Phần I. MỞ ĐẦu lí do chọn đề tài



tải về 190.79 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu31.10.2017
Kích190.79 Kb.

Phần I. MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài


Trong bối cảnh mà ngành giáo dục đang tiến hành công cuộc đổi mới sâu rộng và mạnh mẽ thì mỗi giáo viên trong quá trình công tác của mình cần có những hành động đổi mới phương pháp dạy học. Để có thể nhanh chóng bắt kịp với quá trình đổi mới và chấn hưng nền giáo dục theo hướng hiện đại, hiệu quả, phát huy tính tích cực, chủ động của người học, chúng tôi, trong quá trình công tác của mình đã có những tìm tòi và áp dụng một số phương pháp dạy học mới để có thể tận dụng tối đa tính ưu việt của công nghệ thông tin cùng các phần mềm bổ trợ. Do vậy, trong sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi thử đề xuất phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy. Chúng tôi cho rằng đây là phương pháp giảng dạy có những ưu thế nhất định và sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.

Riêng với bộ môn Ngữ văn, từ trước đến nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học có những hạn chế nhất định như ít các phần mềm chuyên dụng cho môn học, khó đưa các hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ trong giáo án trình chiếu… Do vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin cho môn Ngữ văn vẫn khó có được những thành tích rõ ràng như các môn khoa học tự nhiên khác.

Với việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học cùng với việc sử dụng phần mềm vẽ sơ đồ tư duy, chúng tôi cho rằng sẽ giúp ích cho giáo viên Ngữ văn trong quá trình dạy học của mình. Do vậy, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông”.

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu


Chúng tôi, trong sáng kiến kinh nghiệm của mình chỉ trình bày phương pháp dạy học Ngữ văn trong trường Trung học phổ thông bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy và nêu bật tính ưu việt của phương pháp này đối với môn khoa học Ngữ văn. Đồng thời, trong quá trình trình bày sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi cũng có so sánh và liên hệ với các phương pháp dạy học khác nhằm làm nổi bật vấn đề.

3. Đóng góp của đề tài


- Chỉ ra những ưu thế của phương pháp dạy học sử dụng sơ đồ tư duy trên phương diện lí luận.

- Chỉ ra những ưu thế của phương pháp dạy học sử dụng sơ đồ tư duy trên phương diện thực tiễn.

- Giúp học sinh nâng cao hiệu quả của công tác tự học nhờ vận dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động học.

4. Cấu trúc của đề tài


Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, sáng kiến kinh nghiệm được cấu trúc thành các chương:

Chương 1: Khái quát về sơ đồ tư duy và ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học.

Chương 2: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ngữ văn cấp Trung học phổ thông.

Chương 3: Ứng dụng sơ đồ tư duy trong soạn giảng một số bài học cụ thể trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học phổ thông.


Phần II. NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀ ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC

1.1. Khái quát về sơ đồ tư duy


Sơ đồ tư duy (mindmap) là một phương pháp được sử dụng để phát huy tối đa khả năng của bộ não con người trong việc ghi nhớ các hình ảnh, chi tiết, để liên hệ các nội dung của một vấn đề nào đó theo một hệ thống rành mạch. Các nội dung của vấn đề được liên kết với nhau bằng một đường nối để làm cho các dữ kiện của một nội dung cần nhớ, phân tích sẽ được nhìn nhận dễ dàng, nhanh chóng và chính xác hơn.

Về lịch sử hình thành và phát triển sơ đồ tư duy, theo Bách khoa từ điển mở Wikipedia thì sơ đồ tư duy là phương pháp đã được ra đời từ lâu, nhưng vào thập niên 60 của thế kỉ XX, Tony Buzan đã phát triển phương pháp học này để giúp học sinh ghi lại các bài giảng bằng cách chỉ dùng các từ khóa và hình ảnh đơn giản. Do đây là cách học có những tính năng ưu việt cho việc ghi nhớ và ôn tập nên đến thập niên 70 của thế kỉ XX, Perter Russell đã cùng hợp tác với Tony Buzan để phát triển phương pháp học tập và làm việc này ra thế giới. Ngày nay, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy đã trở nên rất phổ biến trên toàn thế giới, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, được ứng dụng rộng rãi chứ không chỉ trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay, nó được hơn 250 triệu người trên thế giới sử dụng, được xem là “công cụ vạn năng cho bộ não”.

Sau đây, chúng tôi sẽ áp dụng sơ đồ tư duy để chỉ ra các ứng dụng cơ bản của nó mà ngày nay nhiều người trên thế giới thường hay ứng dụng:

Chúng tôi cũng trình bày những ưu điểm của phương pháp sơ đồ tư duy bằng sơ đồ như sau:




1.2. Ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học


Phương pháp vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học được du nhập vào Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX. Ban đầu, những nhà nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đã sử dụng thử nghiệm trên một số bài dạy và các hoạt động ngoại khóa. Thành công của nó đã vẫy gọi nhiều nhà giáo đến với sơ đồ tư duy, và ngày nay, sơ đồ tư duy có thể được vận dụng vào bất cứ môn học nào, thậm chí là mọi tiết học và mọi hoạt động dạy học.

Việc ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học, hiện nay được xem là một việc làm khả thi và phù hợp với sự nghiệp đổi mới giáo dục mà ngành đang đẩy mạnh. Đây là việc làm cần thiết do ở sơ đồ tư duy có những ưu điểm lớn mà chúng tôi vừa phân tích trên. Ngoài ra, sơ đồ tư duy khi áp dụng vào dạy học sẽ phát huy những công năng lớn lao: phát huy cao độ sức hấp dẫn và dễ hiểu cho bài dạy, kích thích sự tìm tòi của giáo viên đồng thời phát triển khả năng tự học của học sinh.

Việc vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học cũng là cách làm hay để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng thông tin vào giảng dạy, sử dụng tốt các phần mềm bổ trợ và tận dụng tối đa các thiết bị dạy học của nhà trường. Và quan trọng nhất: nâng cao hiệu quả giảng dạy của giờ học. Chính điều đó, nhiều năm qua, nhiều giáo viên đã ứng dụng phương pháp này trong hoạt động dạy học.

Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay là, nhiều giáo viên vẫn còn e ngại, chưa tận dụng tối đa phương pháp dạy học này, cho rằng nó không thể là phương pháp phù hợp với hệ hình tư duy của các nước phương Đông. Ngược lại, cũng có một số giáo viên vận dụng thái quá theo kiểu cho nó là phương pháp vạn năng, biến nó thành độc tôn trong dạy học nên gây ra những hệ quả không tốt, bởi vì bất kì một phương pháp giáo dục, giảng dạy nào cũng có điểm khả thủ và bất khả thủ. Chối từ nó đồng nghĩa với việc đóng lại một cánh cửa truyền thụ tri thức, nhưng vận dụng thái quá cũng sẽ làm nó tự bộc lộ hạn chế của mình.

Do vậy, trong đề tài của mình, chúng tôi sẽ cố gắng không mắc vào hai thái cực cực đoan đó.

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN

CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG


Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn có thể được chia ra các trường hợp cụ thể khác nhau: Vận dụng trong việc khái quát nội dung bài học; vận dụng trong các thao tác giảng dạy cụ thể ở một nội dung của bài học; vận dụng trong việc củng cố nội dung bài học… Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một số trường hợp cụ thể.

2.1. Vận dụng sơ đồ tư duy trong khái quát nội dung bài học


Chúng tôi cho rằng, trước mỗi bài học, giúp học sinh nắm được các nội dung cụ thể của bài sẽ được học là việc rất quan trọng, vì nó sẽ giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về bài học. Từ đó, sẽ tăng mức độ tập trung của học sinh vào bài học. Đồng thời, khi đi qua những nội dung kiến thức cụ thể, học sinh sẽ liên hệ chúng với nhau để hiểu sâu sắc hơn các nội dung, tránh việc khi học đến nội dung cuối cùng, học sinh không nhớ nội dung đầu tiên là gì (với các bài học dài, nhiều nội dung).

Việc xây dựng sơ đồ tư duy trong phần giới thiệu nội dung bài học kết hợp với sử dụng phần mềm trình chiếu, tạo hiệu ứng liên kết trong các nhánh cụ thể của sơ đồ tư duy sẽ giúp người dạy chủ động truyền thụ các đơn vị kiến thức.

Ví dụ với một số sơ đồ sau:

Với bài học “Khái quát lịch sử tiếng Việt” ở chương trình Ngữ văn 10, khi soạn bài trình chiếu, ta cần tạo hiệu ứng liên kết từ các nhánh của sơ đồ tư duy khái quát đến các nội dung của bài học. Cuối các nội dung cụ thể này cũng cần tạo các liên kết trở lại sơ đồ khái quát. Khi muốn dạy đến nội dung nào, chỉ cần click chuột vào nhánh có nội dung cần dạy. Khi dạy xong mỗi nội dung, liên kết trở về lại sơ đồ khái quát để chuyển sang nội dung tiếp theo. Điều này sẽ giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về bài học và liên kết các nội dung của bài học lại với nhau.

Kỹ thuật này có thể được áp dụng cho nhiều bài học khác để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Tương tự, chúng tôi sẽ minh họa một số sơ đồ tư duy khái quát bài học của một số bài học khác:

Bài “Thuốc” của Lỗ Tấn trong chương trình Ngữ văn 12 tập 2:

Bài “Vợ nhặt” của Kim Lân trong chương trình Ngữ văn 12:




2.2. Vận dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động dạy các nội dung trọng tâm của bài học


Sau khi khái quát nội dung bài học, hoạt động dạy học sẽ đi vào các nội dung trọng tâm. Đến các hoạt động này cũng có thể vận dụng sơ đồ tư duy để giúp học sinh tiếp thu và ghi nhớ các đơn vị kiến thức một cách hệ thống và dễ dàng.

Thay vì trình bày bằng chữ viết các nội dung kiến thức để học trò tiếp thu thì việc truyền thụ bằng sơ đồ tư duy sẽ sinh động hơn, hệ thống hơn, và do vậy cũng hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp học sinh sẽ dễ nhớ, dễ thuộc bài học hơn.

Ví dụ, với bài dạy “Khái quát lịch sử tiếng Việt” ở chương trình Ngữ văn 10, phần trình bày Nguồn gốc và quan hệ họ hàng của tiếng Việt trong phần I.1. Tiếng Việt trong thời kì dựng nước, thay vì phải hỏi học sinh rất nhiều câu hỏi về họ, dòng rồi quan hệ họ hàng của tiếng Việt, giáo viên chỉ khái quát bằng sơ đồ tư duy như sau thì bài học trở nên rất dễ dàng:


Với sơ đồ tư duy như trên, học sinh sẽ có cái nhìn bao quát và rất hệ thống về nguồn gốc và quan hệ họ hàng của tiếng Việt mà giáo viên và học sinh không phải mất quá nhiều công sức.

Hay với nội dung Những tầng nghĩa của thuốc trong bài học “Thuốc” của Lỗ Tấn, với sơ đồ tư duy như sau, chúng ta sẽ giúp học sinh dễ nắm và nhớ lâu nội dung bài học hơn:




2.3. Vận dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động củng cố kết hợp với phương pháp bài học 1 trang (one page lesson)


Theo chúng tôi, việc sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động củng cố bài học mang lại khá nhiều ưu điểm. Việc sử dụng sơ đồ tư duy sẽ khái quát toàn bộ nội dung mà học sinh được học trong tiết học, giúp các em nắm chắc các đơn vị kiến thức và hệ thống hóa, liên kết chúng lại với nhau thành một chỉnh thể sinh động. Việc sử dụng sơ đồ tư duy sẽ kết hợp tối ưu với phương pháp xây dựng bài học 1 trang để giúp học sinh giảm bớt thời gian học tập, tăng tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động tự học, và từ đó, kích thích khả năng tự học của học sinh.

Chúng tôi xin minh họa bằng sơ đồ sau: (bài “Thuốc” của Lỗ Tấn)



Chỉ bằng sơ đồ tư duy như trên, học sinh đã nắm gần như trọn vẹn những nội dung quan trọng của bài học. Đây là kiểu xây dựng bài học 1 trang bằng phương pháp sơ đồ tư duy nhằm giúp hoạt động học trở nên hiệu qủa. Nếu phát hiện ra ý gì mới, học sinh đều có thể dễ dàng bổ sung vào sơ đồ. Như vậy, việc xây dựng bài học 1 trang bằng phương pháp sơ đồ tư duy đã làm cho bài học trở nên tinh gọn nhưng độ mở của nó là vô cùng, tùy thuộc vào khả năng tự học của từng học sinh.

Tương tự, với bài “Khái quát lịch sử tiếng Việt” trong chương trình Ngữ văn 10, củng cố bằng sơ đồ tư duy với bài học 1 trang như sau sẽ tăng cao hiệu quả chiếm lĩnh tri thức của học sinh:

Chỉ với sơ đồ tư duy như trên, những bài học nhiều nội dung như “Khái quát lịch sử tiếng Việt” sẽ trở nên rất rõ ràng và dễ hiểu.

Như vậy, chúng tôi đã trình bày một số ứng dụng của sơ đồ tư duy trong một số hoạt động cơ bản trong dạy học Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông trước khi đi vào các hoạt động thực hành cụ thể trong các bài học.

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG SOẠN GIẢNG MỘT SỐ BÀI HỌC CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG


Sau đây, chúng tôi xin minh họa một số giáo án có sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học bộ môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông

3.1. Thiết kế giáo án Tiết 64: “Khái quát lịch sử tiếng Việt” - Ngữ
văn 10.


Tiết 64: (Tiếng Việt) KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT

Ngày soạn: ...................

Ngày dạy: ...................

A. Mục tiêu: Giúp HS

- Nắm được một cách khái quát nguồn gốc, các mối quan hệ họ hàng, quan hệ tiếp xúc, tiến trình phát triển của tiếng Việt và hệ thống chữ viết của tiếng Việt.

- Thấy rõ sự phát triển của tiếng Việt gắn bó với lịch sử phát triển của đất nước, của dân tộc.

- Bồi dưỡng tình cảm quý trọng tiếng Việt – tài sản lâu đời và quý báu của dân tộc.



B. Phương pháp – phương tiện

- Phương pháp: Thảo luận, vấn đáp, thuyết giảng, sử dụng sơ đồ tư duy...

- Phương tiện: SGK, SGV, Giáo án, máy tính, projector...

C. Tiến trình dạy học

* Kiểm tra bài cũ: Không

* Bài mới:

1. Hoạt động nhập cảm: GV đưa ra hai trường hợp sử dụng tiếng Việt trong thực tế: sử dụng có trách nhiệm, có văn hóa để phát huy vẻ đẹp của tiếng Việt và cách sử dụng thiếu trách nhiệm để giới thiệu bài học

2. Thiết kế dạy học:


Hoạt động của GV và HS

Nội dung cần đạt

Ghi chú

Hoạt động 1: Khái quát nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy

Hoạt động 2: Tìm hiểu lịch sử phát triển của tiếng Việt

+ Câu hỏi: Tiếng Việt là gì?

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý.




Thao tác 1: Tìm hiểu tiếng Việt trong thời kì dựng nước

TT1a. Nguồn gốc tiếng Việt.

+ Câu hỏi: Nhiều nhà Việt ngữ học đã chứng minh Tiếng Việt có nguồn gốc từ đâu?

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý.



+ Câu hỏi: Tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ nào?

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý.



TT1b. Quan hệ họ hàng của tiếng Việt

+ Câu hỏi: Tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với thứ tiếng nào?

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý.

Chiếu sơ đồ tư duy hệ thống nội dung.

Thao tác 2: Tìm hiểu tiếng Việt trong thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

+ Câu hỏi: Trong thời Bắc thuộc, tiếng Việt ảnh hưởng thứ tiếng nào lâu dài và sâu rộng nhất? Chiều hướng chủ đạo của việc vay mượn là gì?

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý.



+ Câu hỏi: Có những cách Việt hóa tiếng Hán nào được sử dụng phổ biến? (GV minh họa)

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý, chiếu sơ đồ tư duy hệ thống đơn vị kiến thức.



+ Câu hỏi: Điều đó làm ra đời loại từ nào trong tiếng Việt?

• HS trả lời, GV nhận xét, chốt ý.



Thao tác 3: Tìm hiểu tiếng Việt dưới thời kì độc lập tự chủ.

+ Câu hỏi: Dưới thời kì này, việc học ngôn ngữ và văn tự Hán được tiến hành như thế nào?

• HS trả lời, GV chốt ý.



+ Câu hỏi: Thứ chữ nào ra đời trên cơ sở tiếp thu chữ Hán theo hướng Việt hóa trong thời kỳ này?

• HS trả lời, GV chốt ý.



+ Câu hỏi: Ý nghĩa của sự ra đời chữ Nôm?

• HS trả lời, GV chốt ý.



Thao tác 4: Tìm hiểu tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc

+ Câu hỏi: Thời kì này, chúng ta tiếp thu chủ yếu với nền văn hóa nào ?

• HS trả lời, GV chốt ý.



+ Câu hỏi: Thứ chữ nào được ra đời trên nền tảng của sự tiếp thu văn hóa phương Tây?

• HS trả lời, GV chốt ý (nói khái quát về chữ quốc ngữ).



+ Câu hỏi: Chữ quốc ngữ ra đời đã tạo ra những động lực mới nào cho văn học và ngôn ngữ phát triển?

• HS trả lời, GV chốt ý.



Thao tác 5: Tiếng Việt từ sau CMT8 đến nay.

+ Câu hỏi: Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, công cuộc phát triển tiếng Việt được diễn ra như thế nào?

• HS trả lời, GV chốt ý.



+ Câu hỏi: Có những cách thức phổ biến nào được sử dụng để hoàn thiện hệ thống thuật ngữ?

• HS trả lời, GV chốt ý, chiếu sơ đồ tư duy hệ thống đơn vị kiến thức.



Hoạt động 3: Tìm hiểu chữ viết của Tiếng Việt

+ Câu hỏi: Trong quá trình phát triển, có những thứ chữ nào của tiếng Việt được sử dụng?

• HS trả lời, GV chốt ý.



Giáo viên cho học viên thảo luận:

Hãy chỉ ra ưu điểm và hạn chế của chữ Nôm và chữ quốc ngữ.



Hoạt động 4: Củng cố

• Giáo viên củng cố bằng phương pháp bài học 1 trang (one page lesson) với sơ đồ tư duy.





I. Lịch sử phát triển của tiếng Việt

- Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc Việt (Kinh).

- Là ngôn ngữ toàn dân, sử dụng chung trong giao tiếp.

1. Tiếng Việt trong thời kì dựng nước

Tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường.

VD: Việt Mường

ngày ngài

mưa mươ

trong tlong

2. Tiếng Việt trong thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

- Tiếng Việt tiếp thu tiếng Hán theo hướng Việt hóa.





 Xuất hiện từ Hán Việt

3. Tiếng Việt dưới thời kì độc lập tự chủ

4. Tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc

.



5. Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay.

- Chuẩn hóa tiếng Việt, hoàn thiện hệ thống thuật ngữ:



II. Chữ viết của tiếng Việt
- Chữ Nôm: thể hiện ý thức tự chủ của dân tộc.

- Chữ quốc ngữ: ghi âm tiếng Việt theo mẫu tự latin.




Phần bài tập đã kết hợp hướng dẫn làm trong nội dung bài học.



* Dặn dò:

- Học bài cũ.

- Soạn bài mới “Phương pháp thuyết minh”.

* Rút kinh nghiệm giờ dạy:

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………



3.2. Thiết kế giáo án Tiết 76 - 77: “Thuốc” (Lỗ Tấn) - Ngữ văn 12.


Tiết 76: (Đọc văn) THUỐC

Lỗ Tấn


Ngày soạn: ………………..

Ngày dạy: …………………



A. Mục tiêu: Giúp học sinh:

- Hiểu được “Thuốc” là hồi chuông cảnh báo về căn bệnh mê muội của người Trung Hoa đầu thế kỉ XX; nhà văn bày tỏ niềm tin vào tương lai: nhân dân sẽ thức tỉnh, hiểu được cách mạng và bước theo cách mạng.

- Hiểu được cách viết cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng của Lỗ Tấn.

B. Phương pháp – phương tiện

- Phương pháp:

+ Phương pháp phát vấn nêu câu hỏi để học sinh làm việc, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sử dung sơ đồ tư duy…

+ Phương pháp phân tích kết hợp với bình giảng.

- Phương tiện: SGK, SGV, Chuẩn KT – KN, giáo án, máy tính, projector...

C. Tiến trình dạy học:

* Kiểm tra bài cũ: 1. Nêu nội dung và nghệ thuật của “Mùa lá rụng trong vườn”?

2. Nêu nội dung và nghệ thuật của “Một người Hà Nội”?



1. Hoạt động nhập cảm:

2. Thiết kế bài dạy học:

Hoạt động của GV và HS

Nội dung cần đạt

Ghi chú

Hoạt động 1: Tìm hiểu chung

- Thao tác 1: Tác giả

+ CH: Trình bày vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn? Trước khi trở thành nhà văn Lỗ Tấn đã học qua những nghề nào? Vì mục đích gì ông chuyển sang hoạt động văn nghệ?

HS: Trả lời.

• GV bổ sung.

- Thao tác 2: Tác phẩm

+ CH: Em hãy trình bày hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ của truyện “Thuốc”?



HS: Trả lời.


+ CH: Theo em truyện “Thuốc” có thể chia làm mấy phần, nội dung của từng phần?

• HS: Trả lời.

+ CH: Em hãy tóm tắt truyện ngắn “Thuốc”?

HS: Tóm tắt.

Hoạt động 2: Đọc hiểu văn bản

+ CH: Với tác phẩm này ta nên phân tích như thế nào?



HS: Đề xuất cách phân tích.

GV: Có những cách phân tích sau:

- Cách 1: Phân tích theo bố cục.

- Cách 2: Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người, hình tượng người cách mạng Hạ Du, hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du.

- Cách 3: Những tầng nghĩa của “Thuốc”, hình ảnh nghĩa địa và vòng hoa trên mộ Hạ Du.

=> Cách thứ 3 vừa phân tích được hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người, vừa phân tích được hình tượng người cách mạng Hạ Du, vừa thấy được những tầng nghĩa của “Thuốc” – chủ đề của tác phẩm.

+ CH: Theo em, truyện ngắn “Thuốc” gồm mấy tầng nghĩa?

HS: Gồm ba tầng nghĩa → GV chiếu sơ đồ tư duy giới thiệu nội dung của phần đọc – hiểu.

- Thao tác 1: Những tầng nghĩa của “Thuốc”

+ CH: Trong truyện, chiếc bánh bao tẩm máu người được dùng để làm gì?

 HS: Được mọi người xem là một phương thuốc chữa bệnh lao.



- Thao tác 1a: Dùng chiếc bánh bao tẩm máu người để làm thuốc chữa bệnh lao

+ CH: Trước phương thuốc này vợ chồng lão Hoa Thuyên có thái độ như thế nào? Tìm chi tiết?

 HS: Trả lời.



+ CH: Mọi người trong quán trà có thái độ như thế nào đối với phương thuốc này?

 HS: Trả lời.



+ CH: Niềm tin của mọi người vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này thể hiện điều gì?

 HS: Niềm tin ấy diễn tả sự u mê, lạc hậu đến mức cùng cực của nhân dân Trung Quốc thời bấy giờ.

+ CH: Từ đây em hãy rút ra tầng nghĩa thứ nhất của truyện?

 HS: Tầng nghĩa thứ nhất của truyện “Thuốc” đó là: Đây là câu chuyện mua thuốc, bán thuốc và uống thuốc – một phương thuốc cổ quái, tanh mùi máu của người Trung Quốc mê tín và lạc hậu sống trong một đất nước ẩm mốc, tù đọng.



- Thao tác 1b: Kết quả của phương thuốc.

+ CH: Sau khi “ăn thuốc” Hoa Thuyên có kết quả như thế nào?

 HS: Sau khi “ăn thuốc” bé Hoa không lành bệnh và đã chết. Như vậy với phương thuốc này cùng một lúc nó giết chết cả hai mạng người đó là Hoa Thuyên và Hạ Du.

 GV: Hoa Thuyên ↔ chiếc bánh bao tẩm máu ↔ Hạ Du. “Thuyên” là tên nhân vật, tên của bệnh nhân, “Thuyên” có nghĩa là lành bệnh. Nhưng “Thuyên” mà chẳng lành, “Thuyên” mà lại chết. “Du” là tên nhân vật chính, cũng là tên một thứ ngọc. Hoa Thuyên – Hạ Du, Hoa lành – Hạ quý, đó là những đứa con, tương lai và niềm hi vọng duy nhất của gia đình Hoa Hạ. Nhưng Hoa Hạ chỉ còn là nấm mồ. Mà như ta đã biết, Hoa Hạ là tên gọi của nước Trung Quốc cổ. Hoa Hạ - Trung Quốc sẽ mất hết tương lai, sẽ chỉ còn là nấm mồ nếu cứ mê muội, tương tàn, uống máu lẫn nhau. Đó là lời cảnh tỉnh, một tiếng kêu cấp cứu.

+ CH: Từ đây em hãy cho biết tầng nghĩa thứ hai của truyện “Thuốc”?

 HS: Tầng nghĩa thứ hai của truyện “Thuốc” là lời cảnh tỉnh của Lỗ Tấn: phương thuốc bánh bao tẩm máu người đó là thuốc độc, mọi người phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh xưa nay vốn là thuốc độc.



- Thao tác 1c: Hình tượng người cách mạng Hạ Du.

+ CH: Khi xây dựng nhân vật Hạ Du, Lỗ Tấn sử dụng thủ pháp nghệ thuật miêu tả như thế nào?

 HS: Trả lời.

+ CH: Vậy theo em hình tượng người cách mạng Hạ Du hiện lên qua những hình ảnh nào?

 HS: - Qua hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu đỏ tươi.

- Qua câu chuyện của những người trong quán trà.

- Qua hình ảnh nấm mộ có vòng hoa ở ngoài nghĩa địa.

+ CH: Hạ Du hiện lên như thế nào qua hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu, qua câu chuyện của những người trong quán trà, qua nấm mộ có vòng hoa ở ngoài nghĩa địa?

 HS: Trả lời.


+ CH: Qua ba lần xuất hiện, hãy cho biết Hạ Du là một người như thế nào?

 HS: Hạ Du là một chiến sĩ cách mạng tiên phong có lí tưởng (lật đổ ngai vàng, đánh đuổi ngoại tộc, giành lại độc lập: (“Thiên hạ nhà Mãn Thanh là của chúng ta”), dũng cảm, hiên ngang (không sợ chết, dũng cảm, tuyên truyền lí tưởng cách mạng với cả tên cai ngục trong những ngày ở tù chờ án chém) nhưng xa rời quần chúng và đã hi sinh một cách vô nghĩa.

+ CH: Từ đây em hãy chỉ ra tầng nghĩa thứ ba của truyện “Thuốc”?

 HS: Trả lời.

GV chốt: Như vậy, qua ba tầng nghĩa của truyện “Thuốc” người đọc thấy được dụng ý khai sáng của nhà văn Lỗ Tấn: Trung Quốc là một con bệnh trầm trọng, cần có một phương thuốc để cứu đất nước Trung Quốc khỏi diệt vong → chiếu sơ đồ tư duy khái quát những tầng nghĩa của “Thuốc”.



Hoạt động 4: Củng cố

+ CH: Với bài học này em cần nắm vững điều gì?

 HS: Tiểu sử của Lỗ Tấn, những tầng nghĩa của “Thuốc”.


I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

- Lỗ Tấn (1881 – 1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, sinh ra trong một gia đình quan lại sa sút tại phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Trung Quốc.

- Ông là nhà văn cách mạng Trung Quốc, bóng dáng của ông bao trùm cả văn đàn Trung Quốc thế kỉ XX (“Trước Lỗ Tấn chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạt Nhược”)).

- Lỗ Tấn là người có tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết. Ông có bốn lần đổi nghề:

+ Hàng hải → được đi đây đi đó để mở mang tầm mắt.

+ Khai mỏ → làm giàu cho Tổ quốc.

+ Y khoa → chữa bệnh cho người nghèo.

+ Viết văn → chữa bệnh tinh thần cho quốc dân.

- Sự nghiệp sáng tác:

+ Truyện ngắn: “Gào thét”, “Bàng hoàng”, “Truyện cũ viết theo lối mới”.

+ Tạp văn: “Nấm mồ”, “Cỏ dại”, “Gió nóng”, “Hai lòng”…

- Năm 1981, nhân kỉ niệm 100 ngày sinh, Lỗ Tấn được phong tặng danh hiệu Danh nhân văn hóa nhân loại.



2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ: “Thuốc” được viết vào ngày 25 – 4 – 1919, đăng trên tạp chí “Tân Thanh niên” đúng vào những ngày bùng nổ phong trào Ngũ Tứ (4/5/1919) sau đó được in trong tập “Gào thét”.

b. Bố cục: bốn phần

- Cảnh mua – bán thuốc.

- Cảnh “ăn thuốc”.

- Lời bàn về thuốc và tử tù Hạ Du.

- Nghĩa địa và cuộc gặp gỡ của hai bà mẹ.

c. Tóm tắt

II. Đọc hiểu văn bản


1. Những tầng nghĩa của “Thuốc”

a. Dùng chiếc bánh bao tẩm máu người để làm thuốc chữa bệnh lao:
- Vợ chồng lão Hoa Thuyên:
+ Dậy sớm, đem những đồng tiền chắt chiu, dành dụm được đi mua thuốc.

+ Đi mua thuốc cho con lão cảm thấy sảng khoái.

+ Cầm chiếc bánh về nhà, tinh thần lão dồn vào cả gói bánh.

+ Nhìn con “ăn thuốc”, vợ chồng lão Hoa Thuyên tràn ngập niềm hi vọng.

→ tin tưởng.

- Mọi người trong quán trà (bác Cả Khang): “Cam đoan thế nào cũng khỏi” → tin tưởng.

=> Đây là câu chuyện mua thuốc, bán thuốc và uống thuốc – một phương thuốc cổ quái, tanh mùi máu của người Trung Quốc mê tín và lạc hậu → TẦNG NGHĨA 1.
b. Kết quả của phương thuốc:
cùng một lúc nó giết chết cả hai mạng người là Hoa Thuyên và Hạ Du.

Qua đây Lỗ Tấn đã cảnh tỉnh: phương thuốc này là thuốc độc, (mọi người phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh xưa nay vốn là thuốc độc) → TẦNG NGHĨA 2.


c. Hình tượng người cách mạng Hạ Du:

xuất hiện gián tiếp

- Qua hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu đỏ tươi: người ta lấy máu của Hạ Du để chữa bệnh (“chiếc bánh bao nhuốm máu, đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt, từng giọt”, khi nướng lên thì “một mùi thơm quái lạ tràn ngập quán trà”, bé Thuyên “cầm lấy cái vật đen thui” “mới thấy đó là hai nửa miếng bánh bao bằng bột mì trắng. Không bao lâu chiếc bánh đã nằm gọn trong bụng, mùi vị như thế nào cũng đã quên rồi”).

- Qua câu chuyện của những người trong quán trà:

+ Mọi người gọi Hạ Du là “thằng quỷ sứ”, “thằng khốn nạn”, là “điên”, là “giặc”.

+ Ông chú Hạ Du bán đứng cháu để được thưởng 20 lạng bạc trắng xóa.

- Qua hình ảnh nấm mộ có vòng hoa ở ngoài nghĩa địa: mẹ Hạ Du thì xấu hổ và sau đó lại kêu oan.

→ Hạ Du là một chiến sĩ cách mạng tiên phong có lí tưởng, dũng cảm, hiên ngang nhưng xa rời quần chúng và đã hi sinh một cách vô nghĩa.


=> Hãy tìm một phương thuốc để chữa căn bệnh mê muội của quần chúng và căn bệnh xa rời quần chúng của những chiến sĩ cách mạng tiên phong → TẦNG NGHĨA 3.




Không ghi bảng ý ở dấu ngoặc đơn.

Không ghi bảng ý ở dấu ngoặc đơn.

Không GB ý ở dấu ngoặc đơn.




* Dặn dò:

- Nắm nội dung bài học.

- Tiết sau học nội dung còn lại: Nghĩa địa và vòng hoa trên mộ Hạ Du.

* Rút kinh nghiệm giờ dạy:

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..


Tiết 77: (Đọc văn) THUỐC

Lỗ Tấn
Ngày soạn: ………………..

Ngày dạy: …………………

A. Mục tiêu: Giúp học sinh

- Hiểu được “Thuốc” là hồi chuông cảnh báo về căn bệnh mê muội của người Trung Hoa đầu thế kỉ XX, nhà văn bày tỏ niềm tin vào tương lai: nhân dân sẽ thức tỉnh, hiểu được cách mạng và bước theo cách mạng.

- Hiểu được cách viết cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng của Lỗ Tấn.

B. Phương pháp – phương tiện:

- Phương pháp:

+ Phương pháp phát vấn nêu câu hỏi để học sinh làm việc, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy.

+ Phương pháp phân tích kết hợp với bình giảng.

- Phương tiện: SGK, SGV, Chuẩn KT – KN, giáo án, máy tính, projector...

C. Tiến trình dạy học:

* Kiểm tra bài cũ: 1. Trình bày vài nét về tác giả Lỗ Tấn? Trước khi trở thành nhà văn Lỗ Tấn đã từng học qua mấy nghề, vì lí do gì ông chuyển sang làm văn nghệ?

2. Trình bày những tầng nghĩa của “Thuốc”?



1. Hoạt động nhập cảm:

2. Thiết kế bài dạy học:

Hoạt động của GV và HS

Nội dung cần đạt

Ghi chú

Hoạt động 1: Tìm hiểu chung

Hoạt động 2: Đọc hiểu văn bản

- Thao tác 1: Những tầng nghĩa của “Thuốc”

- Thao tác 2: Hình ảnh nghĩa địa và vòng hoa trên mộ Hạ Du.



- Thao tác 2a: Hình ảnh nghĩa địa

• GV đọc: “Miếng đất … ngày mừng thọ”.

+ CH: Chi tiết “mộ của những người chết chém hoặc chết tù ở về phía tay trái, mộ của những người nghèo ở về phía tay phải” có ý nghĩa gì?

 HS: Trả lời.


+ CH: Chi tiết “con đường mòn” biểu tượng cho điều gì?

 HS: Trả lời.

+ CH: Chi tiết “mộ dày khít … như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ” có ý nghĩa gì?

 HS: Trả lời



- Thao tác 2b: Hình ảnh “vòng hoa trên mộ Hạ Du”.

+ CH: Khi thấy vòng hoa trên mộ con mình, mẹ Hạ Du lặp lui lặp tới câu hỏi: “Thế này là thế nào?”. Theo em, câu hỏi này mang ý nghĩa gì?

 HS: Trả lời.

GV chuyển ý: Trong truyện “Thuốc”, người đọc không thể không nhớ đến chi tiết “vòng hoa trên mộ Hạ Du”.

+ CH: Theo em “vòng hoa trên mộ Hạ Du” có ý nghĩa gì?

 HS: Trả lời.

Thảo luận nhóm (2 HS một nhóm, thời gian 3 phút): Nhận xét sự vận động của thời gian nghệ thuật ở “Thuốc”? Sự vận động đó nói lên điều gì?

 HS: Trình bày.

GV bổ sung: Ngoài hình ảnh “vòng hoa trên mộ Hạ Du” thì niềm tin của Lỗ Tấn vào tiền đồ của cách mạng còn được thể hiện qua sự tiến triển của thời gian nghệ thuật. Hai cảnh đầu diễn ra vào mùa thu, cảnh sau diễn ra vào mùa xuân. Theo Kim Thánh Thán, thu là buổi chiều của năm, là sự thu vén để kết thúc. Mùa thu, lá vàng rơi để tích nhựa qua đông, đón xuân đâm chồi nảy lộc. Thu cũng là mùa trảm quyết chấm hết thời gian năm đó của tử tù. Cái chết của hai người con, một người bị chém chết, một người bị bệnh chết, cũng như hai chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng, cũng giống như sự gieo mầm. Đến mùa Thanh Minh, hai bà mẹ xa lạ với nhau đã bước qua con đường mòn để tìm đến nhau.

Hoạt động 3: Tổng kết

- Thao tác 1: Nội dung

+ CH: Nêu giá trị nội dung của đoạn trích?

 HS: Trả lời.
- Thao tác 2: Nghệ thuật

+ CH: Nêu giá trị nghệ thuật của tác phẩm?

 HS: Trả lời.
 GV chiếu sơ đồ tư duy.

Hoạt động 3: Củng cố

+ CH: Với bài học này em cần nắm vững điều gì?

 HS: Hình ảnh nghĩa địa và vòng hoa trên mộ Hạ Du.

 GV khái quát lại nội dung của bài học (hai tiết 76, 77: “Thuốc” của Lỗ Tấn) bằng sơ đồ tư duy (xem sơ đồ tư duy ở trang 10).



I. Tìm hiểu chung

II. Đọc hiểu văn bản

1. Những tầng nghĩa của “Thuốc”

2. Hình ảnh nghĩa địa và vòng hoa trên mộ Hạ Du

a. Hình ảnh nghĩa địa

- Mộ của những người chết chém hoặc chết tù ở về phía tay trái, mộ của những người nghèo ở về phía tay phải → không có sự phân biệt giữa người cách mạng hi sinh vì đất nước và kẻ trộm cướp, giết người.

- Con đường mòn → biểu tượng cho định kiến chia rẽ cách mạng và người dân Trung Quốc.

- “Mộ dày khít … như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ” → thực trạng đen tối và tàn bạo của xã hội Trung Quốc.



b. Hình ảnh “vòng hoa trên mộ Hạ Du”

- Câu hỏi của mẹ Hạ Du: “Thế này là thế nào?” có ý nghĩa:

+ Thái độ ngạc nhiên đến mức bàng hoàng, sững sờ.

+ Niềm vui vì có người đã hiểu được việc làm của con mình.

+ Hàm chứa một đòi hỏi phải có câu trả lời.

- Vòng hoa trên mộ Hạ Du: thể hiện

+ Niềm tin của Lỗ Tấn vào tiền đồ cách mạng.

+ Hứa hẹn một sự tiếp bước của thế hệ đi sau.

+ Lòng khâm phục của Lỗ Tấn đối với nhân cách kiên cường của Hạ Du.

III. Tổng kết

1. Nội dung: Qua câu chuyện chiếc bánh bao tẩm máu người, Lỗ Tấn đã nói lên sự tê liệt của quần chúng và bi kịch của những người cách mạng tiên phong. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề: phải có một phương thuốc chữa chạy bệnh tê liệt đớn hèn của dân tộc Trung Quốc.

2. Nghệ thuật

- Cốt truyện súc tích, dung dị.

- Hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng.

- Chi tiết chọn lọc, cô đúc.







* Dặn dò:

- Nắm bài học.

- Soạn bài mới: “Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận”.

* Rút kinh nghiệm giờ dạy:

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..




Phần III. KẾT LUẬN


Như vậy, chúng tôi, trong sáng kiến của mình đã thực hiện được một số vấn đề cơ bản:

Thứ nhất, đã trình bày một cách vắn tắt nhưng khá đầy đủ về phương pháp dạy học bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy trên phương diện lý thuyết – phương pháp luận.

Thứ hai, đã chứng minh rằng việc dạy học sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy có thể áp dụng khá hiệu quả và phù hợp vào dạy học Ngữ văn cấp Trung học phổ thông, từ mức độ khái quát đến các hoạt động dạy học cụ thể, từ thao tác giới thiệu bài cho đến củng cố, khắc sâu kiến thức.

Thứ ba, đã minh họa cụ thể bằng giáo án có sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học với bài học cụ thể để chứng minh rằng hoàn toàn có thể áp dụng hiệu quả phương pháp này trong thực tế.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, để thực hiện đúng sứ mệnh cao cả của công tác “trồng người”, cần áp dụng sáng tạo tất cả các phương pháp dạy học, từ truyền thống đến hiện đại, bởi vì thước đo của hoạt động giáo dục không phải ở việc làm mới hay làm khác để khẳng định cái tôi khác biệt của người dạy, mà hiệu quả giáo dục, nâng cao chất lượng cho học sinh mới là điều quan trọng nhất.

Do vậy, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn cấp Trung học phổ thông mà chúng tôi vừa trình bày cũng chỉ là cánh cửa hẹp dẫn vào vườn tri thức, bởi sẽ có nhiều cánh cửa khác cũng diệu kì không kém. Thế nên chúng tôi không xem đây là phương pháp cần và có thể áp dụng cho mọi bài dạy và hoạt động dạy học. Không nên vận dụng thái quá bất kì một phương pháp nào, bởi thế sẽ buộc phương pháp đó bộc lộ những hạn chế không mong muốn.

Nhưng người viết sáng kiến kinh nghiệm này cũng mong muốn những đồng nghiệp đáng kính của mình thử áp dụng phương pháp này đôi lần, biết đâu sẽ thấy được cái hay từ thực tiễn. Đó cũng là niềm hạnh phúc lớn nhất của người viết.

Cuối cùng, do khả năng còn hạn chế nên người viết khó lòng tránh khỏi các sai sót, nên người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và quý bạn đọc để sáng kiến được hoàn thiện hơn.



D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục năm 2006.

2. Sách Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục năm 2008.

3. Mạng Internet (Trang Wikipedia. org, mục “Sơ đồ tư duy”).

4. Phần mềm Imindmap 6.0

E. PHỤ LỤC

Người viết xin đưa vào phụ lục phần hướng dẫn cài đặt phần mềm vẽ sơ đồ tư duy Imind map 6.0 để bạn đọc dễ dàng cài đặt (Phần mềm người viết xin kèm theo ở đĩa mềm)



Lưu ý: Phần hướng dẫn cài đặt này không phải của tác giả sáng kiến mà được lấy từ mạng internet (ở các trang cho phép người đọc tham khảo mà không phải mua hay xin phép bản quyền).

CÁCH CÀI ĐẶT IMINDMAP 6

BƯỚC 1: Cài NET Framework 3.5 nếu là WIN XP (WIN 7 thì không cần)

BƯỚC 2: Cài Imindmap 6.0.1 vào máy --> chạy chương trình --> chọn Trial --> Thoát khỏi chương trình.

BƯỚC 3: Xóa 3 file


1. C:\Program Files\ThinkBuzan\iMindMap 6\bin\laucher.jar
2. C:\Users\All Users\jsoft
3. C:\Users\All Users\thinkbuzan

Tùy theo máy, tuy nhiên, cần thiết phải xóa file laucher.jar

BƯỚC 4: Copy file crack vào C:\Program Files\ThinkBuzan\iMindMap 6 --> Chạy file đó.
Khởi động lại chương trình Imindmap --> Thoát khỏi chương trình lần nữa.
Chạy file crack lại 1 lần nữa.

Có thể chỉ chạy crack một lần là đã được.



CÁCH SỬ DỤNG IMINDMAP 6

Khởi động Mind Map 6

Chọn File

Chọn New, chọn Blank Document trong New Mind Map nếu mở trang trắng hoặc chọn mẫu có sẵn trong Select a Template.



Nếu chọn Blank Document, tiếp tục chọn một mẫu hình cho ô trung tâm.

Sau đó bấm Choose

Kích đôi vào Central Idea để đổi tên theo chủ đề chính mình muốn trình bày



Có thể chỉnh sửa Font chữ, màu sắc, … trong hộp công cụ format nhanh

Tiếp tục ta tiến hành vẽ các nhánh. Khi rê chuột vào Central Idea thì sẽ xuất hiện công cụ hỗ trợ vẽ nhánh nhanh. Hình tròn đỏ ở giữa là để vẽ nhánh rẽ, hai hình bên màu gạch để vẽ nhánh hộp.
Để di chuyển các nhanh sau khi vẽ, ta kích và giữ chuột trái vùng xám của nút công cụ

(tại đầu mỗi nhánh khi ta rê chuột đến) lúc đó vùng xám sẽ bao quanh hình tròn, ta sẽ giữ nguyên chuột trái và rê đến nơi cần chuyển đến.

Ta cũng có thể thay đổi màu sắc, kiểu dáng nhánh trong menu Design hoặc trong hộp công cụ nhanh và ta cũng có thể thay đổi font, màu sắc, kích cỡ chữ.

Để thay đổi hình dạng của hộp, ta kích vào ô phía dưới hộp để chọn hình dạng theo ý thích.

Ta cũng có thể thay đổi vị trí của các nhánh bằng cách chọn nhánh cần thy đổi vị trí sau đó kích vào nút Move Up hay Move Down trong Menu Home để thay đổi


Thay đổi hình dạng hộp


Để căn đều các nhánh, ta kích vào nút Clean Up

Để xem dưới dạng khác như 3D, Presentation, ta vào thẻ Document Views và chọn kiểu xem. Với kiểu xem 3D thì tùy theo card màn hình của máy mà có thể có máy không xem được nếu máy cấu hình yếu.

Kiểu xem 3D

Ta có thể thay đổi góc nhìn và hình nền khi chọn các điều khiển ở góc phải

Khi chọn chế độ xem Presentation thì ta sẽ hai sự lựa chọn: Auto Complete and begin presenting (phần mềm sẽ tự động tạo file trình chiếu mặc định) hoặc Create custom presentation (ta sẽ tự tạo cách trình chiếu theo thứ tự mà ta muốn) Theo tôi ta nên chọn theo cách này.

Hiển nhiên ô Central Idea xuất hiện trước, tiếp theo, ta muốn nhánh nào xuất hiện tiếp theo thì ta cứ chọn nó rồi kích vào dấu với cách thiết kế này, ta chủ động hơn trong việc trình chiếu trực tiếp bằng Imindmap.

Để xuất file, nếu để trình chiếu bằng Imindmap thì ta lưu file với định dạng .imx, nếu để xuất file dưới dạng ảnh (để in vào giáo án) hoặc powerpoint t a chọn file\Export



Ta có các lựa chọn (hay sử dụng):

+ PDF and Document: xuất ra dưới dạng file PDF (ít sử dụng)

+ Image: file ảnh để dán vào giáo án (nên để chất lượng cao để ảnh nét hơn- cứ để mặc dịnh theo phần mềm, không cần chỉnh sửa)

+ Interactive Presentation: xuất ra dưới dạng PowerPoint (dạng này, phần mềm tự động trình chiếu, ta không can thiệp được, trừ khi ta vào PowerPoint để chỉnh sửa hoạt hình lại)

Còn các dạng xuất file khác ta ít sử dụng đến

Khi đã chọn dạng xuất file, ta kích vào nút export để phần mềm thực hiện. Riêng khi ta chọn xuất file PowerPoint thì sau khi chọn nơi lưu, phần đặt tên ta phải ghi tên có đuôi là .ppt thì mới được. Sau đó kích save.



Khi sử dụng trình chiếu bằng Imindmap thì ta phải mở trình Imindmap trước, sau đó vào Open và chon file đã lưu (dưới dạng .imx)

Khi trình chiếu bằng PowerPoint, ta copy slide mà phần mềm lưu vào slide bài giảng chúng ta đã soạn thảo.

Với file ảnh thì ta nên chọn lưu dưới dạng .PNG để ảnh rõ hơn và không bị bể hình. Khi dán vào giáo án, ta sử dụng thanh công cụ picture để cắt xén bớt cho gọn.

Với kinh nghiệm và với mắt thẫm mỹ của mỗi người, mong các bạn có một file trình diễn như ý.

MỤC LỤC


Phần I. MỞ ĐẦU 1

1. Lí do chọn đề tài 1

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1

3. Đóng góp của đề tài 2

4. Cấu trúc của đề tài 2

Phần II. NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀ ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC 3

1.1. Khái quát về sơ đồ tư duy 3

1.2. Ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học 4

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 6

CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

2.1. Vận dụng sơ đồ tư duy trong khái quát nội dung bài học 6

2.2. Vận dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động dạy các nội dung trọng tâm của bài học 8

2.3. Vận dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động củng cố kết hợp với phương pháp bài học 1 trang (one page lesson) 9

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG SOẠN GIẢNG MỘT SỐ BÀI HỌC CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11

3.1. Thiết kế giáo án Tiết 64: “Khái quát lịch sử tiếng Việt” - Ngữ


văn 10. 11

3.2. Thiết kế giáo án Tiết 76 - 77: “Thuốc” (Lỗ Tấn) - Ngữ văn 12. 14

Phần III. KẾT LUẬN 24

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 26



E. PHỤ LỤC 27







Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương