Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang5/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Được sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 3. Thu thập chữ ký cử tri ủng hộ các ứng cử viên.

1. Chữ ký cử tri ủng hộ ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) được các cử tri, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử trực tiếp đề cử theo thủ tục và với tổng số được quy định bởi các Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga. Tổng số tối đa chữ ký cần thiết cho mỗi ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) được đăng ký không vượt quá hai phần trăm tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử cấp huyện, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 17 của Luật Liên Bang này.

2. Tổng số tối đa chữ ký để đăng ký ứng cử viên trong đơn vị bầu cử cấp huyện có nhiều ghế đại biểu được quy định tại luật hiến pháp liên bang, luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga không vượt quá hai phần trăm tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử cấp huyện và được phân theo số ghế đại biểu.

3. Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga có thể quy định hạn ngạch đối với số chữ ký cử tri được thu thập trong lãnh thổ của chủ thể Liên Bang Nga trong các cuộc bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Trong trường hợp này, số chữ ký thu thập được gần đạt tới con số quy định cũng không được ủy ban bầu cử tính.

4. Không quy định hạn ngạch đối vời việc thu thập chữ ký cử tri trong cuộc bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga, cơ quan chính quyền tự quản địa phương đối với các vùng riêng biệt trong các lãnh thổ nêu trên.

5. Đối với các cuộc bầu cử vào các cơ quan chính quyền tự quản địa phương được tổ chức trong các đơn vị hành chính thành phố, nơi mà số cử tri đã đăng ký theo quy định của khoản 4 Điều 17 của Luật Liên Bang này, số chữ ký thu thập được thấp hơn 10.000 chữ ký cử tri, thì việc thu thập chữ ký cử tri ủng hộ ứng cử viên sẽ không có hiệu lực, trừ trường hợp luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định khác.

6. Chỉ có thể thu thập chữ ký của các cử tri có quyền bầu cử chủ động trong đơn vị bầu cử cấp huyện, khi ứng cử viên đồng ý với việc đề cử. Không được phép có sự tham gia của quản lý doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu, của cơ quan, tổ chức vào việc thu thập chữ ký, cưỡng bức trong quá trình thu thập chữ ký hoặc xúi dục cử tri ký có trả công. Không được thu thập chữ ký ở nơi trả lương và khi trả lương. Vi phạm một lần hoặc nhiều lần các điều cấm trên đây có thể là cơ sở để ủy ban bầu cử hoặc Toà án tuyên các chữ ký được thu thập là vô hiệu và thu hồi đăng ký của ứng cử viên (danh sách ứng cử viên).

7. Bất kỳ công dân nào đã trưởng thành của Liên Bang Nga đều có quyền thu thập chữ ký cử tri. Một ứng cử viên, hiệp hội bầu cử có thể ký hợp đồng với người thu thập chữ ký để thực hiện việc thu thập chữ ký. Chỉ được trả công thu thập chữ ký từ kinh phí bầu cử dành cho ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử.

8. Cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý ký vào danh sách chữ ký có nêu rõ họ, tên, tên đệm và năm sinh (nếu ở tuổi 18 tuổi, thì phải nêu cả ngày và tháng sinh), địa chỉ nơi ở, số hộ chiếu hoặc giấy tờ tương đương hộ chiếu, ngày cấp, ngày ký vào danh sách. Ngày cử tri ký ủng hộ ứng cử viên, danh sách ứng cử viên có thể do người thu thập chữ ký ghi vào danh sách lấy chữ ký ủng hộ ứng cử viên, danh sách ứng cử viên. Các số liệu này được viết bằng tay.

9. Nếu một ứng cử viên có án tích chưa được xóa, thì bản danh sách chữ ký phải chỉ rõ số và tên điều của Bộ Luật hình sự Liên Bang Nga là cơ sở kết án ứng cử viên đó và điều của Bộ Luật hình sự được ban hành theo Bộ Luật hình sự cơ bản của Liên xô và các nước Cộng hòa liên bang; điều của luật nước ngoài, nếu ứng cử viên đó bị kết án theo văn bản pháp luật nước ngoài vì hành vi bị coi là tội phạm theo quy định của Luật hình sự hiện hành của Liên Bang Nga. Nếu ứng cử viên đó có quốc tịch nước ngoài, thì bản danh sách chữ ký phải chỉ rõ tên của nước ngoài đó.

10. Mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử, nhóm cử tri, cử tri đề cử cùng một ứng cử viên và đã thông báo bằng văn bản cho ủy ban bầu cử về việc đề cử phải thu thập số chữ ký cử tri cần thiết để ủng hộ ứng việc đề cử đó. Những chữ ký của người đề cử ứng cử viên khác để ủng hộ cho ứng cử viên này không được tính vào.

Được sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 32. Đăng ký ứng cử viên

1. Khi số chữ ký cần thiết đã được thu thập để ủng hộ các ứng cử viên (danh sách ứng cử viên), các ứng cử viên phải đăng ký với Ủy ban bầu cử phù hợp khi trình văn bản của ứng cử viên thể hiện sự đồng ý đối với việc đề cử tại đơn vị bầu cử cấp huyện; các văn bản đó phải được lập theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Liên Bang này. Luật Liên Bang, luật của chủ thể Liên Bang Nga có thể quy định về việc để ứng cử viên được đăng ký (danh sách ứng cử viên), Uỷ ban bầu cử phải được cung cấp thông tin liên quan đến thu nhập của ứng cử viên đó (mỗi ứng cử viên trong danh sách) và tài sản của họ. Những thông tin liên quan đến tổng số và nguồn thu nhập được trình dưới hình thức bản sao hoàn thuế của năm trước năm tổ chức bầu cử (có xác nhận của cơ quan thuế) của công dân là ứng cử viên. Theo Luật thuế Liên Bang Nga, nếu công dân là ứng cử viên không phải nộp bản hoàn thuế, thì thông tin liên quan đến thu nhập của năm trước năm tổ chức bầu cử phải được tổ chức chi các khoản thu nhập đó cho ứng cử viên cung cấp. Thông tin liên quan đến tài sản của ứng cử viên được trình lên theo hình thức được nêu trong phụ lục của Luật Liên Bang này.

2. Uỷ ban bầu cử có thể yêu cầu cơ quan thích hợp xác nhận tính xác thực của thông tin được cung cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Liên Bang này.

3. Số chữ ký cử tri được thu thập và được trình lên để đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) có thể vượt quá số chữ ký cần thiết để được đăng ký ở mức không quá 15 phần trăm. Luật Liên Bang Luật của chủ thể Liên Bang Nga không quy định số tối đa chữ ký cử tri được trình lên để đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên).

4. Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga phải quy định thủ tục xác nhận tính xác thực của chữ ký cử tri được thu nhập để ủng hộ ứng cử viên (danh sách ứng cử viên). Việc xác nhận này có thể bao gồm tất cả các chữ ký hoặc một phần số chữ ký được chọn ngẫu nhiên để xác nhận. Tuy nhiên, Luật quy định, không được dưới 20 phần trăm số chữ ký phải được xác nhận để được đăng ký. Nếu có một phần số chữ ký được xác nhận là không xác thực, thì phần đó phải do Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định, nhưng có thể không thấp hơn 10 phần trăm và không vượt quá 20 phần trăm số chữ ký phải được xác nhận. Hoặc nếu số chữ ký xác thực là không đủ cho việc đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) đó, thì Uỷ ban bầu cử từ chối đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) đó. Tất cả các ứng cử viên, người đại diện của các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đã đề cử danh sách ứng cử viên phải được thông báo về từng trường hợp xác nhận này, với điều kiện là họ đã trình đủ số chữ ký cần thiết cho việc đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên). Sau khi đã trình số chữ ký theo quy định, tất cả các ứng cử viên, đại diện của các ứng cử viên (danh sách ứng cử viên), hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đã đề cử ứng cử viên; đại diện cử tri đã thực hiện sáng kiến về việc đề cử ứng cử viên có thể có mặt trong quá trình xác nhận chữ ký do mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử, ứng cử viên trình lên để xác nhận, bao gồm cả số chữ ký được chọn để xác nhận. Các chữ ký trong danh sách chữ ký sẽ không được xác nhận, nếu chữ ký đó đã bị người đề cử ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) gạch bỏ trước khi trình lên cho Uỷ ban bầu cử, nhưng phải ghi chú đối với các trường hợp này.

5. Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga có thể quy định phương án lựa chọn đối với ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử về việc đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) được thực hiện bởi Uỷ ban bầu cử thích hợp trên cơ sở ứng cử viên đặt cọc về bầu cử cho Uỷ ban bầu cử, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đã đề cử danh sách ứng cử viên, mà không phải là dựa trên cơ sở chữ ký. Việc ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử trình chữ ký cử tri ủng hộ ứng cử viên lên Uỷ ban bầu cử để đăng ký, thì không được dùng danh sách ứng cử viên làm lý do từ chối đăng ký, nếu ứng cử viên, hiệp hội bầu cử khối bầu cử đã nộp tiền đặt cọc bầu cử. Việc đặt cọc bầu cử không được lấy từ nguồn kinh phí bầu cử. Nếu ứng cử viên có đăng ký không được bầu và số phiếu thu được thấp hơn số được quy định bởi Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, thì tiền đặt cọc bầu cử sẽ được thu vào ngân sách thích hợp. Số phiếu nêu trên không được vượt quá 5 phần trăm số phiếu của cử tri tham gia bầu cử ở đơn vị bầu cử cấp huyện và 3 phần trăm đối với các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử. Số tiền đặt cọc bầu cử theo quy định của Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga không được vượt quá 15 phần trăm số tối đa được sử dụng từ kinh phí bầu cử của ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đó theo quy định của Luật này. Uỷ ban bầu cử phải tuân thủ quy định về vấn đề này của Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga và phải mở và duy trì một tài khoản đặc biệt để nhận và giữ tiền đặt cọc bầu cử.

6. Trong thời hạn không quá 10 ngày đối với việc bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước Liên Bang, 5 ngày đối với việc bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga và cơ quan của chính quyền tự quản địa phương, Uỷ ban bầu cử phải bảo đảm rằng ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) đã được đề cử phù hợp với quy định của Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga và ra nghị quyết để đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) đó hoặc từ chối đăng ký.

7. Một ứng cử viên chỉ có thể đăng ký ở một đơn vị bầu cử cấp huyện. Quy định này không áp dụng đối với việc đăng ký ứng cử viên được đồng thời đề cử bởi một hiệp hội bầu cử, khối bầu cử trong đơn vị bầu cử cấp huyện có một ghế đại biểu và trong danh sách ứng cử viên trong cùng cuộc bầu cử đó.

8. Khi đăng ký ứng cử viên được đề cử bởi một hiệp hội bầu cử, khối bầu cử, thì nghị quyết của Uỷ ban bầu cử phải nêu việc đề cử bởi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đó. Trong thời hạn không dưới một năm trước ngày bầu cử, ứng cử viên được cử tri đề cử chỉ có thể công bố quyền thành viên của mình trong một hiệp hội công đã đăng ký theo thủ tục pháp luật quy định và công bố địa vị của mình trong hiệp hội công đó. Khi một ứng cử viên đồng thời đăng ký trong một danh sách ứng cử viên và trong một đơn vị bầu cử cấp huyện có một ghế đại biểu, thì nghị quyết của Uỷ ban bầu cử phải nêu rõ việc ứng cử viên đó đã đăng ký trong danh sách ứng cử viên.

9. Trong trường hợp từ chối đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên), thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra nghị quyết, Uỷ ban bầu cử phải cấp một bản sao nghị quyết cho ứng cử viên đó hoặc đại diện được uỷ quyền của hiệp hội bầu cử, khối bầu cử, nhóm cử tri hoặc cử tri đã đề cử ứng cử viên đó, có nêu rõ lý do từ chối. Lý do từ chối có thể là:

Vi phạm nghiêm trọng quy định về thu thập chữ ký trong Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga;

Không đủ số chữ ký xác thực của cử tri ủng hộ ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) được trình lên hoặc tỉ lệ số chữ ký xác thực trong số chữ ký được xác nhận vượt quá tỉ lệ tối đa do luật định, trừ trường hợp ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đã nộp tiền đặt cọc bầu cử;

Có sự không xác thực của các thông tin được ứng cử viên trình theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Liên Bang này và khoản 1 Điều này, nếu sự không xác thực đó mang tính cơ bản;

Vi phạm nghiêm trọng các quy định về việc thành lập quỹ bầu cử và chi dùng kinh phí từ quỹ đó; các lý do khác theo quy định pháp luật.

10. Nếu tính không xác thực của các thông tin được ứng cử viên trình theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Liên Bang này và khoản 1 Điều này được xác định sau khi đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên), và sự không xác thực đó mang tính cơ bản, thì trong thời hạn không chậm hơn 16 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử huỷ quyết định đăng ký ứng cử viên đó (loại bỏ ra khỏi danh sách ứng cử viên), và trong thời hạn từ 15 tính đến ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử làm đơn yêu cầu Toà án xoá đăng ký đối với ứng cử viên đó (loại bỏ ra khỏi danh sách ứng cử viên).

11. Vào bất kỳ thời điểm nào, ứng cử viên cũng có quyền rút khỏi danh sách đăng ký, nhưng không được chậm hơn 3 ngày trước ngày bầu cử.

12. Một hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có quyền rút danh sách ứng cử viên hoặc từ chối tham gia việc bầu cử theo quyết định của cơ quan đã đề cử các ứng cử viên đó vào bất kỳ thời điểm nào, nhưng không được chậm hơn 3 ngày trước ngày bầu cử.

13. Sau khi trình danh sách ứng cử viên cùng với chữ ký cử tri thu thập được để ủng hộ một hiệp hội bầu cử theo điều lệ của hiệp hội đó, thì thông qua một nghị quyết của các đại diện được uỷ quyền của các hiệp hội bầu cử đã hình thành khối bầu cử, khối bầu cử đó có thể xoá tên một số ứng cử viên khỏi danh sách ứng cử viên dùng cho việc thu thập chữ ký đã được xác nhận bởi Uỷ ban bầu cử...

Các ứng cử viên có thể bị xoá tên sau khi đăng ký, nhưng việc xoá tên phải thực hiện không chậm hơn 5 ngày trước ngày bầu cử. Tổng số ứng cử viên bị xoá tên khỏi danh sách không được vượt quá 25 phần trăm tổng số ứng cử viên trong danh sách đã được xác nhận và không được xoá tên ba ứng cử viên đầu tiên. Không được đưa người mới nào vào danh sách và không được thay đổi thứ tự của ứng cử viên trong danh sách, trừ trường hợp không tránh được sự thay đổi do việc xoá tên một số ứng cử viên. Uỷ ban bầu cử không được từ chối danh sách ứng cử viên đã thay đổi theo thủ tục quy định tại Luật Liên Bang này và tại điều lệ hiệp hội bầu cử, tại thoả thuận về việc thành lập khối bầu cử.

14. Nếu đến ngày bầu cử mà không còn lại ứng cử viên nào trong đơn vị bầu cử cấp huyện, hoặc số ứng cử viên đã đăng ký ít hơn hoặc bằng số ghế đại biểu, hoặc chỉ có một danh sách ứng cử viên được đăng ký, thì việc bầu cử trong đơn vị bầu cử cấp huyện đó sẽ được hoãn lại trong thời hạn không quá 6 tháng theo nghị quyết của Uỷ ban bầu cử để cho phép đề cử bổ sung ứng cử viên (danh sách ứng cử viên); sau đó tiếp tục các hoạt động bầu cử.

15. Nếu các tình huống nêu tại khoản 1 của Điều này phát sinh từ việc một ứng cử viên tự nguyện rút lui khỏi việc ứng cử, hoặc việc đăng ký ứng cử viên đó bị huỷ theo quy định tại khoản 6 Điều 45 của Luật Liên Bang này trong cuộc bầu cử vào cơ quan quyền lực nhà nước Liên Bang, cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga, cơ quan của chính quyền tự quản địa phương, thì tất cả các chi phí của Uỷ ban bầu cử cho việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử sẽ do ứng cử viên đó gánh chịu. Luật của chủ thể Liên Bang Nga có thể quy định trong các tình huống nêu tại khoản 11 Điều này, thì có thể tiến hành bỏ phiếu đối với một ứng cử viên trong cuộc bầu cử vào cơ quan chính quyền tự quản địa phương và ứng cử viên đó coi như được bầu, nếu không dưới 50 phần trăm số cử tri tham gia bầu cử đã bỏ phiếu cho ứng cử viên đó.

16. Khi tiến hành bầu cử lại và bầu cử bổ sung để bổ sung đủ chỗ trống trong cơ quan lập pháp, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, ứng cử viên là đại biểu cơ quan đó sẽ không được đăng ký.



Được sử đổi ngày 30/3/1999

Điều 33. Thực thi sáng kiến tổ chức trưng cầu dân ý

1. Mỗi cử tri hoặc nhóm cử tri đều có quyền tham gia một cuộc trưng cầu dân ý phù hợp và một hiệp hội công có thể hình thành nên một nhóm sáng kiến về việc tổ chức trưng cầu dân ý, nếu số thành viên của nhóm không dưới 20 người đối với việc tổ chức trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga và không dưới 10 người đối với việc tổ chức trưng cầu dân ý địa phương. Một hiệp hội bầu cử đã đăng ký với cơ quan tư pháp ở cấp tổ chức cuộc trưng cầu dân ý hoặc cấp trên có thể hoạt động với tư cách người có sáng kiến tổ chức trưng cầu dân ý. Trong trường hợp này, cơ quan quản lý hiệp hội bầu cử hoặc cơ quan quản lý tổ chức địa phương, tổ chức vùng của hiệp hội đó sẽ hoạt động với tư cách nhóm sáng kiến mà không cần tính đến số lượng thành viên.

2. Nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý phải nộp yêu cầu đăng ký nhóm lên Uỷ ban bầu cử ở cấp phù hợp hoạt động với tư cách ủy ban trưng cầu dân ý. Nếu không có Uỷ ban bầu cử thường xuyên của đơn vị hành chính thành phố, thì trước khi ủy ban trưng cầu dân ý được thành lập, chức năng của Uỷ ban này sẽ do cơ quan đại diện của chính quyền tự quản địa phương địa phương đảm nhiệm; nếu không có cơ quan đại diện của chính quyền tự quản địa phương, thì uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga sẽ đảm nhiệm chức năng đó.

3. Yêu cầu của nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý phải bao gồm cả các vấn đề hoặc dự thảo văn bản quy phạm pháp Luật được nhóm sáng kiến đề xuất cho việc trưng cầu dân ý và phải nêu rõ họ, tên tên đệm, nơi cư trú số hộ chiếu hoặc giấy tờ tương đương hộ chiếu của các thành viên nhóm sáng kiến và người được uỷ quyền hoạt động thay mặt nhóm sáng kiến trong lãnh thổ có trưng cầu dân ý đó.

4. Biên bản cuộc họp của nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý được kèm theo bản yêu cầu nêu trên, trong đó có nêu nghị quyết về sáng kiến tổ chức trưng cầu dân ý.

5. Nếu cách trình bày các vấn đề của nhóm sáng kiến để đưa ra trưng cầu dân ý không đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Luật Liên Bang này, thì Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) nhận được bản yêu cầu nêu trên có thể thoả thuận với nhóm sáng kiến về cách trình bày các vấn đề được đề nghị đưa ra trưng cầu dân ý mà không làm thay đổi nội đung vấn đề. Chỉ có nhóm sáng kiến mới có quyền thay đổi cách trình bày vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý. Cách trình bày các vấn đề đưa ra trưng cầu dân ý không được thay đổi sau khi nhóm sáng kiến đã đăng ký.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của nhóm sáng kiến, cơ quan nêu tại khoản 2 Điều này xem xét yêu cầu đó và các tài liệu kèm theo. Nếu yêu cầu đó và các tài liệu kèm theo đáp ứng được các yêu cầu của Luật Liên Bang này, của hiến pháp, Hiến chương, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố, thì cơ quan đó phải gửi yêu cầu và các tài liệu kèm theo cho cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga hoặc cơ quan chính quyền tự quản địa phương mà Hiến pháp, Hiến chương, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương đơn vị hành chính thành phố uỷ quyền thực hiện việc tổ chức trưng cầu dân ý.

7. Cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga hoặc cơ quan chính quyền tự quản địa phương mà Hiến pháp, Hiến chương, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương đơn vị hành chính thành phố uỷ quyền thực hiện việc tổ chức trưng cầu dân ý kiểm tra vấn đề được đề xuất đưa ra trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga, trưng cầu dân ý địa phương xem có phù hợp với yêu cầu quy định tại Điều 13 của Luật Liên Bang này hay không, theo thủ tục và trong thời hạn quy định bởi Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương đơn vị hành chính thành phố. Thời hạn kiểm tra không được vượt quá 20 ngày kể từ ngày yêu cầu về tổ chức trưng cầu dân ý và các tài liệu kèm theo được nhóm sáng kiến trình lên cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục quy định tại khoản 6 Điều này.

8. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý trong chủ thể Liên Bang Nga và các tài liệu kèm theo được trình theo thủ tục quy định tại khoản 6 Điều này, cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga được Hiến pháp, Hiến chương, Luật của chủ thể Liên Bang Nga uỷ quyền tổ chức trưng cầu dân ý phải thông báo về sáng kiến đó cho Tổng thống Liên Bang Nga, Hội đồng Liên Bang thuộc Nghị viện Liên Bang Nga, Duma quốc gia Liên Bang Nga, Chính phủ Liên Bang Nga và Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga.

9. Nếu cơ quan nêu tại khoản 7 Điều này cho rằng vấn đề được đề nghị đưa ra trưng cầu dân ý đáp ứng được yêu cầu nêu tại Điều 13 của Luật Liên Bang này, thì cơ quan nêu tại khoản 2 Điều này thực hiện việc đăng ký nhóm sáng kiến và cấp giấy chứng nhận đăng ký cho nhóm sáng kiến và thông báo với các phương tiện thông tin đại chúng về việc đó. Quyết định đăng ký nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý trong chủ thể Liên Bang Nga được cấp trong thời hạn 15 ngày sau khi hết thời hạn 45 ngày kể từ ngày yêu cầu của nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý trong chủ thể Liên Bang Nga và các tài liệu kèm theo được cơ quan nêu tại khoản 7 Điều này tiếp nhận.

10. Nếu phát sinh tranh chấp về thẩm quyền liên quan đến sáng kiến tổ chức trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga, thì Tổng thống Liên Bang Nga, Hội đồng Liên Bang thuộc Nghị viện Liên Bang Nga, Duma quốc gia Liên Bang Nga, Chính phủ Liên Bang Nga có thể đề xuất việc cơ quan đã cho rằng vấn đề được đề nghị đưa ra trong cầu dân ý đáp ứng các quy định tại Điều 13 của Luật Liên Bang này thành lập một Uỷ ban hoà giải. Đại diện của nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga có thể tham gia công việc của Uỷ ban hoà giải. Thời hạn quy định tại khoản 9 Điều này sẽ không bao gồm thời gian Uỷ ban hoà giải làm việc.

11. Nếu cơ quan nêu tại khoản 7 Điều này cho rằng vấn đề được đề nghị đưa ra trưng cầu dân ý không đáp ứng được các quy định tại Điều 13 của Luật Liên Bang này, thì cơ quan nêu tại khoản 2 Điều này phải từ chối đăng ký nhóm sáng kiến.

12. Trong trường hợp từ chối đăng ký, thì quyết định về việc từ chối đó của cơ quan phù hợp được trao cho nhóm sáng kiến đó và có nêu rõ lý do.

13. Lý do từ chối việc đăng ký nhóm sáng kiến chỉ có thể là việc nhóm sáng kiến vi phạm hiến pháp Liên Bang Nga, Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang, hiến pháp, Hiến chương, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố. Quyết định từ chối đăng ký có thể bị kiện ra Toà án.

14. Nếu không tồn tại Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) ở cấp phù hợp, thì trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày nhóm sáng kiến được đăng ký, cơ quan đăng ký nhóm sáng kiến thành lập ủy ban trưng cầu dân ý theo thủ tục quy định tại Điều 23 của Luật Liên Bang này.

15. Sau khi nhận giấy chứng nhận đăng ký, nhóm sáng kiến có quyền tổ chức thu thập chữ ký để ủng hộ sáng kiến tổ chức trưng cầu dân ý. Trong trường hợp này, chỉ những chữ ký được thu thập sau ngày nhóm sáng kiến được đăng ký thì mới được tính. Giấy chứng nhận đăng ký mà hình thức của nó được Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga phê duyệt và được cấp cho nhóm sáng kiến, có hiệu lực trong thời gian được quy định bởi Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố. Chi phí cho việc thu thập chữ ký do nhóm sáng kiến gánh chịu.

16. Chữ ký của công dân ủng hộ nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý được nhóm sáng kiến thu thập theo thủ tục và số lượng quy định bởi luật hiến pháp liên Bang, Luật của chủ thể Liên bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố. Số chữ ký tối đa đã được thu thập để ủng hộ nhóm sáng kiến không được vượt quá 2 phần trăm số công dân có quyền tham gia trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga và 5 phần trăm số công dân có quyền tham gia trưng cầu dân ý địa phương. Số công dân có quyền tham gia trưng cầu dân ý được xác định trên cơ sở đăng ký người tham gia trưng cầu dân ý vào ngày 1 tháng giêng hoặc ngày 1 tháng bảy của năm trước đó.

17. Các chữ ký được thu thập vào bản danh sách chữ ký, trong đó có trình bày các vấn đề được đề nghị đưa ra trưng cầu dân ý. Nếu tổ chức trưng cầu dân ý về văn bản quy phạm pháp Luật của cơ quan chính quyền tự quản địa phương thì người thu thập chữ ký phải đưa ra dự thảo đó theo yêu cầu của người tham gia trưng cầu dân ý.

18. Có thể thu thập chữ ký của những người tham gia trưng cầu dân ý trên toàn bộ lãnh thổ được đề nghị trưng cầu dân ý. Không quy định hạn ngạch của việc thu thập chữ ký để ủng hộ nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga, trưng cầu dân ý địa phương ở những phần tách biệt của chủ thể Liên Bang Nga hay đơn vị hành chính thành phố.

19. Thời hạn thu thập chữ ký để ủng hộ nhóm sáng kiến về tổ chức trưng cầu dân ý theo quy định Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố không được ngắn hơn 30 ngày đối với việc trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga, không ngắn hơn 20 ngày đối với trưng cầu dân ý địa phương.

20. Sau khi kết thúc việc thu thập chữ ký, nhưng trước thời hạn giấy chứng nhận đăng ký hết hiệu lực, nhóm sáng kiến phải tính tổng số chữ ký thu thập được và phải lập biên bản. Đại diện được uỷ quyền của nhóm sáng kiến phải chuyển các bản danh sách chữ ký được đính liền nhau và được đánh số cùng với bản sao biên bản cuối cùng của nhóm sáng kiến cho Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) đã cấp giấy chứng nhận.

21. Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) xác nhận việc thu thập chữ ký phù hợp với yêu cầu quy định tại Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố và xác nhận tính xác thực của các chữ ký theo thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 32 của Luật Liên Bang này và ra một nghị quyết dựa trên kết quả của việc xác nhận đó.

Trong trường hợp có sự vi phạm các yêu cầu nêu trên, thì Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) ra nghị quyết từ chối việc tổ chức trưng cầu dân ý. Một bản sao nghị quyết này được chuyển cho nhóm sáng kiến. Trong thời gian hai năm kể từ ngày ra nghị quyết này, các thành viên của nhóm sáng kiến đó không được đưa ra sáng kiến khác về việc tổ chức trưng cầu dân ý.

22. Nếu sáng kiến về việc tổ chức trưng cầu dân ý được đưa ra phù hợp với Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố, thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhóm sáng kiến trình các tài liệu nêu tại khoản 20 Điều này, Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) chuyển các danh sách chữ ký, bản sao biên bản cuối cùng của nhóm sáng kiến và bản sao nghị quyết của mình cho cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể tiên Bang Nga hoặc cơ quan chính quyền tự quản địa phương của chủ thể Liên Bang Nga để công bố về việc tổ chức trưng cầu dân ý phù hợp với Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố. Bản sao nghị quyết của Uỷ ban bầu cử (ủy ban trưng cầu dân ý) cũng được gửi cho nhóm sáng kiến.

23. Nếu phát sinh tranh chấp về thẩm quyền liên quan đến việc tổ chức trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga, thì tranh chấp đó sẽ được giải quyết bởi Toà án hiến pháp của Liên Bang Nga. Trong trường hợp này, việc chuẩn bị trưng cầu dân ý sẽ được tạm đình chỉ để chờ quyết định của Toà án hiến pháp của Liên Bang Nga.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương