như ở các thể đã nói ở trên, mà gắn chặt với nhau về nhịp, về vần, về khổ trong chỉnh thể của bài thơ. Đứng về thơ cũng như về nhạc, không ai có thể phủ nhận được sự hài hòa tuyệt diệu về thanh điệu và nhịp điệu của thể hát nói, thí dụ:

Trên một trăng, dưới một trăng,



Xui lòng kẻ hữu tình ngao ngán,

Thủy bá kim bôi phân lưỡng đoạn.

Bán trầm thủy để bán thiên thai

Vầng trăng ai xẻ làm hai,

Nửa in gối chiếc nửa cài trên không?

Nước mây thăm thẳm một đòng.

Ở đây, hai câu thất ngôn Trung Quốc xen vào một cách nhịp nhàng giữa những câu thơ Việt Nam. Cách phối hợp giữa các thể thơ Trung Quốc và thơ ta được áp dụng nhiều trong ca khúc, thí dụ như các điệu Tì bà, Thiên thai. Ngay bản thân thể hát nói cũng là một loại ca khúc. Nói đến ca khúc, là phải nói đến tính nhạc và tính nhạc của ca khúc trong một chừng mực nhất định vẫn không tách rời quy luật của tiếng nói, quy luật đó trong tiếng Việt là quy luật về thanh điệu và nhịp điệu. Chính nhờ dựa vào quy luật đó mà nhà thơ Nguyễn Công Trứ trong bài hát nói Công khai thác, đã làm một việc ngược lại là dùng chữ Hán trong toàn bài mà có xen những câu thơ cách luật bằng quốc âm vào:

Nhi kim thi hữu dinh điền sứ

Phụng chỉ khai Sơn, Hải chi nhân điền.

Sơn giai kim nhi hải giai tiền.

Ngưỡng thành đúc như sơn như hải.

Bể bạc vờn lên trong ngũ bái,

Non vàng đứng dậy chúc tam hô…

Lối này cũng chỉ là một biệt lệ, nhưng Nguyễn Công Trứ đa thành công vì nhà thơ tuy dùng chữ Hán, nhưng vẫn theo nhịp điệu của thơ Việt là lẻ trước chẵn sau trong câu song thất.

Quy luật về thanh điệu và nhịp điệu, cũng như quy luật về lối gieo vần hỗn hợp giữa vần chân và vần lưng trong câu lục bát, cũng thể hiện trong một số ca khúc cổ như ca Huế.

Ca Huế có thể trong một mức độ nào đó chịu ảnh hưởng nhạc Trung Quốc trong các bài hát bắc như Lưu thủy, Hành vân… hay ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành trong các bài hát nam như Nam ai, Nam bình…. Nhưng nếu chỉ xét về mặt kết cấu của hình thức câu thơ, thì rõ ràng ca Huế mang đặc trưng của ca khúc Việt Nam, do quy luật về thanh điệu và nhịp điệu của tiếng Việt chi phối. Nói về thanh điệu, ca Huế có nhiều màu sắc Việt Nam, như thiên về gieo vần bằng, trong khi đó thì ca khúc Trung Quốc lại khá nhiều bài gieo vần trắc. Về nhịp điệu, ca Huế có chỗ láy theo nhịp điệu câu lục bát, thí dụ:



Nhớ khi cuộc rượu câu thơ,

Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì

(Nam bằng)

hay theo nhịp điệu câu lục bát chưa hoàn chỉnh, thí dụ:

Mình giật mình đòi cơn

Biết bao lại quan sơn một đường.

Tình (tình) thương, tơ vương mọi đường.

(Lưu thủy)

hay nữa là theo nhịp điệu của câu song thất (lẻ trước chẵn sau), khác với câu ca khúc Trung Quốc là có nhịp điệu ngược lại, thí dụ: so sánh mấy câu trong trổ 1 bài Hành vân của ta với mấy câu trong trổ 1 bài Hành lộ nam của Trung Quốc:

– Câu song thất trong bài Hành vân có nhịp 3–4:



Thề non nước / giao ước kết đôi,

Trăm năm tạc dạ,

Dầu xa cách,

Song tình thương / chớ phụ thì thôi…

– Câu thất ngôn trong bài Hành lộ nam có nhịp 4–3:



Ba đào kinh cức / tràng man man,

Kỳ đa khứ khứ / hành hành sắc

Đồ phô quyện tuỵ / mỹ nhân hoàn…

Như vậy, lời ca vẫn theo sát nhịp điệu câu thơ của mỗi dân tộc khác nhau, để thể hiện tính cách của dân tộc đó.

Trên đây là một số nhận xét sơ bộ về sự xác định tinh thần dân tộc trong quá trình tiếp thu tinh hoa của nghệ thuật thơ ca Trung Quốc. Trải hàng nghìn năm tiếp xúc với nền văn hóa Trung Quốc, thơ ca của ta chịu ảnh hưởng thơ ca Trung Quốc khá nhiều là lẽ đương nhiên. Nhưng phải chú ý rằng trong quá trình nhân dân ta đấu tranh cho nền độc lập dân tộc, thì nhân dân ta cũng đấu tranh cho nền văn hóa dân tộc, trong đó có nghệ thuật thơ ca. Quá trình Việt hóa một số hình thức thơ ca cổ Trung Quốc song song với sự tiếp thu tinh hoa nghệ thuật thơ ca đó, không nằm ngoài phạm vi cuộc đấu tranh chung nói trên.

Gần đây hơn, thơ ca của ta lại chịu ảnh hưởng thơ ca Pháp, nhưng ảnh hưởng không sâu sắc như đối với thơ ca Trung Quốc. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, thí dụ như thời gian đô hộ của thực dân Pháp không dài bằng thời Bắc thuộc, hay tiếng Pháp và tiếng ta, thơ Pháp và thơ ta không có được những điểm tương ứng (tiếng Pháp thuộc loại đa âm tiết, không có giọng bằng, giọng trắc…) Tuy nhiên, hoàn toàn không phải vì những lý do đó mà câu văn Pháp, hình thức thơ ca Pháp không ảnh hưởng đến câu văn ta hay các thể thơ ca của ta. Sự thật, lối đặt câu, lối dùng từ, lối gieo vần, lối ngắt nhịp trong thơ Pháp đều thâm nhập vào thơ ta. Các nhà thơ ta vừa thừa kế và nâng cao các hình thức thơ ca cổ của ta, vừa tiếp thu có sáng tạo các thể thơ mới du nhập từ phương Tây. Có điều chắc chắn là các thể thơ cổ truyền của dân tộc ta như lục bát, song thất lục bát, đặc biệt được các nhà thơ của ta coi trọng và đề cao; và bất cứ thể thơ mới nào mà thừa kế được hơi thơ dân tộc trong nhịp điệu và ngữ điệu, thì đều là những thể thơ thành công, thí dụ những câu thơ theo thể tự do sau đây của Tố Hữu trong bài Ta đi tới:



Ta đi tới trên đường ta bước tiếp:

Rắn như thép, vững như đồng.

Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp

Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt!

Rõ ràng trong cái mới của câu thơ vẫn có cái cổ truyền, đó là nhịp điệu của thể nói sử mà chúng ta đã thấy phảng phất trong thể hải nói ở trên kia.

Sự xác định tinh thần dân tộc trong thơ ca của ta tiến triển trên cơ sở đấu tranh cho nền độc lập dân tộc; sự xác định đó không hề loại trừ khả năng tiếp thu tinh hoa của nghệ thuật thơ ca nước ngoài, miễn là nhân tố bên ngoài đó có tác dụng bồi bổ cho nền văn hóa của ta. Truyền thống yêu nước và yêu tiến bộ của nhân dân ta xưa, trong quá trình đấu tranh và rèn luyện của mình, đã dẫn tới sự sáng tạo ra những áng thơ ca bất hủ như đồng chí Trường–Chinh đã nói: “Những tác phẩm cổ điển là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc, qua nhiều thế kỷ, do đời sống và tiếng nói dân tộc ngày càng phong phú mới dần dần tạo nên”.



  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương