Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang7/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Điều 45. Lợi dụng quyền vận động bầu cử

1.Các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải theo dõi chặt chẽ thủ tục thành lập của các chiến dịch vận động trong suất quá trình bầu cử và trưng cầu dân ý.

2. Trong việc tổ chức chiến dịch vận động, cấm lợi dụng quyền tự do của các phương tiện thông tin đại chúng để: tuyên truyền phân biệt đối xử, gây thù hận về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo, kêu gọi nắm quyền lực, thay đổi mạnh mẽ hệ thống hiến pháp và kêu gọi ly khai tiểu bang, cũng như việc kích động chiến tranh và các hình thức lợi dụng khác.

3. Các ứng cử viên, ứng cử viên đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, khối sáng lập trưng cầu dân ý, các đại diện của họ và các tổ chức khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chiến dịch tranh cử và trưng cầu dân ý không được mua chuộc cử tri bằng các hình thức sau đây: phát tiền, quà và các tài sản hữu hình khác ngoài phạm vi các công việc của mình (tham gia tại các địa điểm bỏ phiếu, thu thập chữ ký và các hoạt động tuyên tuyền khác) trả công cho các cử tri đã tổ chức thực hiện các công việc nêu trên khi bỏ phiếu lại, bán hàng hạ giá, phân phối hàng miễn phí in kèm các biểu tượng, dấu hiệu đặc trưng của chiến dịch vận động, chuẩn bị và tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý và đưa ra các dịch vụ miễn phí hoặc hạ giá, Trong chiến dịch vận động tranh cử các ứng cử viên đã đăng ký, các hiệp hội tranh cử khối tranh cử, khối sáng lập trưng cầu dân ý và đại diện của họ hoặc những người, tổ chức có liên quan khác không được tác động đến cử tri, các đối tượng tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý thông qua việc hứa cho tiền, các giấy tờ có giá (kể cả trong việc bỏ phiếu lại) và các lợi ích vật chất hoặc cung cấp các dịch vụ khác không theo quy định của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan chính quyền tự trị địa phương căn cứ theo quy định của các luật liên bang, luật của các chủ thể Liên bang Nga và các văn bản quy phạm pháp luật khác.

4. Các ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đã đề cử hoặc đăng ký các danh sách các ứng cử viên và hoặc các cá nhân ứng cử viên độc lập hoặc là thành viên trong khối tranh cử đã đề cử các danh sách các ứng cử viên đó, các đơn vị và các đại diện được Uỷ quyền của các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, đơn vị của ứng cử viên đã đăng ký, thành viên và đại diện được Uỷ quyền của khối sáng lập trưng cầu dân ý, các tổ chức được thành lập, thuộc sở hữu hay chịu sự quản lý của các cá nhân, tổ chức nói trên, hoặc là các cơ quan mà cá nhân, tổ chức này là đơn vị thành viên cũng như các cá nhân và pháp nhân đã từng hoạt động theo yêu cầu của những người và tổ chức này không được tổ chức các hoạt động từ thiện trong chiến dịch vận động bầu cử hoặc trưng cầu dân ý. Các cá nhân và tổ chức nói trên bị cấm trong việc cung cấp tiền, tài sản hoặc dịch vụ cho các cử tri; những người tham gia trưng cầu dân ý và các tổ chức có liên quan trong khu vực bỏ phiếu, khu vực trưng cầu dân ý. Các cá nhân và pháp nhân bị cấm tổ chức các hoạt động từ thiện nhân danh hoặc dưới sự tài trợ của các ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, khối sáng lập trưng cầu dân ý các đơn , vị và đại diện của những người nói trên.

5. Trong thời gian chiến dịch vận động tranh cử và vần động trưng cầu dân ý, hoạt động thương mại và các hoạt động khác của các ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, đơn vị và đại diện được Uỷ quyền của các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, đơn vị của ứng cử viên đã đăng ký, thành viên và đại diện được Uỷ quyền của khối sáng lập trưng cầu dân ý, các tổ chức được thành lập, thuộc sở hữu hay chịu sự quản lý của các cá nhân, tổ chức này hoặc là các cơ quan mà cá nhân, tổ chức này là đơn vị thành viên phải được công bố rộng rãi theo điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 39 và Khoản 3 Điều 41 của Luật liên bang này. Không tiến hành việc công bố này vào ngày bỏ phiếu và ngày trước ngày bỏ phiếu.

6. Trong quá trình vận động tranh cử, các chương trình trên các kênh truyền hình và hoặc truyền và các toà soạn thanh quy định tại Khoản 1 Điều 39 của Luật liên bang này không được công bố các thông tin ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của các ứng cử viên đã đăng ký. Nếu đã công bố thì không được từ chối cơ hội để các ứng cử viên đã đăng ký phản đối hoặc làm sáng tỏ các thông tin không đúng có liên quan đến danh dự, nhân phẩm của họ trước khi hết thời hạn tuyên truyền tranh cử. Việc các tố chức truyền hình, truyền thanh và các toà soạn quy định tại Khoản 1 Điều 39 của Luật này đã công bố các thông tin ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của các ứng cử viên nói trên và từ chối cơ hội cho các ứng cử viên tiếp xúc dư luận để đưa ra các bằng chứng bảo vệ danh dự, nhân phẩm của họ trước khi hết thời hạn tuyên truyền vận động tranh cử sẽ bị xử lý theo quy định của luật Liên bang Nga.

7. Trong trường hợp ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này, Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm và các cơ quan cá nhân và tổ chức khác quy định tại Khoản 4 Điều 63 của Luật này có thể đề nghị Toà án huỷ việc đăng ký của ứng cử viên (danh sách các ứng cử viên). Nếu mỗi ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, khối sáng lập trưng cầu dân ý vi phạm các quy định về tuyên tuyền bầu cử và tuyên truyền trưng cầu dân ý theo quy định từ Điều 37 đến Điều 45 của Luật liên bang này, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải có văn bản cảnh cáo ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử, khối sáng lập t rưng cầu dân ý đó hoặc phải đề nghị các cơ quan hành pháp hoặc các cơ quan khác có biện pháp chấm dứt các hành vi tuyên truyền trái phép đồng thời, Uỷ ban bầu cử có thể huỷ bỏ việc đăng ký của ứng cử viên (danh sách các ứng cử viên). Cách giải quyết tương ứng của Uỷ ban bầu cử phải được đưa ra thông báo cho các phương tiện thông tin đại chúng.

8. Các cơ quan hành pháp phải áp dụng các biện pháp để chấm dứt các hoạt động tuyên tuyền trái phép, ngăn chặn việc in ấn, sản xuất các ấn phẩm băng đĩa không được phép và tịch thu các tài liệu trái phép, xác minh các tổ chức đã sản xuất các tài liệu, do ai cấp kinh phí và phải thông tin kịp thời các vấn đề liên quan cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng về các biện pháp đã được áp dụng.

9. Nếu tổ chức phát thanh, truyền hình và toà soạn báo vi phạm các quy định của Luật liên bang này, luật Hiến pháp liên bang, các luật khác của liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có liên quan có thể đề nghị các cơ quan hành pháp, toà án, các cơ quan có chức năng thực hiện chính sách của Nhà nước đối với các phương tiện thông tin đại chúng để yêu cầu các biện pháp áp dụng chấm dứt việc vi phạm và áp dụng các chế tài xử lý tổ chức phát thanh, truyền hình và toà soạn báo đó theo quy định của luật Liên bang Nga.



(Được sửa đổi ngày 30/03//999)

CHƯƠNG VII. QUỸ DÀNH CHO CÁC CUỘC BẦU CỬ VÀ TRƯNG CẦU DÂN Ý

Điều 46: ủng hộ tài chính cho việc chuẩn bị và thực hiện các cuộc bầu cử

1. Các khoản chi của Uỷ ban bầu cử để chuẩn bị và tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp tương ứng trong Liên bang Nga phải được thanh toán từ các quỹ được phân bổ từ ngân phù hợp ngân sách liên bang, ngân sách của một chủ thể thuộc Liên bang Nga, ngân sách địa phương).

2. Một cuộc trưng cầu dân ý của Liên bang Nga phải được cấp vốn từ ngân sách liên bang, các cuộc trưng cầu dân ý khác, từ các ngân sách của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga và các ngân sách địa phương, trừ các trường hợp các luật liên bang và luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga có các quy định khác. Luật Liên bang này áp dụng cho việc cấp vốn cho một cuộc trưng cầu dân ý, thậm chí bao gồm cả cấp vốn cho tổ chức và các hoạt động của các Uỷ ban trưng cầu dân ý.

3. Các khoản chi của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý phải được ghi nhận bằng một mục riêng biệt trong ngân sách tương ứng.

4. Trong trường hợp các cuộc bầu cử, các cuộc trung cầu dân ý không được cấp vốn từ ngân sách tương ứng hoặc trong trường hợp có 3 trì hoãn trong việc chuyển vốn cho các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý do Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang .Nga chỉ định để giám sát các hoạt động của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới có liên quan tới công tác chuẩn bị và thực hiện cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý tương ứng, các khoản chi nêu trên phải được cấp vốn từ các khoản tín dụng ngân hàng hoặc các thể chế tín dụng khác được cấp cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý trên một cơ sở cạnh tranh. Trong trường hợp này, các khoản cấp vốn có thể được cho phép không vượt quá tổng giá trị đã được nêu trong báo cáo của Uỷ ban bầu cử cấp tương ứng về việc chi tiêu các khoản quỹ trong công tác chuẩn bị và tổ chức các cuộc bầu cử tương tự trước đây, có tính đến các thay đổi của mức lương tối thiểu do luật liên bang quy định. Trong vòng 10 ngày kề từ ngày nhận được một đề nghị của một Uỷ ban bầu cử, một Uỷ ban trưng cầu dân ý, Chính phủ Liên bang Nga, cơ quan quyền lực tương ứng của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, một cơ quan được Uỷ quyền của chính quyền tự trị địa phương phải cung cấp một văn bản về bảo lãnh của chính quyền để đáp ứng cam kết việc thanh 'toán các khoản tín dụng, bao gồm thanh toán cả lãi suất.

5. Các khoản tín dụng đã nhận và các khoản lãi suất phải được thanh toán trả lại từ vốn ngân sách liên bang, ngân sách của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, ngân sách địa phương theo cấp tương ứng của các cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý. Các khoản phân bổ để đáp ứng cam kết về các khoản vay nợ này phải được phê chuẩn bởi một luật hoặc một số văn bản luật định khác về ngân sách cho năm tài chính tiếp theo, có ghi rõ mục đích của các khoản phân bổ.

6. Các báo cáo tài chính của Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga, các Uỷ ban bầu cử của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga, các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý địa hạt về các khoản quỹ trong suốt quá trình cuộc bầu cử và cuộc trưng cầu dân ý phải được nộp cho Văn phòng Quốc hội của.

Liên bang Nga, các cơ quan lập pháp (cơ quan đại diện) của quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga, các cơ quan đại diện của chính quyền tự trị địa phương tương ứng. Các chủ tịch của các Uỷ ban bầu cử, các. Uỷ ban trưng cầu dân ý phải kiểm soát các khoản quỹ được phận bổ cho công tác chuẩn bị và thực hiện các cuộc bầu cử và phải chịu trách nhiệm về việc các tài liệu tài chính phải phù hợp với các nghị quyết của các Uỷ ban bầu cử, các uỷ ban trưng cầu dân ý về các vấn đề tài chính và chịu trách nhiệm nộp các báo cáo tài chính về việc chi các khoản quỹ nêu trên vào các thời gian và theo các quy định của Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, quy đinh riêng của các khu vực.

7. Trong các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà' nước liên bang, một cuộc trưng cầu dân ý của Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga, thống nhất với Ngân hàng Trung ương của Liên bang Nga, phải đưa ra các quy định về việc mở và duy trì các tài khoản, công tác .kế toán và báo cáo, công tác chuyển tiền được phân bổ cho Uỷ ban bầu cử .Trung ương của Liên bang Nga, các Uỷ ban bầu cử khác, các Uỷ ban trưng cầu dân ý. Trong các cuộc .bầu cử các cơ quan quyền lực của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga, các cuộc trưng cầu dân ý của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga và các cuộc bầu cử các cơ quan chính quyền tự trị địa phương và các cuộc trưng cầu dán ý đỉa phương, Uỷ ban bầu cừ của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, thống nhất với Chi nhánh (ngân hàng quốc gia) của Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga tại Chủ thể thuộc Liên bang Nga va phải đưa ra các quy định về việc mở và duy trì các tài khoản, công tác kế toán và báo cáo công tác chuyển tiền được phân bổ cho Uỷ ban bầu cử của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý Việc mở che tài khoản của các Uỷ ban bầu cử và các Uỷ ban trưng cầu dân ý và các giao đích thực hiện qua những tài khoản này không bị thu phí. Các ngân hàng không thanh toán lãi suất cho các khoản quỹ được giữ trong các tài khoản nói trên.

( Được sửa đổi ngày 30/03/1999)



Điều 47:Quỹ phục vụ tranh cử và thủ tục thành lập Quỹ

1. Các ứng cử viên có quyền thành lập các quỹ phục vụ tranh cử để cấp vốn cho các chiến dịch tranh cử của họ sau khi một văn bản thông báo được các ứng cử viên gửi tới Uỷ ban bầu cử cùng với tập đủ các chữ ký ủng hộ các ứng cử viên theo đúng quy định của Điều 29 Luật này. Các hiệp hội tranh cử, khối tranh cừ đã đề cử các danh sách ứng cử viên có quyền thành lập các quỹ phục vụ tranh cử sau khi đăng ký các đại diện được Uỷ nhiên của họ bao gồm, nhưng không giới hạn, các vấn đề tài chính với Uỷ ban bầu cử tương ứng. Các ứng cử viên cũng như các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đã đăng ký các danh sách ứng cử viên có quyền tiếp tục duy trì các quỹ phục vụ tranh cử của họ để phục vụ cho công tác tuyên truyền bầu cử.

2. Các ứng cử viên vận động tranh cử chỉ trong một danh sách các ứng cử viên được một hiệp hội tranh cử, một khối tranh cử đề cử không được thành lập các quỹ phục vụ tranh cử.

3. Các quỹ phục vụ tranh cử của các ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử có thể được thành lập từ những nguồn sau: các khoản quỹ của chính các ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, cá nhân các cử tri ; các khoản quỹ được các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử mà đã đề cử ứng cử viên phân bổ cho ứng cử viên đó; tình nguyện hiến tặng của các cá nhân và các pháp nhân; các khoản quỹ được Uỷ ban bầu cử tương ứng phân bổ cho ứng cử viên, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, sau khi đăng ký ứng cử viên của họ (danh sách các ứng cử viên). Các khoản quỹ này phải được phân bổ công bằng cho các, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử.

4. Không được nhận các khoản hiến tặng cho các quỹ phục vụ tranh cử của các ứng cử viên, các ứng cử viên đã đăng ký, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử của:

a) Các nhà nước và các pháp nhân nước ngoài;

b) Các công dân nước ngoài , trừ các trường hợp khác theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 của Luật này;

c) Những người không có quốc tịch;

d) Các công dân của Liên bang Nga chưa đủ 1 8 tuổi;

e) Các pháp nhân Liên bang Nga có vốn nước ngoài, nếu phần tham gia lợi ích của nước ngoài ghi nhận trong quy chế pháp nhân vượt quá 30 phần trăm vào ngày mà nghị quyết về việc tổ chức các các cuộc bầu cử đã được chính thức công bố;

f) Các tổ chức quốc tế và các phong trào quốc tế;

g) Các cơ quản quyền lực nhà nước và các cơ quan của chính quyền tự trị địa phương các tổ chức và các thể chế nhà nước và chính quyền địa phương;

i) các pháp nhân có phần góp vốn của nhà nước hoặc của chính quyền địa phương ghi nhận tại quy chế cơ cấu vốn vượt qua 30 phần trăm vào ngày mà nghị quyết về việc tổ chức các các cuộc bầu cử đã được chính thức công bố;

j) Các đơn vị quân sự, các tổ chức quân sự, các cơ quan hành pháp;

k) Các tổ chức từ thiện, các hiệp hội tôn giáo, và. các tổ chức do các hiệp hội này thành lập;

l) Các nhà tài trợ giấu tên (đối với một cá nhân - thực hiện tài trợ mà không cung cấp bất kỳ một trong các dữ liệu sau: tên thánh, tên đệm và họ, địa chỉ cư trú, ngày sinh; đối với một pháp nhân - thực hiện tài trợ mà không cung cấp bất kỳ một trong các dữ. liệu sau: mã số thuế của người tài trợ, tên, ngày đăng ký, tài khoản ngân hàng, văn bản xác nhận không có phần góp vốn của bất kỳ nhà nước hoặc chính quyền địa phương nào trong quy chế cơ cấu vốn hoặc cố một phần góp vốn và quy mô vốn góp, văn bản xác nhận không có bất kỳ phần tham gia lợi .ích nước ngoài nào ghi nhận trong quy chế cơ cấu vốn hoặc về sự tồn tại của tham gia lợi ích nói trên và quy mô của việc chia sẻ lợi ích tương ứng;

m) Các pháp nhân đã đăng ký ít hơn 1 năm trước ngày bỏ phiếu.

5. Các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga quy định quy mô tối đa cửa các quỹ thuộc về các ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử có thể chuyển khoản cho các quỹ phục vụ tranh cử và các quỹ được hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đã đề cử ứng cử viên phân bổ cho các ứng cử viên và các khoản hiến tặng của các cá nhân và các pháp nhân cũng như các hạn mức chi dùng các tài sản của các quỹ phục vụ tranh cử.

6. Tất cả tiền của một quỹ phục vụ tranh cử phải được chuyển vào một tài khoản đặc biệt. Tài khoản này phải được một ứng cử viên, một hiệp hội tranh cử, một khối tranh cử mở sau khi có sự cho phép của Uỷ ban bầu cử tương ứng.

7. Khi các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước được tổ chức, Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga, sau khi đã thống nhất với Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga, phải quy định thủ tục mở và duy trì các tài khoản nêu trên, công tác kế toán và báo cáo về các nguồn của các quỹ phục vụ tranh cử. Khi các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga và các cơ quan của chính quyền tự chủ địa. phương được tổ chức, Uỷ ban bầu cử của Chủ thể thuộc Liên bang Nga tương ứng, sau khi thống nhất với các ngân hàng quốc gia, các chi nhánh chính của Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga tại các Chủ thể thuộc Liên Bang Nga, phải quy định thủ tục mở và duy trì các tài khoản nêu trên, công tác kế toán và báo cáo về các nguồn của các quỹ phục vụ tranh cử.

8. Quyền quản lý các nguồn của các quỹ phục vụ tranh cử phải thuộc về các ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, các khối tranh cử đã thành lập các quỹ này.

9. Các nguồn của các quỹ phục vụ tranh cử phải được định hướng theo các mục đích. Các quỹ này chỉ được sử dụng cho việc thanh toán các khoản chi trong chiến dịch vận động bầu cử.

10. Các nguồn của các quỹ phục vụ tranh cử phải được sử dụng cho các mục đích:

a) tài trợ cho các hoạt động kỹ thuật mang tính tổ chức để tập hợp các chữ ký của các cử tri ủng hộ việc đề cử . một ứng cử viên (danh sách các ứng cử viên), bao gồm cả việc thanh toán các khoản thù lao lao động cho những người sử đụng thời gian cho việc tập hợp chữ ký của các cử tri.

b) Tuyên truyền bầu cử và thanh toán cho các dịch vụ thông tin và dịch vụ tư vấn;

c) Thanh toán cho các dịch vụ khác do các pháp nhân hoặc công dân của Liên Bang Nga thực hiện và thanh toán các khoản chi tiêu phụ khác trực tiếp để tiến hành chiến dịch vận động bầu cử đi thanh toán cho một khoản ký quỹ tranh cử.

11. Các pháp nhân và các cá nhân có quyền cung cấp ửng hộ tài chính (hoặc hiện vật) cho các hoạt động ủng hộ các ứng cử viên chỉ thông qua các quỹ phục vụ tranh cử tương ứng. Không được thực hiện các công việc có trả công, không được bán các hàng hoá, không được cung cấp các dịch vụ có thanh toán nếu liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp tới các cuộc bầu cử, mà không có một văn bản đồng, ý của một ứng cừ viên, ứng cử viên đã đăng ký, những người được uỷ quyền, một hiệp hội tranh cử, một khối tranh cử đối với việc thực hiện các công việc, bán hàng hoá, cung cấp các dịch vụ vừa nêu và thanh toán từ quỹ phục vụ tranh cử tương ứng. Các pháp nhân, các chi nhánh của các pháp nhân, các văn phòng đại diện và các đơn vỉ khác bị nghiêm cấm thực hiện miễn phí các công việc, cung cấp miễn phí các dịch vụ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc bầu cử. Các cá nhân được phép thực hiện miễn phí và một cách tình nguyện các công việc, các dịch vụ, cung cấp hàng hoá liên quan tới công tác chuẩn bị và tiến hành các cuộc bầu cử, trong trường hợp này, không được nhờ đến sự giúp đỡ của người thứ ba.

12. Các ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử bị nghiêm cấm dùng tiền, mà không phải là tiền có trong các quỹ phục vụ tranh cử của họ, để trả cho những người thu thập các chữ ký, cho việc tuyên truyền bầu cử, và các sự kiện chiến dịch vận động tranh cử khác. Nếu một ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đã sử dụng các tài sản khác mà không có trong các quỹ phục vụ tranh cử trong suốt quá trình thu thập chữ ký, các hoạt động tuyên truyền bầu cử và các hoạt động của chiến dịch vận động bầu cử, theo Uỷ ban bầu cử tương ứng có quyền huỷ bỏ việc đăng ký của ứng cử viên đó (danh sách các ứng cử viên). Nếu các vi phạm này bị phát hiện sau khi công bố các kết quả bầu cử, Uỷ ban bầu cử có quyền yêu cầu một toà án tuyên bố việc bầu cử của ứng cử viên (danh sách các ứng cử viên) không còn hiệu lực nữa.

13. Theo yêu cầu của một Uỷ ban bầu cử, ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho tài khoản quỹ phục vụ tranh cử của một ứng cử viên, ứng cử viên đã được đăng ký, một hiệp hội tranh cử, một khối tranh cử phải cung cấp định kỳ cho Uỷ ban bầu cử các thông tin về việc thu và chi của các khoản quỹ của tài khoản phục vụ tranh cử của ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đó.

14. Cho tới ngày bỏ phiếu Uỷ ban bầu cử tương ứng phải gửi các thông tin về việc thu và chi của các nguồn của các quỹ phục vụ tranh cử tới các phương tiện thông tin đại chúng để công bố các thông tin này. Phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 của Luật này phải, sử dụng ngân sách hiện tại của các cơ quan này, công bố các thông tin được các Uỷ ban bầu cử nêu trên cung cấp trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận được.

15. Một ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, trong vòng không quá 30 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử, phải nộp cho Uỷ ban bầu cử tương ứng một báo cáo về chi tiết quy mô và tất cả các nguồn của các khoản quỹ và toàn bộ việc chi tiêu các quỹ của họ. Các bản sao của các báo cáo này phải được cung cấp cho các Uỷ ban bầu cử để gửi cho các phương tiện thông tin đại chúng để công bố.

16. Một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga có thể quy định rằng một ứng cử viên đã đăng ký nhưng đã không được bầu và người này, theo các kết quả bỏ phiếu, đã giành được số phiếu bầu ít hơn số phiếu bầu của các cử tri đã tham gia bỏ phiếu theo quy đính của Luật Liên bang này, luật của một chủ thể thuộc Liên bang Nga, một hiệp hội tranh cử, khu tranh cử đã đăng ký một danh sách các ứng cử viên nhưng không tham gia và theo các kết quả bỏ phiếu, đã giành được số phiếu bầu ít hơn số phiếu bầu của các cử tri đã tham gia bỏ phiếu theo quy định của Luật Liên bang này, luật của một chủ thể thuộc Liên bang Nga phải trả lại Uỷ ban bầu cử tương ứng khoản tiền đã được chuyển từ ngân sách liên bang, ngân sách của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, ngân sách địa phương tới quỹ phục vụ tranh cử của' ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử và các khoản tiền khác mà ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đã nhận được từ ngân sách tương ứng theo quy định của một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga. Một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga cũng có thể quy định rằng các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử đã nêu ở trên hoàn trả các tổ chức phát thanh truyền hình và/hoặc đài phát thanh, các cán bộ biên tập viên của các tạp chí định kỳ các khoản mà các tổ chức phát thanh truyền hình và/hoặc đài phát thanh, các cán bộ biên tập viên của các tạp chí định kỳ đã chi tiêu có liên quan tới các hoạt động trong phạm vi quyền của các hiệp hội tranh cử, các khối tranh cử về việc thực hiện tuyên truyền bầu cử bằng cách sử dụng các khoảng thời gian trống và các khoảng in còn trống số phiếu bầu nói trên không được vượt quá 3 phần trăm tổng số phiếu bầu của các cử tri đã tham gia bỏ phiếu trong khu vực tranh cử đối với ứng cử viên đã đăng ký và lớn hơn 2 phần trăm đối với các hiếp hối tranh cử, khối tranh cử.

17. Một ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử phải chuyển phần cân đối còn lại của tài khoản đặc biệt vào các tài khoản của các tổ. chức và cho những người đã hiến tặng hoặc chuyển cho họ các khoản theo tỉ lệ mà họ đã hiến tặng. Trong vòng tối đa 30 ngày sau kể từ ngày bỏ phiếu, trên cơ sở một văn bản hướng dẫn của Uỷ ban bầu cử, ngân hàng phải, không có quyền nhận trợ giúp, hoàn trả lại một phần của các quỹ của Uỷ ban bầu cử tương ứng vào tài khoản của Uỷ ban này. Trong vòng tối đa 60 ngày sau kể từ ngày bỏ phiếu, trên cơ sở một văn bản hướng dẫn của Uỷ ban bầu cử, các khoản tiền còn lại trong tài khoản đặc biệt của một ứng cử viên, ứng cử viên đã đăng ký, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử phải được ngân hàng hoàn trả lại vào ngân sách tương ứng.

18. Một luật liên bang phải quy định về thủ tục thuế đối với các tài sản trong các quỹ phục vụ tranh cử, các khoản tình nguyện hiến tặng và chuyển khoải cho các quỹ nói trên cũng như việc chi tiêu các tài sản từ các quỹ này.

19. Các Uỷ ban bầu cử phải thực hiện kiểm soát đối với việc thành lập và sử dụng các quỹ phục vụ tranh cử đặc biệt của các ứng cử viên, ứng sử viên đã đăng ký, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)



1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương