Phần năm tìm hiểU ĐÔng y khám tìm bệnh qua 28 loại mạch cổ ĐIỂN. I-mụC ĐÍch khám bệnh



tải về 449.74 Kb.
trang1/6
Chuyển đổi dữ liệu24.03.2020
Kích449.74 Kb.
  1   2   3   4   5   6


PHẦN NĂM

TÌM HIỂU ĐÔNG Y KHÁM TÌM BỆNH QUA 28 LOẠI MẠCH CỔ ĐIỂN.
I-MỤC ĐÍCH KHÁM BỆNH :
Mục đích khám bệnh đ ể tìm nguyên nhân nào làm mất quân bình sự khí hóa ngũ hành tạng phủ của cơ thể.

Từ 5000 năm trước cho đến nay, đông y vẫn dùng 4 cách khám bệnh tổng hợp là Vọng, Văn, Vấn, Thiết :


Vọng : là nhìn những yếu tố như sắc mặt, mầu da, xem lưỡi, họng, tai, mắt, thể trạng bệnh nhân lúc đi, đứng, nằm ngồi, xem có hồng hào, khỏe mạnh, lanh lợi hoạt bát hay ốm yếu, xanh xao, chậm chạp....
Văn : là nghe những yếu tố như giọng nói, hơi thở, qua lời kể bệnh của bệnh nhân xem mạnh hay yếu, nhỏ hay lớn, nhanh hay chậm, rõ ràng mạch lạc hay đứt đoạn...
Vấn : là hỏi đến những dấu hiệu bệnh, triệu chứng thuộc về chuyên môn mà thầy thuốc còn có điểm nghi ngờ để xác định căn bệnh, như về ăn uống, thích uống nước nóng hay lạnh, về tiêu tiểu bón hay tiêu chảy, mầu phân và nước tiểu, ngủ được hay không, có nhức đầu chóng mặt, đau bụng không, cơ thể đau nhức chỗ nào....
Thiết : là bắt mạch, hoặc có thể nắn bụng, lưng, tay chân... để xác nhận tình trạng khí hóa của cơ thể xem cứng hay mềm, nóng hay lạnh...
Thầy thuốc giỏi có thể nắm bàn tay bệnh nhân mà biết được âm dương hàn nhiệt :

Khi nắm bàn tay bệnh nhân, cảm nhận ban đầu là lạnh, giữ lâu cảm thấy bên trong ấm là dương hư thì ngoại hàn.

Bên ngoài lạnh giữ lâu bên trong nóng hâm hấp, là dương hư ngoại hàn, âm hư nội nhiệt.

Nắm bàn tay bên ngoài lạnh, giữ lâu bên trong cũng lạnh là âm và dương, huyết và khí đều hàn.

Nắm bàn tay ngoài ấm giữ lâu cảm thấy nóng là âm hư nội nhiệt

Nắm bàn tay ngoài nóng, giữ lâu bên trong cũng nóng là âm dương đều nhiệt.


Nếu một thầy thuốc giỏi, thì sau khi vọng, văn, vấn, đã có thể biết rõ căn nguyên bệnh, chỉ còn giai đoạn thiết, là bắt mạch để lập ra biểu đồ bệnh chứng xác nhận lại những dự đoán của vọng, văn, vấn mà thôi. Ngược lại hoặc bắt mạnh trước rồi vọng, văn, vấn, cũng để xác định lại xem có đúng bệnh chứng không.
Như vậy vọng, văn, vấn, thiết giống như định lý thuận và định lý đảo, cả hai đều đúng là phương pháp khám bệnh của một vị thầy thuốc giỏi và cẩn thận.
Nhờ 4 cách tổng hợp trên trên nói chung và cách đặc biệt chỉ bắt mạch nói riêng, đều nhằm xác định tình trạng bệnh quy vào những yếu tố bát cương của đông y về âm-dương (khí-huyết), hư-thực, hàn-nhiệt, biểu-lý của từng hành và của cả tổng thể ngũ hành tạng phủ của cơ thể.
Cho nên việc xem mạch rất quan trọng đối với thầy thuốc đông y, có khi phải học đến 10 năm và phải hành nghề nhiều năm mới có thể xem mạch được chính xác như các xét nghiệm của tây y được.
Theo kinh nghiệm của đông y, các đường kinh mạch trong cơ thể dẫn khí huyết đi từ Kinh Phế chu lưu khắp cơ thể rồi trở lại kinh Phế là 24 giờ, con người phải hít thở mất 13500 hơi thở ra, và hơi thở vào (=27000 ra và vào, tương đương với 18 hơi thở /phút) mỗi hơi thở mạch đi được 3 thốn khi hít vào, 3 thốn khi thở ra, ( thốn này không tính bằng cm chính xác, mà tính bằng chiều dài 1 lóng tay của mỗi người trên củng cơ thể người đó, đông y gọi là đồng thân thốn) khí huyết đi và về đều hội tụ ở cổ tay. Khí thì hội tụ ở cổ tay bên phải gọi là Khí Khẩu, Huyết thì hội tụ ở cổ tay bên trái gọi là Nhân Nghinh.
Mỗi bên cổ tay chia làm 3 vị trí Thốn, Quan, Xích để thầy thuốc đông y đặt 3 đầu ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón tay áp út để nghe mạch tương ứng với tạng phủ ở 5 mức độ ấn đè khác nhau để nghe mạch lực khác nhau của phổi, tim, tỳ, gan, thận:
a-Nếu ấn đặt nhẹ sức nặng bằng 3 gram lên Thốn-Quan-Xích để nghe mạch đập ở ngoài da là nghe mạch Phế, mạch Phế chủ bì mao.

b-Ấn đè ngón tay nặng bằng 6 gram để nghe mạch Tâm chủ Huyết mạch.

c-Ấn đè ngón tay nặng bằng 9 gram để nghe mạch Tỳ chủ cơ nhục.

d-Ấn đè ngón tay nặng 12 gram để nghe mạch Can chủ gân.

e-Ấn đè mạnh 13gram để nghe mạch Thận chủ xương cốt (ấn sát xương)
Chức năng tạng-phủ ở vị trí 3 mạch Thốn-Quan-Xích :
Thốn-Quan-Xích ở cổ tay bên phải chủ KHÍ gọi là mạch Khí Khẩu :

Sát cổ tay bên phải nơi huyệt Thái Uyên (kinh Phế) là mạch Thốn, nơi đặt đầu ngón tay trỏ của thầy thuốc, vị trí đặt ngón tay giữa để khám mạch Quan, vị trí ngón tay áp út của thầy thuốc là vị trí khàm mạch Xích.

3 mạch Thốn-Quan-Xích ở cổ tay bên phải do Phế làm chủ Khí. Cùng với Tỳ-Vị, Mệnh Môn, Tam Tiêu cùng lo việc vận KHÍ.
Thốn-Quan-Xích ở cổ tay bên trái chủ HUYẾT gọi là mạch Nhân-Nghinh

Sát cổ tay bên trái nơi huyệt Thái Uyên là mạch Thốn nơi đặt đầu ngón tay trỏ của thầy thuốc, ngón tay giữa nằm ở vị trí mạch Quan, ngón tay áp út nằm ở vị trí mạch Xích.

3 ngón tay Thốn-Quan-Xích ở cổ tay bên trái do Tâm làm chủ Huyết, cùng với Can-Đởn, Thận-Bàng Quang cùng lo việc vận hóa Huyết.

Cho nên Khí-Huyết thịnh thì con người khỏe mạnh. Khí-Huyết loạn làm xáo trộn sự khí hóa thì mạch cũng hiện ra sự xáo trộn, do đó xem mạch là một phương pháp khám tìm bệnh của đông y để biết xem tạng phủ nào bị xáo trộn, tùy theo vị trí ở mạch nào.


Khám Tạng Phủ trên Mạch Khí Khẩu ở cổ tay phải :

Khi thầy thuốc đặt nhẹ tay trên phần nổi phần dương để khám bệnh của phủ, đè mạnh tay chìm xuống để khám bệnh của tạng.

Vị trí mạch Thốn khám kinh Kim dương phần nổi là Kinh Đại Trường, phần chìm khám Kim âm là kinh Phế

Vị trí mạch Quan khám kinh Thổ dưong phần nổi là Kinh Vị, phần chìm khám Thổ âm là Kinh Tỳ.

Vị trí mạch Xích khám kinh Hỏa dương phần nổi là Kinh Tam Tiêu, phần chìm là khám Mệnh Môn hỏa.
Khám Tạng-Phủ trên Mạch Nhân Nghinh ở cổ tay trái :

Vị trí mạch Thốn khám kinh Hỏa dương phần nổi là Kinh Tiểu Trường, phần chìm khám Hỏa âm là Kinh Tâm.

Vị trí mạch Quan khám kinh Mộc dương phần nổi là Kinh Đởm, phần chìm khám Mộc âm là Kinh Can.

Vị trí mạch Xích khám kinh Thủy dương phần nổi là Kinh Bàng Quang, phần chìm khám Thủy âm là Kinh Thận.



II-PHƯƠNG PHÁP NGHE MẠCH :
1-Nhận diện tổng quát :
Khi cơ thể bị xáo trộn sự khí hóa thì đường đi của khí và huyết qua mạch cổ tay có những dầu hiệu đặc biệt khác nhau để ta có thể biết được 8 loại đại cương thuộc : Khí-Huyết, Hư-Thực, Hàn-Nhiệt, Biểu-Lý, là hữu dư hay bất túc.
a-Biểu-Lý :

Lấy ngón tay khẽ để trên da nơi Thốn-Quan-Xích, nghe được mạch nhẩy ngay là bệnh thuộc Biểu là bệnh nhẹ mới phát, gọi là Mạch Phù.
Lấy ngón tay ấn mạnh xuống dưới làn da mới nghe được mạch đập là bệnh đã nặng, bệnh lâu ngày, là bệnh thuộc Lý đã vào bên trong cơ thể, gọi là Mạch Trầm.
b-Hàn-Nhiệt :

Đặt 3 ngón tay vào Thốn-Quan-Xích, khi nghe được mạch đập, thầy thuốc bắt đầu đếm xem 1 hơi thở của mình hít vào thở ra 1 lần thì nghe được mạch của bệnh nhân đập được mấy lần.



Nếu nghe được 3 lần là bệnh lạnh trong người, nghe được 2 lần là lạnh hơn, nghe được 1 lần là bệnh rất lạnh. Bệnh hàn lạnh gọi là Mạch Trì.
Nếu nghe được từ 5, 6, 7 lần là bệnh nóng trong người, nghe mạch càng đập nhiều thì trong người bệnh càng nóng nhiệt gọi là Mạch Sác.
Đôi khi thầy thuốc bị bệnh, xáo trộn tim mạch, nên bắt mạch theo tiêu chuẩn hơi thở của thầy thuốc cũng sẽ bị sai lầm không chính xác bằng máy đo áp huyết và máy đo đường của tây y, cho kết qủa bằng số cụ thể, để không bị khám bệnh sai và chữa bệnh sai có thể làm chết người trong một y án cổ kể rằng có một bệnh nhân ho ra máu, một thầy thuốc chẩn bệnh nói do nhiệt làm ho ra máu, chữa hạ nhiệt bằng Hoàng Liên cho mát thì bệnh nhân ho ra nhiều máu hơn, thầy thuốc mời thêm sư huynh đến chẩn bệnh cũng cho là nhiệt, phải cho liều Hoàng Liên gấp đôi, bệnh nhân ho ra máu gấp đôi. Cả hai thầy lại mời vị thầy giỏi hơn mình, cũng chẩn bệnh do nhiệt qúa nhiều, phải cho hạ nhiệt bằng Hoàng Liên liều gấp 3, bệnh nhân ho ra máu nhiều gấp ba. Cuối cùng một người học y cạnh nhà theo dõi bệnh tình bệnh nhân đề nghị với 3 thầy là phải dùng Quế Tâm tăng nhiệt để cầm xuất huyết, vỉ bệnh này do qúa hàn bị lạc huyết mới bị ho hàn xuất huyết. Khi mài quế cho bệnh nhân uống thử thì cầm ho không xuất huyết nữa, bệnh nhân còn khen thuốc mát qúa, trong người hết nóng rồi, đây là bệnh hàn giả nhiệt thuộc mạch Trầm + Sác vô lực (= lý hàn giả nhiệt)
c-Hư-Thực :

Nếu đặt 3 ngón tay, nghe được mạch đi nhỏ như sợi chỉ là thuộc bệnh Hư chứng, bệnh đã lâu ngày, gọi là Mạch Tế
Nếu mạch nổi to dưới 3 ngón tay dễ nhận ra là thuộc bệnh Thực chứng, gọi là Mạch Đại.(to)
d-Bất túc-Hữu dư :

Đặt 3 ngòn tay nghe được sức đi của mạch qúa ngắn, chỉ nghe được ở vị trí mạch Quan chứ mạch không lên đến mạch Thốn, hay xuống đến mạch Xích, đó là do khí-huyết suy nhược thiếu thốn, thuộc bệnh bất túc (không đủ), gọi là Mạch Đoản.
Ngược lại, ta nghe được đường đi của mạch kéo dài quá mạch Thốn, xuống qúa mạch Xích, là do khí-huyết thịnh, gọi là Mạch Trường.
2-Phần định bệnh tổng quát :

Trên thực tế khi cơ thể bị bệnh, mạch không phải đơn giản như trên mà nó phức tạp dựa theo bát cương bao gồm hai mạch hay ba mạch như :


Biểu hàn hay nhiệt, Lý hàn hay nhiệt, Biểu nhiệt hư hay thực, Biểu hàn hư hay thực, Lý nhiệt hư hay thực, nên có những mạch sau :
Biểu + Nhiệt = mạch Phù + Sác

Biểu + Hàn = mạch Phù + Trì

Lý + Nhiệt = mạch Trầm + Sác

Lý + Hàn = mạch Trầm + Trì


Biểu + Nhiệt + Hư = mạch Phù + Sác + Tế

Biểu + Nhiệt + Thực = mạch Phù + Sác + Đại

Biểu + Hàn + Hư = mạch Phù + Trì + Tế

Biểu + Hàn + Thực = mạch Phù + Trì + Đại


Lý + Nhiệt + Hư = mạch Trầm + Sác + Tế

Lý + Nhiệt + Thực = mạch Trầm + Sác + Đại

Lý + Hàn + Hư = mạch Trầm + Trì + Tế

Lý + Hàn + Thực = mạch Trầm Trì + Đại.


Trong những mạch nghe được ở trên lại còn phải nghe mạch chạy ngắn hay daì (Đoản hay Trường) để biết suy nhược bất túc hay mạch đang thịnh hữu dư, thí dụ Lý + Nhiệt + Thực + Hữu dư có mạch là Trầm + Sác + Đại + Trường.
3-Hai mươi tám loại Mạch và Bệnh Chứng :
Do đó, qua kinh nghiệm 5000 năm đến nay đông y đã phân biệt được 29 loại mạch gồm 1 mạch bình thường không bệnh và 28 loại mạch bệnh để định bệnh tổng quát và 7 loại tử mạch tương ứng với các bệnh chứng như sau :
MẠCH PHÙ :

Là mạch đi nổi trên da, chia 2 loại, có lực và ấn xuống mạnh không có lực

Bệnh chứng ngoại cảm do gió, mạch Phù không có sức là Phù + Hư
MẠCH TRẦM : còn gọi là Mạch Thạch.

Là mạch đi chìm trong da thịt, ấn mạnh tay nghe mạch động, nhấc lên không nghe thấy.

Chủ nội thương, khí kết, trong mình đau đớn.
MẠCH TRÌ :

Là mạch chạy chậm, 1 hơi thở mạch đập 1,2 đến 3 lần.

Bệnh chứng thuộc dương hư, lý hàn, bên trong người lạnh, có khi bên ngoài cũng lạnh (dương hư ngoại hàn, lý hư nội hàn).
MẠCH SÁC :

Là mạch đi nhanh chạy qua ngón tay thầy bắt mạch nhanh đến 5,6,7 lần trong 1 hơi thở của thầy thuốc.

Bệnh chứng trong người nóng, mạch Sác có lực là nóng lắm có thể phát cuồng, nhưng ấn tay mạnh xuống không nghe thấy là hàn.
MẠCH HƯ :

Là mạch trống rỗng, ấn tay xuống hay nhấc tay lên đều thấy rộng lớn nhưng không rõ có hay không.

Bệnh chứng thuộc Khí và Huyết đều hư, bệnh nhân thường sợ hãi hốt hoảng.
MẠCH THỰC :

Là mạch đầy, đặc, khi ấn tay xuống hay nhấc tay lên đều nghe rõ mạch đi mạnh mẽ.

Bệnh chứng khí và huyết đều thực, có khi nóng.
MẠCH HỒNG : Còn gọi là Mạch Câu

Là mạch nhấc tay lên hay aấn tay xuống đều nghe có lực như sóng nước lụt chảy cuồn cuộn qua tay.

Bệnh chứng khí huyết đều bị thiêu đốt, trong ngoài cơ thể đều nóng.
MẠCH VI :

Là mạch đi nhỏ li ti không rõ, chỉ như sợi tơ nhện, nghe như có như không.

Bệnh chứng khí huyết đều hư, có khi bệnh đang phát mạnh và hàn khí kết đọng dưới rốn nổi cộm đau.
MẠCH HUYỀN :

Là mạch nhấc tay lên hay ấn tay xuống, nghe như đụng phải 1 sợi dây cung đang căng cứng lên.

Bệnh chứng nhọc mệt qúa độ, bệnh khá nặng có thể tổn hại khí huyết.
MẠCH KHẨN :

Là mạch căng xoắn như sợi dây thừng.

Bệnh chứng ngoại tà nhiễu hại, làm khí huyết rối loạn khiến bệnh nhân đau nhức.
MẠCH HOÃN :

Là mạch đi thong thả giống mạch Trì, nhưng hoãn, nghe được 4 lần, còn mạch Trì nghe được 1,2,3 lần.

Bệnh chứng khí huyết không được lưu thông, da thịt đau đớn cắn rứt.
MẠCH SẮC :

Là mạch đi rít cờn cợn như dao cạo vào vỏ tre, đi không trơn tru.

Bệnh chứng tinh huyết khô. Đàn ông bệnh phong lao tinh kiệt. Đàn bà có bầu thì trong thai ít huyết, hay đau bụng. Còn nếu không có thai thì trong bụng có huyết ứ trệ không thông, còn chỗ khác thiếu máu.
MẠCH KHÂU :

Là mạch đi như cọng rau muống, hai đầu nghe có mạch, khúc giữa rỗng.

Bệnh chứng huyết hư bại hay bị mất huyết nhiều làm đau bụng.
MẠCH HOẠT :

Là mạch chạy trơn tru như kéo 1 chuỗi hạt chạy qua tay.

Bệnh chứng huyết nhiều nhưng khí trệ làm ứ huyết không thông, sinh ra nhiều đờm, ho hắng, ăn vào thấy đầy bụng.
MẠCH PHỤC :

Là mạch ẩn nấp sát đến tận xương mới nghe được mạch chạy.

Bệnh chứng âm-dương bất giao, trắc trở thăng giáng thất thường làm đau bụng, lúc ói mửa, lúc đi tiêu chảy.
MẠCH NHU :

Là mạch ấn tay xuống không nghe được mạch, nhấc tay lên mới nghe, mềm mại, yếu ớt, không có lực chắc chắn.

Bệnh chứng khí-huyết đều hư. Dương hư mồ hôi ra nhiều. Người trẻ tuổi thì suy nhược ốm yếu lắm.
MẠCH NHƯỢC :

Là mạch chạy yếu như muốn đứt, nhấc tay lên không nghe thấy mạch.

Bệnh chứng tinh khí hao tổn, cốt tủy trống rỗng, thường hay đau mình, đau trong xương. Người già thì không đáng lo.
MẠCH TRƯỜNG :

Là mạch chạy dài qua khỏi Thốn Xích.

Bệnh chứng khí huyết hữu dư, người có bệnh này dễ chữa.
MẠCH ĐOẢN :

Là mạch chạy ngắn không đến Thốn Xích.

Bệnh chứng khí bất túc suy kém không đủ sức dẫn huyết mạch, hoặc cả khí huyết đều suy kém.
MẠCH TẾ :

Là mạch đi nhỏ có chừng mực nghe rõ hơn mạch Vi.

Bệnh chứng nguyên khí chính khí không đủ, tinh huyết thiếu.
MẠCH ĐẠI ( to) :

Lả mạch giống như mạch Hồng, nhấc tay lên nghe mạch chạy ồ ạt, nhưng ấn tay xuống lại nghe mạch chạy mềm không có lực.

Bệnh chứng do dương tà thịnh, chính khí không khắc chế nổi, bệnh còn đang tăng.
MẠCH ĐẠI (Mạch Đời) :

Là mạch thay đổi, chạy rít thỉnh thoảng lại nghỉ cách quãng đều nhất định. Thí dụ mạch đập được 30 nhịp thì nghỉ, sau lại đập tiếp 30 nhịp lại nghỉ nữa. Hình thức nửa mạch Sắc, nửa mạch Nhu.

Bệnh chứng nguyên khí chính khí suy kiệt, bệnh nặng gặp Mạch Đại này sẽ nguy. (Đại giống nghĩa tam đại là 3 đời)
MẠCH XÚC :

Là mạch chạy gằn lại, chạy mau như mạch Sác (nhiệt), nhưng không liên tục, chốc chốc lại nghỉ không nhất định, như thỉnh thoảng chạy bị vấp.

Bệnh chứng nhiệt tích tụ bên trong, dương thịnh mà âm không suy.
MẠCH KẾT :

Là mạch đang đi bị kết nghẽn lại, đi chậm chạp khó khăn, thỉnh thoảng phải ngừng lại 1 cái.

Bệnh chứng âm tà thịnh hơn dương tà nên âm dương không hòa, nội tà ngoại tà đọng lại thành tích kết.
MẠCH ĐỘNG :

Là mạch nhấc tay lên nghe như lúc có lúc không, lúc có thì đứng lại 1 chỗ nghe như không chạy, mường tượng như lúc lắc hột xúc sắc.

Bệnh chứng hư tổn như băng huyết, đi kiết lỵ, chân tay co rút.
MẠCH CÁCH :

Là mạch căng như da trống, nhấc tay lên hay ấn tay xuống đều thấy căng thẳng như da trống không thấy chạy.

Bệnh chứng do tinh huyết thay đổi, đàn ông thì bệnh di mộng tinh, đàn bà thì huyết hư băng lậu, sản phụ thì sắp sinh dù tới tháng hay chưa.
MẠCH TÁN :

Là mạch thốn ở Nhân Nghinh vừa có mạch Phù, Đại, Đời, Nhu. Và mạch thốn ở Khí Khẩu vừa có mạch Phù, Sắc, Đời, Đại, đó là mạch Tán.

Bệnh chứng khí-huyết bị thoát ra do tà khí thịnh. Ở cổ tay Nhân Nghinh là tà khí thoát ra, ở cổ tay Khí Khẩu là khí của tạng phủ mất, đại tiểu tiện không cầm, chân tay giá lạnh, người xám nhợt, có thể chết.
MẠCH TUYỆT :

Là mạch mất, nghe ở thốn-quan-xích không thấy gì, nhấc tay lên ấn tay xuống cũng không có.

Bệnh chứng sắp chết.
4-Bẩy loại Tử Mạch :
MẠCH CHIM MỔ :

Là mạch chạy sát trong gân nhẩy bật ở dưới ngón tay thầy bắt mạch như chim mổ thóc, thình lình im hẳn hồi lâu mới trở lại.


MẠCH NHÀ DỘT :

Là mạch không có lực, ấn tay sát gân xương lâu lâu mới nghe như nước nhỏ từng giọt ở mái nhà rơi xuống, do tỳ-vị, tâm-phế tuyệt.


MẠCH GÕ ĐÁ :

Là mạch ấn tay sát gân xương nghe như mạch cứng giống như tay mình gõ vào tảng đá 1 lúc lại tan mất đó là phế tuyệt.


MẠCH CỞI DÂY :

Là mạch ấn tay sát gân xương nghe như tháo cởi dây giao nhau lung tung không có thứ tự gì hết, đó là khí 5 tạng đều tuyệt.


MẠCH CÁ LƯỢN :

Là mạch ở ngay làn da, ấn tay xuống không thấy động, chỉ có cảm tưởng đuôi cá ngo ngoe vẫy đuôi, đó là thận khí tuyệt.


MẠCH TÔM BƠI :

Là mạch ở ngay làn da nghe lúc đầu im lặng, thình lình bật lên như con tôm nhẩy rồi bơi, do tỳ-vị tuyệt.


MẠCH CANH SÔI :

Là mạch ở ngay làn da, nghe mạch tóe phun lên không thụt xuống, như nồi nước canh sôi phập phồng




5-Phân biệt mạch tương sinh tương khắc ngũ hành.
a-Mạch theo vị khí :
Mạch Hoãn là mạch của vị khí tiếp nạp do ăn uống vào Tỳ-Vị sinh ra chính khí để tác động sự khí hóa của cả 5 tạng, cho nên khi nghe mạch Tâm ở cổ tay mạch Thốn trái, phải là mạch Hồng nhưng hơi hoà hoãn.

Mạch Phế ở vị trí mạch Thốn cổ tay phải là mạch Sắc cũng hơi hoà hoãn.

Mạch Thận ở vị trí mạch Xích cổ tay trái phải là mạch Trầm cũng hơi hòa hoãn.

Mạch Can ở vị trí mạch Quan cổ tay trái phải là mạch Huyền cũng hơi hòa hoãn.
Nghĩa là cả 4 mạch Tâm, Phế, Thận, Can ngoài mạch riêng của mình là mạch Hồng, Sắc, Trầm, Huyền cũng đều có mạch của vị khí là mạch Hoãn, như vậy là chức năng bao tử tốt đã chuyển hóa được thức ăn nuôi được cả 5 tạng, như vậy là người khỏe mạnh.
Ngược lại, 4 mạch Tâm, Phế, Thận, Can chỉ nhe thấy mạch riêng của từng tạng, không có mạch Hoãn của vị khí chạy qua sẽ chết.
b-Mạch theo mùa :
Mùa Xuân, Can khí vượng, nên cả 6 bộ mạch phải kèm theo mạch Huyền của Can.

Mùa Hè, Tâm khí vượng, nên cả 6 bộ mạch phải kèm theo mạch Hồng của Tâm

Mùa Trường Hạ, Tỳ khí vượng, nên cả 6 bộ mạch phải kèm thêm mạch Hoãn của Tỳ.

Mùa Thu, Phế khí vượng, nên cả 6 bộ mạch kèm theo mạch Sắc của Phế.

Mùa Đông, Thận khí vượng, nên cả 6 bộ mạch phải kèm theo mạch Trầm của Thận.
c-Mạch thuận nghịch âm dương ngũ hành :
Bất cứ bắt mạch ở bộ vị nào của 6 bộ, hễ nghe thấy :
Mạch Hồng : là mạch của Tâm Kinh , có những trường hợp sau đây :

-Nếu mạch Hồng ở ngay bộ vị Tâm mà mạch riêng của nó là Hồng, kèm theo mạch Hoãn của vị khí, là người khỏe.

-Nếu ở bộ vị Tỳ, hỏa sinh thổ là mạch thuận, tốt.

-Nếu ở bộ vị Phế, là hỏa khắc kim là mạch nghịch hại phế.

-Nếu mạch Hồng cả 6 bộ vị vào mùa Hạ là mạch thuận, ở vào mùa Thu là hỏa khắc kim là mạch nghịch hại phế kim.
Cũng suy luận tương tự cho những trường hợp sau :

-Mạch Hoãn, là mạch của Tỳ Kinh.

-Mạch Mao (=Sắc + Phù + Đoản) là mạch của Phế Kinh.

-Mạch Trầm, là mạch của Thận Kinh.

-Mạch Huyền, là mạch của Can Kinh.
-Những bệnh hư-nhược phải có mạch phù hợp với mạch Hư-Nhược là thuận. Kỵ mạch đi nghịch thuộc dương như Phù, Khâu, Hồng, Sác, Đại, Thực, Hoạt. Thay vì mạch phải khoan thai mềm mại.
-Những bệnh hữu dư do ngoại tà truyền vào, phải có lực, có thần. Ấn tay đến sát xương vẫn còn thấy nháy nháy chạy được là có lực.
-Nếu nhẹ tay nghe thấy nhiều, mà ấn tay đến sát xương lại không nghe thấy gì là không còn thần.

Bệnh hữu dư gặp mạch thuộc âm như Trầm, Trì, Vi, Sắc, Tế, Nhược là mạch đi nghịch.


-Những bệnh đang phát lên dữ dội thì mạch phải thực như Phù, Hồng, Sác, Thực là mạch thuận. Nhưng mạch mà Trầm, Vi, Tế, Nhược là mạch đi nghịch.
-Những bệnh lâu ngày thì mạch đi Hoãn, Vi, Nhu, Tế, Nhược là thuận, ngược lại mạch đi Phù, Đại, Hồng, Sác, Thực, là mạch đi nghịch.
d-Mạch bệnh và mạch không bệnh :
Mỗi tạng phủ phù hợp với 1 loại mạch riêng là mạch không bệnh, còn không phù hợp là mạch bệnh.

Các bộ vị mạch chạy bình thường, nghe có mạch nào chạy mạnh hơn các bộ vị khác là hữu dư, yếu hơn các bộ vị khác là bất túc.

Mạch nào chạy lớn qúa, nhỏ qúa, chậm qúa, nhanh qúa đều là bệnh.
Mạch của người không bị bệnh :

Khi bắt mạch chung cả 6 bộ vị chạy qua 3 ngón tay nghe không lớn, không nhỏ, không dài, không ngắn, không chìm, không nổi, không trơn, không rít, có vẻ trung hòa, không biết là mạch gì gọi c ho đúng nghĩa, chính đó là mạch Vị Khí do ăn uống tạo ra chính khí truyền vào các mạch của tạng phủ mới có thần, có lực, là mạch không có bệnh.


Khi chỉ bắt được mạch riêng của các tạng phủ mà không có kèm theo mạch Vị Khí là mạch bệnh.
Mạch vị khí ở nam, nữ khác nhau :
Nam : Mạch Nhân-Nghinh nặng, mạch Khí Khẩu hòa hoãn là thuận.

Nữ : Mạch Nhân Nghinh hoà hoãn, mạch Khí Khẩu nặng là thuận.


e-Mạch theo sắc mặt mầu da :
Người nào mặt sắc Xanh phải phù hợp với Mạch Huyền (gan)

Người nào mặt sắc Đỏ phải phù hợp với Mạch Câu =Hồng (tâm)

Người nào mặt sắc Vàng phải phù hợp với Mạch Hoãn (tỳ-vị)

Người nào mặt sắc Trắng phải phù hợp với Mạch Mao (phế)

Người nào mặt sắc Đen phải phù hợp với Mạch Trầm=Thạch (Thận)
Thấy sắc không đúng với mạch phù hợp mà lại thấy mạch tương khắc ngũ hành là bệnh nguy đến tính mạng. Ngược lại thấy mạch tương sinh với sắc thì bệnh sắp hồi phục, chữa mau khỏi.
Thí dụ : Sắc xanh thuộc gan, mạch Huyền là thuận, mạch Mao thuộc phế kim sẽ khắc mộc làm can khí tuyệt.
e-Mạch đối với ngoại tà lục dâm :
Phong Tà :

Phong thuộc mộc nhưng là tà khí xâm nhập vào gan làm hại gan. Nó vào từ kinh Túc Thiếu Dương Đởm (Mật) thay vì mạch Huyền của gan trở thành mạch Phù thịnh, nếu là mạch Tán thì bệnh mới đến.


Hàn tà :

Hàn thuộc thủy, nhưng là tà khí xâm nhập vào kinh Túc Thái Dương Bàng Quang gây ra bệnh thương hàn, thay vì mạch Phù trở thành mạch Phù+Khẩn.


Thử Tà :

Thử là nhiệt tà thuộc hỏa xâm nhập vào kinh Thủ Thiếu Âm Tâm gây bệnh thương, thay vì mạch Hồng trở thành mạch Hư


Thấp Tà :

Thấp thuộc thổ tà xâm nhập vào kinh Túc Thái Âm Tỳ gây bệnh thương thấp, thay vì mạch Hoãn trở thành mạch Tế+Nhu.


Táo Tà :

Táo là khô ráo thuộc kim tà làm hại Phế, gây bệnh cảm, lúc đầu nó xâm nhập vào kinh Thủ Dương Minh Vị là phủ, thay vì mạch đi Phù trở thành mạch Phù+Sắc.


Nhiệt Tà :

Nhiệt thuộc hỏa làm hại Tâm Bào Lạc, lúc đầu nó xâm nhập vào kinh Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu, mạch đi Phù. Khi cảm nóng trở thành mạch Trầm+Nhược+Hoãn, vì Trầm là mạch của Tâm Bào, Nhược là bệnh của cảm nhiệt, Hoãn là điềm bệnh mỏi mệt.


g-Mạch đối với biến đổi tâm lý :
Mừng qúa :

Mừng qúa hại tim, mạch Hư.

Mừng thì mạch Tán mà Hư. Hư qúa thần loạn thì mạch Trầm, vì vui mừng qúa thì hỏa thịnh lấn kim phế, nên thận thủy cứu mẹ phải khắc chế lại hỏa nên mạch trở nên Trầm vì hỏa tâm bị ức chế.
Suy nghĩ qúa :

Suy nghĩ qúa hại Tỳ, mạch Kết+Đoản, nghĩ ngợi suy tính qúa độ làm cho ý không dừng nghỉ nên mạch Huyền.


Lo lắng qúa :

Lo qúa hại phổi nên mạch Trầm+Sắc, vì qúa lo lắng làm cho trí óc bị đình trệ nên thần của Phế là Phách mất chỗ dựa nên mạch Hồng.


Giận qúa :

Giận qúa khí mạch đi nghịch làm hại gan nên mạch Nhu, giận dữ qúa nên thần của gan là Hồn mất chỗ dựa nên mạch gan trở thành Sắc.


Sợ hãi qúa :

Sợ qúa khí chạy xuống làm hại thận, mạch Trầm trở thành mạch Nhu, thận khí không yên làm mất vệ khí nên vải đái.




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương