Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang9/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Điều 54. Thủ tục bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý

1. Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải tạo cơ hội bỏ phiếu cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý mà vào ngày bầu cử, ngày diễn ra trưng cầu dân ý đang ở ngoài địa hạt của khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý và vì các điều kiện bất lợi (các điều kiện về sức khoẻ tình trạng không đủ khả năng vv.. ) không thể tự đi đến các khu vực bỏ phiếu.

2. Trừ các quy định tại Khoản 6 Điều 53 của Luật này, việc bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu chỉ được thực hiện vào ngày bầu cử và chỉ trên cơ sở văn bản đề nghị hoặc một lời thỉnh cầu miệng (mà có thể được truyền đạt lại qua những người khác) của một cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý về khả năng được thực hiện bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu. Một đơn đề nghị (hoặc lời thỉnh cầu) của một cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý về việc thực hiện bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu có thể được đưa ra vào bất kỳ thời gian nào sau khi Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã được thành lập, tuy nhiên, không muộn hơn thời gian đã được quy định theo Khoản 5 của Điều này. Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải lập ghi lại đơn đề nghị (hoặc lời thỉnh cầu) trong một ghi chép đặc biệt (sổ đăng ký).

3. Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải tạo cơ hội bỏ phiếu cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý mà vào ngày bầu cử, ngày trưng cầu dân ý đang ở tại địa hạt của khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý đó và và vì các điều kiện bất lợi (các điều kiện về sức khoẻ, tình. trạng không đủ khả năng vv.. ) không thể tự đi đến các khu vực bỏ phiếu.

4. Đơn đề nghị được thực hiện bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu phải nêu rõ lý do mà vì thế cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý không thể tới được khu vực bỏ phiếu và phải nêu đầy đủ các dữ liệu về cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý giống như đã được bao gồm trong danh sách các cử tri những người tham gia cuộc trưng cầu dân ý.

5. Một Hiến pháp liên bang, pháp luật liên bang, pháp luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga và, đối với một cuộc trưng cầu dân ý địa phương, cũng như một Hiến chương riêng của khu vực phải quy định thời hạn của việc tiếp nhận các đơn đề nghị (các lời thỉnh cầu) đề cập trên đây trong ngày bỏ phiếu, thời hạn này phải được quy định sao cho không muộn hơn 4 giờ trước khi kết thúc bỏ phiếu.

6. Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải có một số các hòm phiếu lưu động theo yêu cầu, mà phải được xác định, tuy nhiên không nhiều hơn ba theo quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên.

7. Các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý cùng với hòm phiếu lưu động để đáp ứng các yêu cầu phải nhận các phiếu bầu, các phiếu bỏ cho các cuộc trưng cầu dân ý và ký nhận. Bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu phải được tiến hành bởi ít nhất hai Uỷ viên của uỷ ban bầu cử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý, những người mang theo một hòm phiếu lưu động đã được bịt kín từ trước tại Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý và số phiếu bầu yêu cầu, số phiếu yêu cầu bỏ cho cuộc trưng cầu dân ý của dạng đã được thiết lập, phần trích ra đã được xác nhận từ danh sách cử tri, danh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý quy định tại Khoản 2 của điều này bao gồm các dữ liệu cần thiết về cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý và đơn đề nghị (lời thỉnh cầu) đã được đưa ra về việc thực hiện bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu cũng như các công cụ ghi chép cần thiết để cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý có thể hoàn thành phiếu bầu, phiếu bỏ cho cuộc trưng cầu dân ý.

8. Bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu phải được thực hiện theo các quy định của Điều 52 của Luật này.

9. Trong đơn đề nghị về việc bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu một cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải nêu rõ loại và số của hộ chiếu hoặc thẻ căn cước của mình và xác nhận bằng chữ ký của người đó trên phiếu bầu để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý. Các Uỷ viên của Uỷ ban phải xác nhận việc phát ra của một phiếu bầu để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý bằng cách ký tên trên đơn đề nghị. Các lưu ý cũng phải được ghi nhận trên tờ đơn đề nghị nêu rõ việc nhận một phiếu bầu thay thế cho một phiếu bầu khác đã bị làm hỏng và trong trường hợp một cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý nhận hai hay nhiều hơn nữa các phiếu bầu (có tính đến các loại và các cấp của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý) trong tổng số các phiếu bầu nhận được.

10. Các Uỷ viên của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý, đi đến chỗ các cử tri, những người tham gia một cuộc trung cầu dân ý để đáp lại các đơn đề nghị (hoặc những lời thỉnh cầu) chỉ phát hành các phiếu bầu để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý mà các đơn đề nghị (hoặc lời thỉnh cầu) của những người này đã được ghi chép tại sổ đăng ký theo quy định tại Khoản 2 của Điều này.

11. Loại và số hộ chiếu hoặc thẻ căn cước của một cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý tiến hành bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu phải được điền vào danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý bởi các Uỷ viên bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã đi tới chỗ các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý để đáp ứng các đơn đề nghị (hoặc lời thỉnh cầu) đồng thời, ghi chú “Đã bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu” phải được ghi tại một (các) cột tương ứng trong danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý.

12. Khi việc bỏ phiếu được tiến hành ngoài khu vực bỏ phiếu, các uỷ viên không bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử, những quan sát viên phải có mặt tại địa điểm bỏ phiếu. Trong trường hợp này, một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải các tạo điều kiện công bằng để đi tới địa điểm bỏ phiếu cho các Uỷ viên bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý được cử tới để thực hiện bỏ phiếu và cho khống ít hơn hai Uỷ viên không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, những quan sát viên do các ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử chỉ định. Việc bỏ phiếu ngời khu vực bỏ phiếu phải được tổ chức sao cho ngăn chặn được bất kỳ sự vi phạm nào tới các quyền bầu cử của các cử tri, quyền tham gia vào một cuộc trưng cầu dân ý của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý và làm sai lệch ý chí quyết định của một cử tri và một người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý.

13. Trong trường hợp một cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã nộp đơn đề nghị (hoặc đưa ra lời thỉnh cầu) về việc bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu trở về khu vực bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý để tham gia bỏ phiếu, sau khi các Uỷ viên Uỷ ban bầu cử rời đi để tới chỗ của người này để phục vụ việc bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu, thông tin viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý không có quyền phát cho người này một phiếu bầu, phiếu bỏ cho cuộc trưng cầu dân ý trong khu vực bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực cho tới khi các Uỷ viên Uỷ ban bầu cử cùng với các hòm phiếu lưu động đã rời đi để phục vụ cho yêu cầu trong đơn đề nghị (hoặc lời thỉnh cầu) của cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý nêu trên trở lại, và cho tới khi đã chứng minh rõ ràng rằng việc bỏ phiếu ngoài địa điểm bầu cử của cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý nói trên đã không diễn ra.

14. Số đơn đề nghị của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, số phiếu bầu đã được phát hành, sử dụng hoặc trả lại phải được chỉ rõ bằng một ghi chép riêng, đồng thời cũng nêu chi tiết chế dữ liệu về các Uỷ viên không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý và những quan sát viên có mặt trong thủ tục bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu.

ược sứa đổi ngày 30 03/1999)

Điều 55. Biên bản kết quả bỏ phiếu do các Uỷ ban bầu cử khu vực, các Uỷ ban trưng cầu dân ý lập.

1. Một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải lập một biên bản về các kết quả bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu, khu vực trưng cầu dân ý của Uỷ ban đó.

2. Biên bản của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải được lập trên một trang mẫu. Trong các trường hợp đặc biệt, một biên bản cũng có thể được lập trên nhiều hơn một trang, và trong trường hợp này, mỗi trang của biên bản phải được tất cả các Uỷ viên có mặt của Uỷ ban bầu cử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý ký xác nhận. Biên bản kết quả bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải gồm các nội dung sau:

a) Số của biên bản;

b)Tên của cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý, ngày bỏ phiếu;

c) Tiêu đề " Biên bản ";

d) Tên của uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, số của khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý khu vực;

e) các dòng trong biện bản theo thứ tự như sau:

Dòng 1: số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đăng ký trong danh sách;

Dòng 2: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý cầu dân ý mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã nhận

Dòng 3: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý đã được phát cho các cử tri, những người tham gịa một cuộc trung cầu dần ý đã bỏ phiếu sớm; bao gồm một dòng,

Dòng 4: tại khu vực của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý địa hạt (vùng);

Dòng 5: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý bị huỷ.

Dòng 6: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý đã được phát cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý vào ngày bỏ phiếu;

Dòng 7: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý đã phát hành cho các cử tri những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu.

Dòng 8: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý có trọng các hòm phiếu lưu động;

Dòng 9: số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý có trong các hòm phiếu cố định;

Dòng 10: số lượng các phiếu bầu, các phiếu trưng cầu dân ý hợp lệ.

Dòng 11: số lượng các phiếu bầu các phiếu trưng cầu dân ý không hợp lệ; bao gồm các dòng riêng, dòng 12 và dòng 13 số lượng các phiếu bầu bị coi là không hợp lệ theo quy định tại Khoản 14 Điều 56 của Luật này và số lượng các phiếu bầu chưa được đánh dấu;

Dòng 14 và các dòng tiếp theo số lượng các phiếu bầu cho mỗi mục trong nội dung phiếu bầu, bao gồm cả không bầu cho tất cả các ứng cử viên, (các danh sách các ứng cử viên), số lượng các phiếu của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đánh dấu là “chấp nhận” hoặc “phản đối” cho các mục trong nội dung phiếu trưng Nếu một luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của một Chủ thể Liên bang Nga quy định bỏ phiếu trên cơ sở các giấy xác nhận vắng mặt trong các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý, biên bản kết quả bỏ phiếu phải bao gồm các dòng sau.

Dòng 13a: số lượng các giấy xác nhận vắng mặt để tham gia cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã nhận được.

Dòng 13b: số lượng các giấy xác nhận vắng mặt để tham gia cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã phát hành cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý tại địa điểm bỏ phiếu trong khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý trước ngày bầu cử, ngày trưng cầu dân ý;

Dòng 13c: số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu trên cơ sở các giấy xác nhận vắng mặt để tham gia cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý trong cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý tại địa điểm bỏ phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý;

Dòng 13d: số lượng các giấy xác nhận vắng mặt để tham gia cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý đã bị huỷ bỏ caneelled tại địa điểm bỏ phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý;

f) Danh sách các đơn khiếu nại (đơn đề nghị), các ghi nhận hành vi và các tài liệu khác được đính kèm vào biên bản;

g) Họ tên của chủ tịch, phó chủ !ịch, thư ký và các Uỷ viên khác của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý và các chữ ký của những người này.

h) ngày, giờ ký xác nhận biên bản ;

i) dấu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý.

3. Các số lượng được quy định tại Khoản 2 của Điều này phải được ghi vào biên bản kết quả bỏ phiếu bằng số và bằng chữ. Việc đánh số các dòng trong biên bản của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải được quy định bởi Hiến pháp Liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Điều 56. Thủ tục kiểm các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý và lập các biên bản kết quả bỏ phiếu tại các Uỷ ban bầu cử khu vực, các Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực.

1. Các Uỷ viên bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải kiểm công khai các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý.

2. Việc kiểm các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những người tham gia cuộc trưng cầu dân ý phải bắt đầu ngay sau khi thời gian bỏ phiếu kết thúc và phải được thực hiện trên tụ cho tới khi xác định được kết quả bỏ phiếu, kết quả bỏ phiếu này phải được thông báo cho tất cả các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý cũng như các quan sát viên.

3. Sau khi thời gian bỏ phiếu kết thúc, các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý, với sự có mặt của các quan sát viên, những người theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật này phải kiểm và huỷ các phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý chưa sử dụng đến (bằng cách cắt góc trái dưới của lá phiếu), (phải lưu ý để giữ nguyên các ô trống còn nguyên vẹn được bố trí phía bên phải của các lá phiếu về các dữ liệu của các ứng cử viên đã đăng ký, tên của các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử và dòng "Không bầu cho tất cả các ứng cử viên" hoặc "Không bầu cho tất cả các danh sách của các ứng cử viên", hoặc các ô được đặt dưới các từ "chấp nhận" và "phản đối"), công bố số lượng các phiếu chưa được sử dụng và các phiếu do các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý làm hỏng trong quá trình bỏ phiếu và ghi các dữ liệu này vào dòng 5 của biên bản kết quả bỏ phiếu và trong khổ lớn của biên bản này được phóng to để trưng bày tại khu vực bỏ phiếu.

4. Trước khi bắt đầu kiểm các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, các Uỷ viên bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải đánh dấu các dữ liệu tóm tắt sau đây trên mỗi trang của danh sách các cử in, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý:

a) Số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong danh sách;

b) Số lượng các phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý đã được phát cho các cử tri những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý tại điểm bầu cử khu vực trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày bỏ phiếu (được xác định bằng số lượng các chữ ký các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã ký trong danh sách các cử tri , danh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày bỏ).

c) Số lượng các phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý đã được phát cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý ngoài khu vực bỏ phiếu (được xác định bằng số lượng các ghi chú tương ứng trong danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý);

d) số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu sớm;

e) Số lượng các giấy xác nhận vắng mặt bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý đã được Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phát hành cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân tại điểm bỏ phiếu của khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý;

f) Số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu trên cơ sở các giấy xác nhận vắng mặt bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý tại điểm bỏ phiếu của khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý.

5. Sau khi đánh dấu các dữ liệu theo quy định tại Khoản 4, Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã đánh dấu các dữ liệu này phải ký vào mỗi trang của danh sách các cử tri, danh sách những người... tham gia một cuộc tr ưng cầu dân ý, tổng hợp và thông báo các dữ liệu này cho chủ tịch, phó chủ tịch hoặc thư ký của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý và cho những người có mặt khi kiểm phiếu. Trong bảng cuối cùng danh sách các cử tri, danh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, chủ tịch, phó chủ tịch hoặc thư ký của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải. đánh dấu các dữ liệu tóm tắt được xác định từ công tác tổng hợp theo quy định tại Khoản 4 của Điều này và ký xác nhận các dữ liệu này và đóng dấu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý. Sau đó, danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải được những người đã nêu tại Khoản 3 , Điều 26 của Luật này kiểm tra.

6. Chủ tịch, phó chủ tịch hoặc thư ký của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải xác định chắc chắn và công bố các dữ liệu sau đây, và điền các dữ liệu này vào các 1 và 2 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao phóng khổ lớn của biên bản:

a) Số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong danh sách;

b) Số lượng các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những người tham gia trưng cầu dân ý mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã nhận được (các dữ liệu liên quan đến các phiếu được lấy ra từ các phong bì của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu sớm trong các khu vực của một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý địa hạt (vùng) phải bao gồm trong số lượng này).

7. Nếu một luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang. Nga quy định bỏ phiếu trên cơ sở các giấy xác nhận vắng mặt trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý the thì những dữ liệu sau đây phải được điền vào các dòng 13a, 13b, 13c và 13d của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản:

-Số lượng các giấy xác nhận vắng mặt bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý, mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực đã nhận được;

-Số lượng các giấy xác nhận vắng mặt cho cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực đã nhận được;

-Số lượng các giấy xác nhận vắng mặt cho cuộc bầu cử và cho cuộc trưng cầu dân ý mà Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực đã phát hành cho các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý tại điểm bỏ phiếu trong khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý trước ngày bầu cử ngày trưng cầu dân ý;

-Số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu trên cơ sở các giấy xác nhận vắng mặt để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử một cuộc trưng cầu dân ý tại điểm bỏ phiếu của các cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý;

-Số lượng các giấy xác nhận vắng mặt để bỏ phiếu trong che cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý đã bị huỷ bỏ tại điểm bỏ phiếu của khu vực bầu cử khu vực trưng cầu dân ý.

Nếu một luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga quy định về bỏ phiếu lại, thì phải quy định về thử tục đăng ký các giấy xác nhận vắng mặt.

8. Sau đó, những dữ liệu sau đây phải được điền vào các dòng 6 và 7 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản:

-Số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý đã được phát cho các cử trì, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý vào ngày bỏ phiếu; (được xác định bằng số lượng chữ ký các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý);

-Số lượng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý đã phát cho các cử tri những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu (được xác định bằng số lượng các ghi chú tương ứng trong danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý).

9. Sau đó, chủ tịch hoặc thư ký của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải áp dụng các biện pháp để đảm bảo lưu giữ an toàn danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý và những người thực hiện kiểm phiếu không thể tiếp cận được. Công tác khác đối với danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải được tiến hành trước khi các công tác kiểm soát những dữ liệu để điền vào biên bản kết quả bỏ phiếu phải được kiểm đưa theo quy định tại Khoản 24 của Điều này.

10. Việc kiểm trực tiếp các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những nguời tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải do các Uỷ viên bỏ phiếu cửa Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý thực hiện từ các phiếu bầu cử trong các cuộc bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý có trong các hòm phiếu.

11. Các Uỷ viên không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý, các quan sát viên, những người khác theo quy định tại Khoản 1 of Điều 26 của Luật này có thể có mặt khi trực tiếp kiểm các phiếu bầu.

12. Việc kiểm trực tiếp các phiếu bầu cử của các cử tri, phiếu của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải được tiến hành trong các phòng được dành riêng cho mục đích này và được trang bị sao cho các Uy viên bỏ phiếu và không không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có thể tiếp cận dễ dàng. Các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, trừ chủ tịch (phó chủ tịch) và thư ký của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, không được sử dụng bất kỳ dụng cụ viết nào trong quá trình kiểm phiếu. Các hoạt động của eác'uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải có thể hoàn quan sát dược đối với tất cả những người có mặt khi kiểm phiếu.

13. Khi trực tiếp kiểm phiếu, Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải loại ra các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý không theo mẫu phiếu tiêu chuẩn. Các phiếu này không được tính trong quá trình kiểm phiếu.

14. Trước hết, Uỷ ban phải kiểm các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý có trong các hòm phiếu lưu động. Trước khi mở các hòm phiếu lưu động, phải kiểm tra để đảm bảo chắc chắn rằng các dấu niêm phong trên các hờm phiếu còn nguyên vẹn. Công tác kiểm phiếu phải thực hiện sao cho tránh vi phạm nguyên tắc bỏ phiếu tim Số lượng các phiếu theo mẫu tiêu chuẩn được lấy ra từ các hòm phiếu phải được công bố và điền vào dòng 8 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản. Nếu số lượng các phiếu trong hòm phiếu lưu động lớn hơn số lượng các đơn đề nghị của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, trong đó có ghi chú cho thấy số 1ượng các phiếu bầu nhận được, thì tất cả các phiếu trong hòm phiếu này phải bị công bố là vô hiệu bằng một nghị quyết của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực và phải được ghi thành bằng một văn bản tiếng đính kèm theo biên bản kết quả bỏ phiếu. Văn bản này phải nêu rõ họ tên của các Uỷ viên Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã sử dụng hòm phiếu đó để tổ chức việc bỏ phiếu ngoài khu vực bỏ phiếu Theo đó, số lượng che phiếu bị tuyên bố là vô hiệu phải được điền vào dòng 12 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản.

15. Các hòm phiếu cố định chỉ được mở sau khi kiểm tra các dấu niêm phong trên các hòm còn nguyên vẹn.

16. Các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải sắp xếp các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý được lấy ra từ các hòm phiếu lưu động và các hòm phiếu cố định theo các phiếu bầu cử bầu cho mỗi ứng cử viên (hoặc mỗi danh sách của các ứng cử viên) và theo các phiếu bầu cử không bầu cho tất cả các ứng cử viên (hoặc tất cả các danh sách của các ứng cử viên), theo các phiếu trưng cầu dân ý cho các lựa chọn "có" và "không" trong một cuộc trưng cầu dân ý và đồng thời tách ra các phiếu không theo mẫu tiêu chuẩn và các phiếu không hợp lệ. Khi phân loại các phiếu, các uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực phải công bố các đánh dấu của các cử tri, những người. tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trên các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý và cho tất cả những người có mặt khi trực tiếp kiểm phiếu xem các phiếu. Đồng thời, không được công bố nội dung của hai và nhiều phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu dân ý.

17. Nếu một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang nga quy định bỏ phiếu cho nhiều cá nhân ứng cử viên, thì cũng phải quy định về thủ tục phân loại phiếu bầu cử khi các cuộc bầu cử được tổ chức tại các vùng bầu cử, trong trường hợp pháp luật, Uỷ ban bầu cử Trung ương Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga không có các quy định về thủ tục này, tuỳ thuộc vào cấp của các cuộc bầu cử.

18. Nếu số lượng các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu sớm tại các khu vực của một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực, địa hạt (vùng) nhiều hơn một phần trăm tổng số các cử tri những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong đanh sách các cử trứ danh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý của một khu vực' bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý (nhưng không ít hơn 10 cử tri, người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý), Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý theo yêu cầu của Uỷ viên Uỷ ban, quan sát viên bất kỳ phải kiểm riêng các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý được lấy ra từ các phong bì của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu sớm.

Các kết của của việc kiểm phiếu này phải được Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý ghi thành văn bản để đính kèm theo biên bản kết quả bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý trong trường hợp này,các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý được lấy ra từ các phong bì của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu đận ý đã bỏ phiếu sớm đóng gói riêng và đóng dấu xác nhận.

19. Sau đó, các phiếu bầu cử của các cử tri, các phiếu của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải được kiểm theo các phiếu đúng mẫu tiêu chuẩn. Nhiều hơn hai Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải tiến hành kiểm riêng các phiếu bầu cử bầu cho mỗi ứng cử viên, mỗi đanh sách các ứng cử viên, các phiếu trưng cầu dân ý có các lựa chọn "có" và "không". Các dữ liệu kiểm phiếu phải được điền vào dòng 14 và các đồng tiếp theo của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản.

20. Các phiếu không hợp lệ phải được kiểm và tổng hợp riêng. Các phiếu bầu cử các phiếu trưng cầu dân ý phải bị công bố là không hợp lệ nếu qua lá phiếu không thể xác định được sự thể hiện ý chí quyết định của một cử tri, một người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý. Nếu không chắc chắn trong việc công bố một lá phiếu là không hợp lệ, Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải đưa ra quyết định bằng cách biểu quyết và các lý do vô hiệu hoá lá phiếu phải được ghi chú vào mặt sau của lá phiếu. Ghi chú này phải được xác nhận bằng chữ ký của ít nhất 3 Uỷ viên và dấu của Uỷ ban. Số lượng các phiếu không hợp lệ phải được điền vào các dòng 11 và 13 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản.

21. Các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý phải đếm số lượng phiếu bầu cử hợp lệ, phiếu trưng cầu dân ý hợp lệ và phải điền số lượng này vào dòng 10 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản.

22. Các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải đếm số lượng các phiếu theo mẫu tiêu chuẩn trong các hòm phiếu cố định, công bố và điền số lượng này vào dòng 9 của biên bản kết quả bỏ phiếu và bản sao khổ lớn của biên bản.

23. Sau đó, các Uỷ viên không bỏ phiếu của một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, các quan sát viên phải tận mắt kiểm tra các phiếu đã được phân loại dưới sự giám sát của các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý.

24.Tiếp theo, các dữ liệu được điền trong biên bản kết quả bỏ phiếu phải được kiểm tra. Nếu các dữ liệu không trùng khớp, Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải đưa ra quyết định về việc thực hiện kiểm phiếu bổ sung đối với dữ liệu tại tất cả hoặc một số dòng của biên bản kết quả bỏ phiếu, bao gồm kiểm bổ sung các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý.

25. Biên bản kết quả bỏ phiếu phải được lập thành 3 bản và được tất cả các Uỷ viên bỏ phiếu có mặt của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực ký xác nhận, có ghi rõ ngày, giờ ký (giờ, phút).

26. Nếu một số các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý vắng mặt khi lập biên bản kết quả bỏ phiếu, biên bản phải có ghi chú về việc này, nêu rõ lý do vắng mặt. Biên bản kết quả bỏ phiếu được coi là có hiệu lực khi đa số theo quy định các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã ký vào biên bản.

28. Biên bản kết quả bỏ phiếu không được lập bằn bơ bút chì và không được có các sửa chữa. Khi ký vào biên bản, các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý nếu có các ý kiến không thống nhất về nội dung biên bản, có thể ghi thêm các ý kiến không thống nhất vào biên bản và biên bản phải có ghi chép về vấn đề này.

29. Theo yêu cầu của một Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý, một quan sát viên hoặc những người khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật này ngay sau khi ký biên bản kết quả bỏ phiếu, Uỷ ban bầu cử khu vực, ban trưng cầu dân ý phải cung cấp một bản sao biên bản kết quả bỏ phiếu cho những người này hoặc cho phép họ sao chép và phải xác nhận bản sáp đó.

30. Bản đầu tiên của biên bản các kết quả bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực sau khi được tất cả các Uỷ viên bỏ phiếu có mặt của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực ký phải được gửi ngay cho một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên. Các ý kiến không thống nhất của các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu sử khu vực Uỷ ban trưng cầu dân ý khu vực, các khiếu nại (các đơn trình bày).

Uỷ ban bầu cử uỷ ban trưng cầu dân ý nhận được về các vi phạm luật tương ứng Hiến chương riêng của khu vực mà trên cơ sở đó các cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức và các nghị quyết của Uỷ ban bầu cử, Uỷ bản trưng cầu dân ý được đưa ra để giải quyết các khiếu nại (các đơn trình bày) cũng như các văn bản của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải được đính kèm vào bản đầu tiên của biên bản kết quả bỏ phiếu. Các bản sao được chứng thực của các văn bản và các nghị quyết nêu trên của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải được đính kèm vào bản thứ hai của biên bản.

31. Bản thứ hai của biên bản cùng với tài liệu bầu cử và tài liệu liên quan đến công tác chuẩn bị và tổ chức cuộc trưng cầu dân ý theo quy định của Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Hiến chương riêng của khu vực bao gồm các phiếu bầu cử các cuộc bầu cử, các phiếu của một cuộc trưng cầu dân ý cũng như con dấu của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải do thư ký của Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý giữ sau khi được niêm phong đặt trong một phòng được bảo vệ cho tới khi Uỷ ban hoàn thành nhiệm vụ.

32. Bản thứ ba của biến bản phải được đưa ra để công bố rộng rãi tại địa điểm do Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý quyết định.

33. Trong các trường hợp và theo phương thức được Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga quy định, các Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý có thể sử dụng các thiết bị kỹ thuật để kiểm các phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý bao gồm máy quét các phiếu của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý. Kết quả bỏ phiếu được xác định với trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật này phải được coi như các thông tin ban đầu và không có giá trị pháp lý, trừ trường hợp có quy định khác của Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

34. Khi sử đụng các thiết bị kỹ thuật để kiểm phiếu, các dữ liệu kiểm phiếu không được tiết lộ cho tới khi kết thúc bỏ phiếu tại các điểm bỏ phiếu của các cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý, trừ các dữ liệu về tổng số các cử tri đã tham gia bỏ phiếu.

35. Các dữ liệu được ghi trong biên bản kết quả bỏ phiếu phải được chuyển trên các kênh thông tin liên lạc kỹ thuật dưới hình thức điện tử (bằng cácthiết bị của hệ thống thông tin tự động hoá quốc gia hoặc hệ thống kỹ thuật bất kỳ khác) cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên. Theo đó, một yêu cầu bắt buộc là bản đầu tiên của biên bản kết quả bỏ phiếu và tất cả các tài liệu bầu cử, các tài liệu liên quan đến một cuộc trưng cầu dân ý bao gồm các phiếu bầu cử, các phiếu trưng cầu dân ý phải được chuyển giao cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên trực tiếp hoặc thông qua bộ phận ngoại giao và lãnh sự của Liên bang Nga hoặc theo một phương cách khác đảm bảo việc bảo quản và chuyển giao an toàn các tài liệu bầu cử, các tài liệu liên quan của một cuộc trưng cầu dân ý.

36. Thủ tục sử dụng một hệ thống kỹ thuật để truyền các thông tin liên quan đến các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý, cách thức và thời gian truyền quy trình và sử dụng các thông tin này, bao gồm cả các dữ liệu của biên bản kết quả bỏ phiếu được truyền trên các kênh thông tin liên lạc kỹ thuật được hình thức điện tử phải được Uỷ ban bầu cử .Trung ương Liên Bang Nga phê duyệt.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Điều 57. Xử lý các kết quả bỏ phiếu của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý vùng, địa hạt, các Uỷ ban bầu cử của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử Trung ương Liên bang Nga.

1. Các bản đầu tiên của các biên bản kết quả bỏ phiếu của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý của các khu vực, các địa hạt, các vùng, các uỷ ban bầu cử của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga, ngay sau khi được các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý ký xác nhận, phải được nộp cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trừng cầu dân ý cấp trên trực tiếp, bao gồm uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý sẽ xác định các kết quả của các cuộc bầu cử cuộc trưng cầu dân ý tương ứng.

2. Để kiểm tra sơ bộ các biên bản kết quả bỏ phiếu để đảm các biên bản đã được lập đúng, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên phải tổng hợp dữ liệu của các biên bản để xác định kết quả bỏ phiếu tại địa hạt, vùng, Chủ thể thuộc Liên bang Nga. Các Uỷ viên của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên phải trực tiếp tổng hợp các dữ liệu được bao gồm trong các biên bản của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới.

3. Trên cơ sở kết quả bỏ phiếu, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên phải lập một biên bản để ghi lại các dữ liệu liên quan đến số lượng của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới trực tiếp tại địa hạt,... vùng, Chủ thể: thuộc Liên bang Nga, số lượng các biên bản kết quả bỏ phiếu đã nhận được từ các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới trực tiếp và trên cơ sở các biên bản này, phải lập một biên bản kết quả số phiếu tổng hợp dữ liệu từ các dòng của các biên bản của các Uỷ ban bầu cử khu vực, các Uỷ ban trưng cầu dân ý theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 của Luật này.

4. Các biên bản của tất cả các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý được nêu tại Khoản 1 của Điều này phải được lập thành 3 bản và được tất cả các Uỷ viên bỏ phiếu có mặt của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý ký xác nhận. Đính kèm theo các biên bản phải là một bảng tóm tắt, gồm ba bản của các dữ liệu về phiếu bầu của địa hạt, vùng, Chủ thề của Liên Bang Nga, Liên Bang Nga bao gồm đầy đủ dữ liệu của tất cả các biên bản kết quả bỏ phiếu đã nhận được từ Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý nêu trên. Mỗi Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý nếu có ý kiến không thống nhất về toàn bộ hoặc một số phần của nội dung biên bản có thể đính kèm ý kiến không thống nhất của người này vào biên bản, trong trường hợp này hoặc parts thereof may attach his/her dissenting opinion to the biên bản; trong trường hợp này, biên bản cũng phải gồm ghi chép về sự việc đó.

5. Sau khi ký xác nhận bản đầu tiên của biên bản, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải gửi ngay cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên trực tiếp, cùng với bản đầu tiên của bảng tóm tắt kết quả bỏ phiếu.

6. Bản thứ hai của biên bản, cùng với bản thứ hai của bảng tóm tắt kết quả bỏ phiếu và các danh sách của các Uỷ viên không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử Uỷ ban trưng cầu dân ý đã lập ra biên bản, các quan sát viên, những người khác theo quy đính tại Khoản 1 Điều 26 của Luật này, những người đã có mặt khi xác định kết quả bỏ phiếu và lập các biên bản, cùng với các tài liệu khác theo quy định của Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Hiến chương riêng của khu vực, phải được thư ký của Uỷ ban nêu trên lưu giữ trong một phòng được bảo vệ.

7. Bản sao thứ ba của biên bản, cùng với bản sao thứ ba của bảng tóm tắt kết quả bỏ phiếu phải luôn sẵn có phục vụ cho mục đích kiểm tra và sao chép cho các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã lập ra biên bản .này và cho các Uỷ viên không bỏ phiếu của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên, các quan sát viên, và những người khác thẻo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật này.

8. Nếu, sau khi biên bản kết quả bỏ phiếu và/hoặc Bản tóm tắt đã được ký và các bản đầu tiên đã được gửi tới Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã gửi biên bản, bảng tóm tắt bị phát hiện một điểm không chính xác (viết nhầm, lỗi in, hoặc sai sót trong quá trình tổng hợp dữ liệu của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới) phải xem xét, tại cuộc họp của Uỷ ban này, đề nghị chỉnh sửa biên bản và/ hoặc bảng tóm tắt. Uỷ ban đồng thời cũng phải thông báo quyết định này cho các Uỷ viên không bỏ phiếu của Uỷ viên, các quan sát viên và những người khác đã có mặt khi lập biên bản đã được thông qua lần trước và cho cả đại diện của các phương tiện thông tin đại chúng. Trong trường hợp này, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải lập một biên bản kết quả bỏ phiếu, có ghi chú "Đã cập nhật". Biên bản này phải được gửi ngay cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên.

9. Khi phát hiện các lỗi, các điểm mâu thuẫn trong nội dung các biên bản kết quả bỏ phiếu và/hoặc bảng tóm tắt kết quả bỏ phiếu và khi có các nghi ngờ về tính chính xác của các biên bản và/hoặc các bảng tóm tắt nhận được từ Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên có thể quyết định rằng Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới phải kiểm lại các phiếu bầu của các cử tri, của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý hoặc Uỷ ban nêu trên tự kiểm lại các phiếu bầu của các cử tri, của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý, trong địa hạt tương ứng. Các phiếu bầu của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải được kiểm lại, với sự có mặt của một Uỷ viên bỏ phiếu các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban. bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên, bởi chính Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã lập ra và thông qua biên bản này với mục đích, hoặc bởi Uỷ ban đã quyết định rằng các phiếu bầu của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải được kiểm lại. Uỷ ban bầu cử, uỷ ban trưng cầu dân ý tiến hành kiểm lại các phiếu bầu của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phải thông báo về việc kiểm phiếu lại cho các Uỷ viên không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý nêu trên, các quan sát viên, các ứng cử viên, những người khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật này mà có quyền có mặt tại nơi kiểm lại các phiếu bầu của các cử tri các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý. Trên cơ sở các kết quả kiểm lại các phiếu bầu của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, Uỷ ban bầu cử Uỷ ban trưng cầu dân ý đã tiến hành kiểm phiếu lại phải lập một biên bản kết quả bỏ phiếu, với ghi chú "Kiểm phiếu lại". Biên bản này phải được gửi ngay cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương