Sở giao dịch chứng khoán hà NỘi cấP ĐĂng ký niêm yết chứng khoán chỉ CÓ nghĩa là việC niêm yết chứng khoáN ĐÃ thực hiện theo các quy đỊnh của pháp luật liên quan mà không hàM Ý ĐẢm bảo giá trị CỦa chứng khoáN



tải về 0.83 Mb.
trang10/15
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích0.83 Mb.
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   15

14.Vị thế của công ty so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành

Vị thế của công ty trong ngành


    • Công ty có truyền thống lâu năm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh than, từ những năm 70 của thế kỷ trước, có hệ thống cơ sở vật chất rộng khắp miền Bắc, đảm bảo cung cấp than đến tận nơi người sử dụng ở từng huyện, xã trên phạm vi các tỉnh miền Bắc. Công ty đã tạo dựng cho mình được thương hiệu và sự tín nhiệm của đối tác, bạn hàng trong nước. Trong những năm qua Công ty hoạt động ổn định, tập thể đoàn kết nhất trí cao theo tôn chỉ của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam: Kỷ luật - Đồng tâm.

    • Đội ngũ lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Công ty hầu hết được đào tạo chính quy, bài bản, đa số có trình độ Đại học. Chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và dày dạn kinh nghiệm trong các lĩnh vực hoạt động, sản xuất kinh doanh của Công ty.

    • Là bạn hàng chủ chốt, thân thiết và đáng tin cậy với đa số các Công ty sản xuất than trong Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Công ty luôn thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa đơn vị sản xuất than đến người sử dụng than trong nước.

Triển vọng phát triển của ngành


    • Ngành than chiếm một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp tới một số ngành công nghiệp với vai trò là nguyên liệu sản xuất đầu vào. Khách hàng lớn nhất của ngành than là ngành điện, tiếp theo đó là các ngành công nghiệp sử dụng than làm nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào như sản xuất xi măng, sắt thép, sản xuất phân đạm…Với vài trò này, ngành than sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra cũng như giá thành sản phẩm của những ngành công nghiệp liên quan.

    • Theo Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 60/QĐ-TTg ngày 9/01/2012 thì việc khai thác than trước hết phải đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu thụ than trong nước về chủng loại và khối lượng, chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa hoặc không có nhu cầu sử dụng.Theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, sản lượng hàng năm của ngành than sau hơn 20 năm thành lập đã tăng gấp bảy lần, năng suất cũng tăng gấp bốn lần, đáp ứng đủ nhu cầu than trong nước và dành một phần hợp lý để xuất khẩu.

Mục tiêu sản lượng than thương phẩm sản xuất toàn ngành trong những năm tiếp theo là:

  • Năm 2020 đạt 60 – 65 triệu tấn

  • Năm 2030 đạt trên 75 triệu tấn

Trong khi đó, dự báo nhu cầu than cho ngành điện đến năm 2030 là 181,3 – 231,1 triệu tấn còn nhu cầu sử dụng than của các ngành kinh tế khác như sản xuất xi măng, sắt thép, phân đạm…là 103-118 triệu tấn/năm.

Riêng khách hàng lớn nhất của ngành than là ngành điện thì nhu cầu nhập khẩu than cho các nhà máy điện là 48 triệu tấn vào năm 2020 và tăng lên 130 triệu tấn vào năm 2030.

Nhìn vào bức tranh trên, rõ ràng cung không đủ cầu về than cho sản xuất trong nước. Chính điều này dẫn đến nguy cơ biến Việt Nam từ một nước xuất siêu than thành nước nhập siêu.

Để thực hiện những mục tiêu trên, Quy hoạch phát triển của Chính phủ đã đưa ra chiến lược cụ thể. Đầu tiên là kế hoạch thăm dò và khai thác than tại các bể than Đông Bắc vùng Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương và các mỏ than có điều kiện khai thác thuận lợi hơn, chất lượng than tốt và trữ lượng tài nguyên có thể đến 8 - 9 tỷ tấn ở độ sâu 1.000 -1.200m. Đồng thời, triển khai nghiên cứu thử nghiệm khai thác than vùng đồng bằng sông Hồng nhằm đảm bảo tăng dần sản lượng khai thác than lên 60 – 65 triệu tấn năm 2020.

Để thực hiện kế hoạch này, TKV đã đề xuất Chính phủ cơ chế huy động vốn cho đầu tư phát triển các mỏ than, theo đó, đề nghị cho TKV được vay vốn từ nguồn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, một phần vốn ODA, vốn trái phiếu để đầu tư phát triển, đồng thời bảo lãnh cho TKV vay vốn nước ngoài để đầu tư phát triển, tăng năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, TKV cũng kiến nghị Chính phủ xem xét đẩy nhanh thủ tục đầu tư, cấp phép phê duyệt thăm dò khai thác cũng như có các giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, điều chỉnh thuế phí các loại phù hợp, nhằm đẩy nhanh triển khai các dự án tăng sản lượng than theo Quy hoạch đã được duyệt. 

Ngoài ra, ngành than cũng cân đối giữa lượng than xuất khẩu và nhập khẩu nhằm mang lại giá trị kinh tế lớn nhất có thể. Nếu như trước đây, việc xuất khẩu than đem lại lợi ích hơn nhập khẩu vì giá than thế giới cao thì hiện nay, giá than giảm rất mạnh, ngành chủ trương hạn chế xuất khẩu và tăng cường nhập khẩu do nguồn cung dồi dào, giá rẻ. Hiện tại, TKV vẫn đáp ứng đủ nhu cầu than trong nước, chỉ nhập khẩu vài trăm nghìn tấn than sử dụng trong lò hơi nhà máy công nghiệp. Theo dự báo, từ năm 2016 trở đi, khi các dự án điện đi vào hoạt động, sẽ nhập khẩu khoảng 3 – 5 triệu tấn than và tăng dần qua các năm.

Ngành than cũng kiến nghị Nhà nước xem xét, điều chỉnh các loại thuế, phí phù hợp và có các giải pháp đồng bộ về cơ chế, chính sách, huy động vốn, các thủ tục trong đầu tư xây dựng cơ bản để giải quyết các dự án cấp bách tăng sản lượng than theo Quy hoạch đã được duyệt. Đồng thời, tạo điều kiện hỗ trợ để ngành than có nguồn đầu tư phát triển để cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập cho nhân công. Nếu không, ngành than sẽ gặp nguy cơ thiếu vốn phát triển sản xuất cũng như thiếu hụt nhân công có tay nghề cao. Ngành cũng chủ động triển khai Đề án nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh doanh, trọng tâm là thúc đẩy khoa học công nghệ, áp dụng cơ giới hóa trong khai thác than, nhất là trong hầm lò và thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất, giảm giá thành, tập trung thực hiện trong năm nay và những năm tiếp theo, nhằm đáp ứng nhu cầu than ngày càng tăng của nền kinh tế.

So sánh về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong cùng ngành


Công ty cổ phần Kinh doanh Than Miền Bắc-Vinacomin hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh, chế biến các loại than. Đây là một thị trường có nhiều tiềm năng khi trữ lượng các mỏ than ở Việt Nam còn lớn. Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp thuộc ngành than đang niêm yết trên thị trường chứng khoán, vì vậy chúng tôi sử dụng số liệu tài chính của các công ty trong ngành đang niêm yết để so sánh với Công ty cổ phần Kinh doanh Than Miền Bắc-Vinacomin. Đó là các công ty: CTCP Than Mông Dương – Vinacomin, CTCP Than Núi Béo – Vinacomin, CTCP Than Hà Tu – Vinacomin, CTCP Than Cọc Sáu – Vinacomin, CTCP Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin.

Các chỉ tiêu về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên được so sánh với Công ty cổ phần Kinh doanh Than Miền Bắc - Vinacomin theo bảng dưới đây:



Bảng 11: Tình hình tài chính của các Doanh nghiệp cùng ngành năm 2015

(Đơn vị: Triệu đồng)

Chỉ tiêu

CTCP Than Mông Dương – Vinacomin (MDC)

CTCP Than Núi Béo – Vinacomin (NBC)

CTCP Than Hà Tu – Vinacomin (THT)

CTCP Than Cọc Sáu – Vinacomin (TC6)

CTCP Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin (CLM)

CTCP Kinh doanh than miền Bắc - Vinacomin

Vốn điều lệ

150.840

369.991

136.497

129.987

110.000

50.000

Doanh thu thuần

1.366.316

202.840

2.131.534

3.855.055

1.406.198

6.062.073

Lợi nhuận sau thuế

86

51.298

25.608

41.286

12.151

12.372

EPS (2015) (Đồng)

6

836

983

1.373

785

1.442

(Nguồn: BCTC kiểm toán năm 2015 của các Công ty)

Đánh giá về sự phù hợp định hướng phát triển của công ty với định hướng của ngành, chính sách của Nhà nước, và xu thế chung trên thế giới


Tập đoàn công nghiệp Than – Khoảng sản Việt Nam mang một sứ mệnh do Nhà nước giao phó là xây dựng thành một tập đoàn kinh tế vững mạnh, là trụ cột của nền kinh tế đất nước. Là một trong những đơn vị chủ chốt của TKV, Công ty đã và đangphối hợp với các đơn vị khai thác than của TKV đẩy mạnh đổi mới công nghệ, nghiên cứu đẩy nhanh quá trình cơ giới hóa khai thác than; song song với việc bảo vệ môi trường; hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý, quản trị tiên tiến, phù hợp, tăng cường huy động các nguồn lực xã hội…nhằm nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả kinh doanh, đảm bảo đúng tiến độ các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án xây dựng các mỏ than hầm lò mới, đáp ứng đủ than cho nhu cầu tiêu thụ trong nước;  bảo đảm phát triển bền vững xứng đáng với vai trò tập đoàn kinh tế mạnh, là trụ cột của nền kinh tế đất nước.

Để thực hiện được các mục tiêu trên, với mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa trong Tập đoàn các công ty Than - Khoáng sản Việt Nam, Công ty tiếp tục phát triển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính trên cở sở định hướng chung của TKV:



    • Hoạt động kinh doanh than theo sự phân công và chỉ đạo của TKV. Chế biến và tiêu thụ than của các công ty sản xuất than trong TKV, đáp ứng mọi nhu cầu sử dụng của khách hàng trong nước.Có phương ánđể nhập khẩu than, chế biến ra các chủng loại than phù hợp cho những dự án nhiệt điện của EVN, TKV và khách hàng trong nước khác có nhu cầu sử dụng than nhập khẩu.

    • Kinh doanh vận tải, kho bãi, bến cảng: Mở rộng đầu tư, kinh doanh các dự án vận tải than, kho bãi và bến cảng chứa than và các mặt hàng khác.

    • Xây dựng lợi thế cạnh tranh khác biệt từ nguồn nhân lực chất lượng cao.

Định hướng phát triển của Công ty cổ phần Kinh doanh Than miền Bắc – Vinacomin nêu trên là phù hợp với định hướng phát triển của ngành và nền kinh tế hiện nay.


1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương