Sáng kiến kinh nghiệm về KỸ NĂng sửa lỗi tiếng anh cho hoc sinh thcs



tải về 113.1 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu24.06.2020
Kích113.1 Kb.

CHUYÊN ĐỀ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI SAI CHO HỌC SINH TRONG GIỜ DẠY–HỌC KỸ NĂNG NÓI VÀ VIẾT

I - ĐẶT VẤN ĐỀ.

  Ngày nay tiếng Anh đang trở  nên phổ biến hơn, là cầu nối giao tiếp giữa nhiều người từ nhiều nước trên thế giới. Chính vì thế nên việc học tiếng Anh hiện nay là quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Hiện nay học sinh ở trường THCS Tân Hội còn gặp nhiều lỗi phát âm khi nói và lỗi ngữ pháp, chính tả khi viết. Vì sao học sinh lại mắc lỗi như thế? Nguyên nhân dẫn đến việc mắc lỗi là gì? Sửa lỗi và giúp học sinh sữa lỗi như thế nào có hiệu quả?  Là những suy nghĩ, trăn trở của bản thân tôi qua nhiều năm làm công tác giảng dạy bộ môn tiếng Anh trong nhà trường. Sự thật tôi đã nhận ra rằng việc dạy tiếng Anh trong nhà trường rất trú trọng kỹ năng giao tiếp. Nhưng thực tế thường xảy ra nhiều lỗi trong khi quá trình nói trong giao tiếp, tôi cho rằng nói tiếng Anh thường xuyên sẽ giúp ta tìm ra được những lỗi khi vấp phải, và dễ dàng khắc phục dần những lỗi đã mắc phải từ đó, tôi đã đưa ra chuyên đề “Về một số biện pháp sửa lỗi cho học sinh trong giờ dạy - học kỹ năng nói và viết Tiếng Anh cho học sinh”đó chính là lý do và là mục tiêu nghiên cứu của tôi.

II- NỘI DUNG

1-Cơ sở lý luận.

 Chúng ta biết rằng kỹ năng Nói và Viết là các kỹ năng sinh sản (productive skills) học sinh học và luyện tập đều vì mục đích là có thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt ý của riêng mình bằng cách nói và viết nên việc xuất hiện lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ là điều hết sức bình thường và không thể tránh khỏi.

Chính vì vậy người dạy tiếng Anh cần hiểu và có thái độ cởi mở hơn khi học sinh của chúng ta mắc lỗi, và quan trọng hơn là để có phương pháp chửa lỗi chính xác và phù hợp với từng lỗi cụ thể.

2- Cơ sở thực tiển.

  Qua nhiều năm giảng dạy tiếng Anh ở trường tôi thấy rằng nhiều học sinh rất thích môn học, đặc biệt là ở các lớp chọn. Tiếng Anh là môn học cũng cần có sự nhẫn nại cho nên học sinh ngay từ đầu nếu không có cách học đúng, người dạy không kịp thời phát hiện, giúp đỡ sẽ dẫn đến việc học sinh “mất gốc” và đó cũng là yếu tố làm cho phần lớn học sinh ở các khối ngại nói và viết tiếng Anh,  điều này là nguyên nhân làm cho chất lượng môn Tiếng Anh ở trường trong những năm qua đạt chưa cao. Các em sợ sai, sợ mắc lỗi, sợ xấu hổ với bạn bè khi mắc lỗi. Đó là nhận thức mang tính phiến diện một chiều của các em. Chính vì lẽ đó nên tôi càng cố gắng hơn trong việc giúp các em một lần nữa nhận ra được điều này. Tôi cho rằng  có lỗi là chuyện rất bình thường là một vấn đề lành mạnh, bổ ích là bởi vì từ những lỗi sai chúng ta mới tìm được cái đúng, cái chính xác, từ đó sẽ dẫn đến sự định hướng trong quá trình học tập. Người học càng mắc nhiều lỗi thì càng có được nhiều cái đúng. Càng có nhiều cái đúng , thì việc học lại càng  diễn ra thuận lợi. Chúng ta thường học được nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn là từ những thành công.  Tôi luôn tạo cho các em cảm giác gần gũi thoải mái, tự nhiên khi học. Một trong những phương pháp để làm được điều này là tìm tòi , rút kinh nghiệm về một số phương pháp chữa lỗi cho học sinh khi học sinh mắc lỗi mà không tạo cảm giác “mất mặt” cho các em.

Một số khảo sát trước khi thực hiện đề tài.

Kiểm tra kĩ năng nói: Unit 2 (English 6) Speak.

Kiểm tra cách dùng động từ trong câu nói ở thời hiện tại đơn.

Lớp / Sĩ số

Số học sinh tham gia

Số học sinh nói đúng

6C (43)

32

11

8A (26)

26

5

3-Thực trạng.

3.1-Thực trạng các dạng lỗi thường gặp.

 Lỗi từ vựng (vocabulary)

 Lỗi ngữ pháp hoặc cấu trúc câu (grammar or structure patterns)

 Lỗi chính tả (spelling)

3.2-Nguyên nhân.

 Có rất nhiều nguyên nhân sản sinh ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, tôi có thể dẫn ra một số nguyên nhân như sau:

3.2.1- Sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ ( Mother tongue interference)

  Đây là loại lỗi khá hệ thống trong quá trình học tiếng Anh.  Học sinh khi học thường áp dụng một cách máy móc cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ vào ngôn ngữ mà người đó đang học, nhưng thực tế là có rất nhiều điểm khác biệt về cú pháp giữa các ngôn ngữ khác nhau.

  Example: Về ảnh hưởng của cú pháp ngôn ngữ từ tiếng mẹ đẻ.

 Có rất nhiều học sinh nói He bought a car new (Anh ấy đã mua một chiếc xe hơi  mới) vì trong tiếng Việt tính từ thường đi sau danh từ còn trong tiếng Anh thì đảo ngược lại, câu nói đúng phải là ;  He bought a new car”.

3.2.2-Sự liên đới về ngôn ngữ ( Cross association )

 Sự liên đới là một hiện tượng ảnh hưởng qua lại giữa một số quy tắc về học ngôn ngữ giữa người này với người khác, quy tắc này có thể áp dụng được với người này nhưng hoàn toàn không phù hợp với người khác.

3.2.3-Lỗi do bất cẩn (Errors due to carelessness )

  Các yếu tố về tâm lý như bất cẩn, mệt mỏi, hoặc quên qui tắc ngữ pháp....cũng có thể là nguyên nhân gây ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ.

Có rất nhiều học sinh khi nói “She live (s) in Bac Lieu with her family”  (Cô ấy sống ở Bạc Liêu cùng với gia đình của cô ấy), ở đây có thể học sinh quên quy tắc ngữ pháp đó là thêm “s” vào sau động từ khi chia với chủ ngữ ở ngôi thứ ba số ít thể khẳng định của thì hiện tại đơn giản, cũng có lúc do bất cẩn trong phát âm hoặc cũng có thể giải thích cho hiện tượng này là ảnh hưởng không tích cực của ngôn ngữ mẹ đẻ  cũng được là bởi lẽ trong tiếng việt chúng ta nói “Cô ấy sống ở Bạc Liêu cùng với gia đình của cô ấy, và Tôi sống ở Bạc Liêu cùng với gia đình của tôi” động từ “sống”  không có sự khác biệt về hình thức động từ (tức là động từ không phải chia để phù hợp với ngôi số trong tiếng Việt) .Trong khi đó câu đúng trong tiếng Anh phải là :  She lives in Bac Lieu with her family” and “ I  live in Bac Lieu with my family”

3.2.4-Quá trình giảng dạy có thể gây ra lỗi (Teaching – induced errors.)

Thói quen không tích cực của người dạy trong quá trình dạy học cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây ra lỗi. Thật sự cẩn phải cân nhắc kĩ càng để xác định các lỗi có thể xảy ra do bất cẩn khi thực hiện các thủ thuật dạy học được áp dụng với người học và cách khắc phục chúng. Nói cách khác, việc áp dụng các thủ pháp dạy học nếu không cẩn trọng với học sinh sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình học tập ngôn ngữ.

4-Các giải pháp.

Có ba phương pháp sữa lỗi cơ bản như sau.

Tự sửa (Self-correction)

 Học sinh sửa lẫn nhau (Peer correction)

 Giáo viên sửa (Teacher correction)

Sửa lỗi nhóm (Group correction)

4.1-Tự sửa (Self-correction)

Khi học sinh sử dụng tiếng Anh dù là Viết hay Nói thì các em luôn muốn biết là mình có mắc lỗi nào cơ bản hay không,  các em luôn muốn hỏi thầy, cô của mình rằng “ Em nói, viết có đúng không ?”, vậy nên việc sửa lỗi là rất cần thiết. Thông thường việc sửa lỗi được thực hiện sau quá trình sử dụng ngôn ngữ của học sinh.

4.2-Học sinh sửa lẫn nhau (Peer corrections)

Cần sửa những lỗi có ảnh hưởng đến nghĩa của câu (Errors that interfere with meaning)

-Thì động từ (Verb tense)

-Trật tự từ (Word order)

-Lựa chọn từ không chính xác (Confusing word choice)

-Lỗi sai về chính tả (Confusing spelling)

- Mạo từ (Article mistakes)

- Giới từ (Preposition mistakes)

- Dấu chấm(.) hay dấu phẩy (,) (Comma splices)

- Các lỗi chính tả nhỏ  (Minor spelling mistakes )

4.3-Giáo viên sửa (Teacher's correction)

Tôi thấy rằng giáo viên chữa lỗi cho học sinh là phương pháp tiêu biểu mà nhiều giáo viên thường áp dụng trong quá ttrình giảng dạy. Phương pháp này gồm có hai loại: Chỉnh sửa trực tiếp và chỉnh sửa gián tiếp. Loại chỉnh sửa gián tiếp có nhiều hình thức thực hiện hơn. Chúng ta cần lựa chọn hình thức phù hờp với đối tượng  hoc sinh của mình.

  Ví dụ khi học sinh mắc lỗi về cấu trúc câu bị động, viết cấu trúc câu đúng lên bảng bằng phấn đỏ, gọi một sinh khác đứng dậy so sánh cấu trúc câu đúng với câu sai, lúc đó học sinh có thể tự sửa câu sai thành câu đúng và tiếp tục cho học sinh đặt thêm các ví dụ khác để học sinh luyện tập cấu trúc câu.

Câu viết sai: This house was  by those workers.

Cầu trúc: S + Be + V_ (PP) + by + O    

Câu viết đúng: This house was built by those workers 

Nhưng đôi khi trong trong thực tế học sinh không thích cách chữa lỗi trực tiếp của giáo viên, nghĩa là gạch chân lỗi và chữa nó. Khi được hỏi tại sao thì các học sinh sẽ trả lời là các em mong muốn có liên quan đến quá trình chữa lỗi. Nói cách khác là giáo viên chỉ làm một phần của công việc, chỉ ra các lỗi, tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức, trí não của mình để tìm ra cách sửa chữa sai sót. Chính nổ lực này của học sinh làm cho quá trình chữa lỗi của học sinh có ý nghĩa hơn và có lợi cho học tập bởi thông qua cách làm này học sinh lại một lần nữa ghi nhớ và khắc sâu hơn kiến thức đã gặp.

Giáo viên có thể cho học sinh nói hoặc viết tự do, ghi lại những lỗi cơ bản sau đó sửa chung cho cả lớp, theo tôi nghĩ ta nên hạn chế tình trạng nêu lỗi cụ thể của một nào đó vì làm như thế dễ gây cảm giác bị mất mặt (loosing face) cho các em với bạn bè.

Một bài viết của học sinh sẽ được đưa lên bằng bảng phụ làm như một ví dụ chung cho cả lớp. Giáo viên cùng với học sinh thảo luận, phát hiện những lỗi trong bài viết. Đây là cách mà học sinh rất thích nhưng ta cũng cần chú ý đến cách làm, cách thể hiện và thái độ nhẹ nhàng không thiên vị trong quá trình chữa bài.

4.4-Sửa lỗi nhóm (Group correction)

Đây cũng là một cách chữa lỗi rất dễ gây được hứng thú cho học sinh. Học sinh làm việc theo nhóm, vừa luyện tập, vừa chửa lỗi. Cách chửa lỗi theo nhóm sẽ làm cho giờ học nói và viết của học sinh trở nên nhẹ nhàng và thú vị hơn.

Ví dụ: Giao bài của nhóm này cho nhóm khác sửa lỗi hoặc thành lập nhóm luyện nói, hoặc luyện viết đủ các đối tượng học sinh:  học sinh khá, giỏi làm việc với học sinh trung bình ,yếu để các em sửa lỗi lẫn nhau

5-Các hình thức sửa lỗi.

Nên cân nhắc khi quyết định nên sửa như thế nào và sửa bao nhiêu lỗi trên một bài viết của học sinh. Theo tôi thấy học sinh có thể nảy sinh thái độ tiêu cực đối với bài viết của mình nếu như giáo viên sửa tất cả các lỗi, hoặc nếu giáo viên chỉ sửa một số ít các lỗi thì có thể các em lại nghĩ rằng giáo viên chưa dành đủ thời gian xem xét việc làm bài của mình..

Sau đây là một số hình thức chữa lỗi riêng tôi đã áp dụng.

5.1-Dùng bút đánh dấu khác màu vào những lỗi của các em.

Ví dụ.

Lan get up at six o’clock. She brushes her teeth, washes her face and have breakfast.

Đánh dấu khác màu vào các lỗi sai và yêu cầu học sinh tự sửa lỗi của mình

5.2-Sửa lỗi bằng cách gạch chân lỗi của học sinh và viết hình thức thích hợp vào đúng vị trí.

  Đây là phương pháp sửa lỗi trực tiếp tôi thường sử dụng cách này khi thời gian bị hạn chế.

   Ví dụ: She bought many egges      eggs.

5.3-Sử dụng kí hiệu ở bên lề hoặc ngay trên đầu lỗi để báo loại lỗi cho học sinh.

Ví dụ: Lỗi sai như thì động từ, trật tự từ, chính tả...... riêng tôi đã sử dụng các ký hiệu sửa lỗi ( error correction codes)  để sửa.

  Các ký hiệu này phải được cung cấp trước cho học sinh và yêu cầu học sinh nhớ ý nghĩa của từng biểu tượng trong suốt cả quá trình học tập.

  Các ký hiệu sửa lỗi ( error correction codes) như:

S/V= use to highlight subject-verb agreement problems (lỗi về sự hòa hợp giữa chủ từ và động từ)

WC = use to indicate a word choice problem (lỗi về chọn từ đúng)

S/P = use to highlight singular/ plural problems (lỗi về ngôi / số)

^ = use to indicate that there is a missing word (lỗi về thiều từ )

VT= use to highlight a verb tense problem (lỗi về thì động từ)

/ = use to indicate that a word is unnecessary (lỗi thừa từ)

WO = use to indicate a word order problem (lỗi về trật tự từ)

C = use to show that there is a problem with capitalization (lỗi viết hoa)

WF = Wrong form

Sp = Wrong spelling

 Ví dụ: Khi cho học sinh thực hiện phần speaking and writing theo nhóm, tôi sẽ quan sát để xem học sinh mắc những lỗi cơ bản nào, sẽ ghi chú lỗi đó lên bảng và sử dụng những ký hiệu sửa lỗi lên phía trên góc phải của từ đó và gạch chân từ , hoặc đặt ký hiệu vào vị trí lỗi ví dụ :

Code

Explanation

Example sentence

WF

Wrong form

He is a good driveWF

WT

Wrong tense

knewWT him for years.

Sp

Wrong spelling

grandfathorSp

5.4-Có thể viết bên lề số lượng lỗi trong mỗi dòng, sau đó thử để cho học sinh tự xác định lỗi và chửa lỗi.

Ví dụ: “The natural disaster call Tidal wave often occured suddenly. It is the..(1).result of a abrupt shift in the underwater movement of the Earth. In late..(1)..2004, a series of tidal waves struck the seaside of Indonesia, Thailand, and..(1)..some other Asian...(1)...country. The famous resorts such as Phuket and Fiti..(1).were completely destroyed .A large numbers of people were killed”..............

  Học sinh nhìn vào số lượng lỗi bên lề và cố gắng để tìm ra và chữa lại.

5.5-Có thể dùng tranh, thẻ ...để sửa lỗi trong giờ luyện nói một số điểm ngữ pháp đặc trưng.

  Ví dụ: Khi học sinh mắc lỗi về động từ  thêm ING ở thì hiện tại tiếp diễn, sử dụng “thẻ- ING” Tiếng Anh gọi là “ING – Card ”.

  Phương pháp làm như sau. Gọi một học sinh đứng dậy nhìn vào tranh để nói về các hoạt động mà những người trong tranh đang làm, kết quả là HS này nói thiếu “ing” . Sau đó tôi đặt  “ING – Card ”  ngay dưới động từ và yêu cầu cả lớp đọc lại đôi ba lần

  Hầu hết học sinh đều rất ấn tượng với thẻ ING, và ít học sinh gặp phải lỗi tương tự khi chia động từ ở thì hiện tại tiếp diễn.    

Ngoài việc sử dụng ING–Card ” để sửa lỗi khi chia động từ ở thì hiện tại tiếp diễn ra thì chúng ta cũng có thể sử dụng ING – Card” để sửa lỗi về động từ thêm ING như ở dạng Gerund...., học sinh thường quên động từ Be ở thì tiếp diễn, củng có thể dùng “S- Card”  sửa lỗi khi luyện tập nói danh từ số ít, số nhiều, hoặc động từ chia ngôi thứ ba số ít của thì hiện tại đơn.........   

5.6-Một số ví dụ sửa lổi cho học sinh thường gặp trên lớp.

1-Luyện nói theo các mẫu câu đơn giản ( Practise model sentences) nhưng cần chú ý đến động từ trong câu

Ví dụ:

Ba: (Học sinh thường nói thiếu động từ)What the time?

(Chú ý khi hỏi giờ các em dùng)  What’s the time?

Lan: It’s eight o’clock. We’re late for school

2-Luyện các bài tập nói theo dạng ngữ pháp

Ví dụ:

S1: What (is) Lan studying ? (Chú ý các em hay quên động từ Tobe trong câu nói)

S2: Lan is studying Physics

S1: What time does Lan have it ?

S2: She has her Physics class at 8.40



3-Các bài luyện tập giao tiếp theo dạn hội thoại ( dialogue build)

Ví dụ:

S1: Are you cooking the meal ?

S2: No, I am not.

S1: What are you doing ?

S2: I am washing my clothes.

Teacher writes on the extra board.

S1:……………music ?

S2: No,…………

S1: …………….doing ?

S2: ……………..TV.

Ví dụ: các bước điều khiển khi hoạt động nói theo cặp ta nên chú ý khi các em nói hoặc viết thiếu động từ TOBE chỉ nhớ đến việc thêm đuôi ING



Trong các phương pháp sửa lỗi trên theo tôi thì phương pháp tự sửa lỗi là hiệu quả nhất. Khi học sinh nhận ra và tự sửa lỗi một cách chính xác thì các em càng tiếp thu ngôn ngữ một cách hiệu quả.

6- Kết quả đạt được.

Sau một thời gian thực hiện chuyên đề trên, tôi nhận thấy kết quả về kĩ năng nói và viết ở những khối lớp tôi trực tiếp giảng dạy đã có sự chuyển biến khá tốt, cụ thể như sau:

*Kiểm tra kĩ năng nói:  English 6 - Unit 3 (Speak)

*Kiểm tra cách dùng động từ trong câu nói ở thời hiện tại đơn và thời hiện tại đơn tiếp diễn. 

Lớp / Sĩ số

Số học sinh tham gia

Số học sinh nói đúng

6C (43)

43

22

8A (26)

26

11

 III-KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

   Qua thực tế giảng dạy riêng tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm khi sửa lỗi cho học sinh như sau.

1-Khi chuẩn bị bài.

*Cần suy nghĩ, phán đoán trước xem học sinh có thể mắc những lỗi điển hình nào, cần sửa những lỗi nào, sửa khi nào cho phù hợp.

*Cần gạch đầu dòng những lưu ý trên vào giáo án.

*Có những hướng dẫn nhấn mạnh, rõ ràng và ngắn gọn cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ.

2-Khi sửa lỗi.

Cần có thái độ đúng đắn, tích cực,  phù hợp với học sinh mắc lỗi khi sử dụng ngôn ngữ, không quá tập trung sửa lỗi vào một học sinh, hoặc một nhóm nhỏ học sinh nào đó trong lớp tránh tình trạng để học sinh bị “mất mặt”.

Tạo không khí vui tươi, thân thiện và gần gũi. Gây húng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh có được cảm giác thoải mái nếu mắc lỗi khi sử dụng ngôn ngữ, và xem việc mắc lỗi  khi sử dụng ngôn ngữ là điều bình thường không thể tránh khỏi.

Giúp cho học sinh có được dữ liệu ngôn ngữ chính xác, và học Tiếng Anh qua các lỗi sai. (Learning English through the errors) để khả năng nói và viết tiếng Anh của mỗi học sinh ngày một tốt hơn.

   Chuyên đề này tôi đưa ra nhằm phần nào giúp cho học sinh có thể khắc phục, hạn chế bớt những lỗi sai cơ bản thường gặp, riêng tôi chỉ đề  cập đến một số vấn đề nhỏ và bài viết không thể tránh những thiếu sót, mong các đồng nghiệp tham khảo, góp ý và bổ sung những ý kiến hay thật sự hữu ích nhằm để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc dạy-học tiếng Anh trong nhà trường chúng ta hiện nay.

IV-ĐỀ NGHỊ.

Tổ bộ môn xem xét và tổ chức câu lạc bộ nói Tiếng Anh nhằm giúp cho học sinh có thêm sân chơi bổ ích và có điều kiện rèn luyện thêm kĩ năng nghe, nói nhiều hơn, mạnh dạn hơn và tự tin hơn ....



  Xin chân thành cảm ơn !

V-PHỤ LỤC.

Tài Liệu Tham Khảo.

1-Sách giáo khoa Tiếng Anh 6,7,8,9.

2-Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Anh (Bộ GD và ĐT)

3-Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Tiếng Anh (Của Bộ GD và ĐT năm 2004 )

4-Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III môn Tiếng Anh (chu kì 2004 – 2007) của Bộ GD và ĐT.

5-Teach English Trainer’s Handbook (của Adrian Doff )

6-Sách thiết kế bài giảng bộ môn Tiếng Anh lớp 6,7,8,9 (của Chu Quang Bình)

7-Trang Web GLOBAL EDUCATION.

8-The Methodology Course ( của dự án ELTTP do sở Giáo Dục và ĐàoTạo Kiên Giang ban hành năm 2003)



9-An introduction to language learners. (của Collins Blair)

Tân Hội, ngày 8 tháng 11năm 2018.

Người viết

Nguyễn Thị Diễm Kiều





Trang



Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương