Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang4/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Được sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 25. Giải thể Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý

1. Nếu Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga, Uỷ ban bầu cử cấp huyện, lãnh thổ, khụ vực, Uỷ ban trưng cầu dân ý vi phạm quyền bầu cử của công dân, quyền công dân tham gia trưng cầu dân ý, thì hậu quả của sự vi phạm là Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga tuyên bố số phiếu được bỏ trên lãnh thổ tương ứng hay kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu dân ý là vô hiệu theo thủ tục được quy định tại Luật Liên Bang này (hoặc theo quyết định của Toà án), Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga. Toà án có thẩm quyền phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Luật Liên Bang này có thể giải thể Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý đó.

2. Đơn yêu cầu giải thể Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga được nộp lên Toà án bởi một nhóm không ít hơn một phần ba tổng số thành viên Hội đồng Liên Bang thuộc Nghị viện Liên Bang Nga hoặc đại biểu của Duma quốc gia thuộc Nghị viện Liên Bang Nga, hoặc không ít hơn một phần ba tổng số đại biểu cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga hoặc nhóm đại biểu thuộc phòng bầu cử của các cơ quan nêu trên với số người không ít hơn một phần ba tổng số đại biểu của phòng đó, hoặc bởi Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga.

3. Đơn yêu cầu giải thể Uỷ ban bầu cử cấp huyện, lãnh thổ, khu vực được nộp lên Toà án bởi một nhóm không ít hơn một phần ba tổng số đại biểu của cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga, hoặc nhóm đại biểu thuộc phòng bầu cử của các cơ quan nêu trên với số người không ít hơn một phần ba tổng số đại biểu của phòng đó, hoặc nhóm đại biểu các cơ quan đại diện tương ứng của chính quyền tự quản địa phương với số người không ít hơn một phần ba tổng số đại biểu cơ quan đó là bởi Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga.

4. Đơn yêu cầu giải thể một Uỷ ban bầu cử được tiếp nhận ngay và được xử lý trong thời hạn không quá 14 ngày kể từ ngày tiếp nhận. Trường hợp giải thể một Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý được xem xét tại một phiên tòa đầy đủ của Toà án.

5. Cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan của chính quyền tự quản địa phương có thẩm quyền thành lập Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tiến hành thành lập Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phù hợp trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày quyết định của Toà án về việc giải thể Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có hiệu lực pháp Luật.

6. Việc giải thể một Uỷ ban bầu cử không làm chấm dứt nhiệm kỳ của các thành viên không có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử đó.

Điều 26. Công khai hoạt động của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý

1. Thành viên của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cấp trên, ứng cử viên được đăng ký bởi Ủy ban bầu cử của mình, Ủy ban bầu cử cấp trên hoặc bởi người đại diện, người đại diện được uỷ quyền hay người đại diện của hiệp hội bầu cử, khối bầu cử mà danh sách các ứng cử viên đã được đăng ký bởi Uỷ ban bầu cử đó hoặc Uỷ ban bầu cử cấp trên, hoặc bởi ứng cử viên thuộc danh sách đó, hoặc người đại diện được uỷ quyền của nhóm sáng kiến về trưng cầu dân ý, có thể tham gia tất cả các cuộc họp của Uỷ ban bầu cử Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng. Họ cũng có thể tham dự khi Uỷ ban bầu cử theo lãnh thổ, khối bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý làm việc về các vấn đề liên quan đến danh sách cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý, bỏ phiếu kín trong bầu cử, bỏ phiếu kín trong trưng cầu dân ý, xác nhận sự vắng mặt trong cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý, lập biên bản về số phiếu bầu. Những người nêu trên không cần phải xin phép thêm cho việc đủ các cuộc họp làm việc liên quan đến các tài liệu về bầu cử nêu trên, hay tài liệu liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành trưng cầu dân ý. Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý phải thông báo cho những người đó về các cuộc họp làm việc liên quan đến các tài liệu về bầu cử nêu trên, hay tài liệu liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành trưng cầu dân ý và phải cho phép họ có mặt trong các cuộc họp đó. Đại điện cơ quan thông tin đại chúng có quyền tham dự các cuộc họp làm việc liên quan đến các tài liệu về bầu cử nêu trên, hay tài liệu liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành trưng cầu dân ý.

2. Các quyết định của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng nêu tại khoản 1 Điều 39 của Luật Liên Bang này, sử dụng kinh phí ngân sách cấp cho các hoạt động hiện tại của các phương tiện thông tin đại chúng đó và cấp cho các phương tiện thông tin đại cíung khác theo các điều kiện được quy định tại các Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga.

3. Trong ngày bầu cử, tính từ thời điểm Uỷ ban bầu cử khối, ủy ban trưng cầu dân ý khối bắt đầu công việc cho đến khi nhận được thông báo về việc Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cấp trên đã thông qua biên bản về số phiếu bầu; và khi số phiếu của các cử tri, số người tham gia trưng cầu dân ý đã được kiểm lại cho đến ngày bầu cử, những người nêu tại khoản 1 Điều này và các quan sát viên, đại diện phương tiện thông tin đại chúng, quan sát viên nước ngoài có thể có mặt ở nơi bầu cử.

4. Tất cả các thành viên của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý các quan sát viên, những người nêu tại khoản 1 Điều này đều có thể tiến cận các địa điểm của Uỷ ban bầu cử khối, Ủy ban trưng cầu dân ý khối được hình thành trong khối bầu cử, khối trưng cầu dân ý của đơn vị quân đội, đơn vị lãnh thổ hành chính khép kín, bệnh viện, nhà nghỉ, khách sạn, khu vực điều tra, tạm giam và địa điểm bầu cử thuộc các khối bầu cử, khối trưng cầu dân ý nêu trên.

5. Các quan sát viên, đại diện phương tiện thông tin đại chúng, quan sát viên nước ngoài có quyền có mặt ở địa điểm của các Uỷ ban bầu cử, ủy ban trưng cầu dân ý khác vào thời điểm họ kiểm phiếu bầu, kiểm kết quả bầu cử lập biên bản về số phiếu bầu, kết quả bầu cử hoặc vào lúc kiểm lại phiếu.

6. Thẩm quyền của các quan sát viên được xác nhận bằng văn bản bởi ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, nhóm sáng kiến về trưng cầu dân ý mà quan sát viên đại diện quyền lợi của họ. Giấy xác nhận ghi rõ họ, tên, tên đệm, nơi ở, số khối bầu cử, khối trưng cầu dân ý, tên của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý mà quan sát viên sẽ có mặt cũng được nêu rõ. Văn bản nêu trên có hiệu lực khi được xuất trình cùng với Hộ chiếu. Quan sát viên không cần phải khai báo trước điều gì.

7. Luật của chủ thể Liên Bang Nga về thủ tục tổ chức bầu cử vào các cơ quan của chính quyền tự quản địa phương có thể quy định về việc gửi quan sát viên từ một nhóm cử tri. Trong trường hợp này, khi đến Uỷ ban bầu cử theo lãnh thổ hay theo khối, quan sát viên của một nhóm cử tri phải xuất trình danh sách chữ ký bao gồm chữ ký của các công dân Liên Bang Nga có quyền bầu cử tại khối, lãnh thổ đó; số lượng chữ ký do Luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định, nhưng không được vượt quá 50 chữ ký. Quan sát viên của một nhóm cử trí chịu trách nhiệm về tính xác thực của dữ liệu nêu trong danh sách chữ ký (các danh sách).

8. Các tài liệu nêu tại các 6 và 7 Điều này có thể được xuất trình cho Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý khối trong khoảng thời gian nêu tại khoản 3 Điều này; xuất trình cho Uỷ ban bầu cử theo lãnh thổ và Uỷ ban bầu cử theo khối khác, Ủy ban trưng cầu dân ý từ khi Ủy ban bắt đầu làm việc liên quan đến biên bản số phiếu bầu theo lãnh thổ cho đến khi kết thúc công việc.

9. Quan sát viên có quyền:

a) Xem lại danh sách cử tri, danh sách người tham gia trưng cầu dân ý;

b) Có mặt tại địa điểm bầu cử của khối bầu cử, khối trưng cầu dân ý thích hợp vào ngày bầu cử, tính từ thời điểm nêu tại khoản 3 Điều này;

c) Tham gia quá trình bỏ phiếu bên ngoài địa điểm bỏ phiếu;

d) Quan sát việc đếm số công dân được đưa vào danh sách cử tri, danh sách người tham gia trưng cầu dân ý, trao phiếu trong bầu cử, trưng cầu dân ý cho cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý, số phiếu huỷ trong bầu cử, trưng cầu dân ý; quan sát từ xa việc đếm phiếu của cử tri, người tham gia trưng Cầu dân ý tại địa điểm bầu cử, trưng cầu dân ý; trong điều kiện cho phép, quan sát nội dung phiếu bầu; kiểm tra phiếu được điền đầy đủ và điền không đầy đủ trong bầu cử, trưng cầu dân ý, khi phiếu của cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý được đếm; quan sát việc Uỷ ban bầu cử, ủy ban trưng cáu dân ý lập biên bản về số phiếu bầu và các tài liệu khác trong khoảng thời gian được nêu tại khoản 3 Điều này.

e) Nộp các đề nghị, khiếu nại lên chủ tịch Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý khối về việc tổ chức quá trình bỏ phiếu;

f) Xem lại biên bản của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý khối về số phiếu bầu và biên bản của các Uỷ ban bầu cử khác về số phiếu bầu và kết quả bầu cử; nhận bản sao biên bản và tài liệu kèm theo và các tài liệu của khác mà Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý khối nhận được hoặc lập ra trong thời gian nêu tại khoản 3 Điều này, bao gồm danh sách những người có mặt trong cuộc bỏ phiếu đó. Theo yêu cầu của quan sát viên, Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý xác nhận bản sao biên bản kiểm phiếu và kết quả bầu cử;

g) Theo trình tự quy định tại Điều 63 của Luật Liên Bang này, khiếu nại về hành vi của Uỷ ban bầu cử khối, các Uỷ ban bầu cử khác được gọi đến Uỷ ban bầu cử cấp trên, Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga, Uỷ ban bầu cử trung ương của Liên Bang Nga hoặc Toà án; khiếu nại về hành vi của ủy ban trưng cầu dân ý được gửi đến Ủy ban trưng cầu dân ý lãnh thổ, Ủy ban trưng cầu dân ý của chủ thể Liên Bang Nga, Uỷ ban bầu cử trung ương của Liên Bang Nga hoặc Toà án;

h) Có mặt khi các Uỷ ban kiểm lại phiếu của cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý.

10. Quan sát viên không được phép:

a) Đưa phiếu cho cử tri hay người tham gia trưng cầu dân ý;

b) Ký thay cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý theo yêu cầu của những người đó khi nhận phiếu;

c) Điền phiếu cho cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý theo yêu cầu của những người đó;

d) Có hành vi vi phạm bí mật lá phiếu;

e) Trực tiếp tham gia việc kiểm phiếu do thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý tiến hành;

f) Có hành vi cản trở hoạt động của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý;

g) Tiến hành việc vận động bầu cử trong các cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý;

h) Tham gia việc ra quyết định của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý.

11. Đại diện cơ quan thông tin đại chúng có quyền kiểm tra biên bản kiểm phiếu của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý khối, biên bản kiểm phiếu và kết quả bầu cử, trưng cầu dân ý của các Uỷ ban bầu cử khác; in hoặc nhận từ Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý bản sao các biên bản và tài liệu kèm theo. Theo yêu cầu của đại diện cơ quan thông tin đại chúng, Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý xác nhận biên bản kiểm phiếu, kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu dân ý.

12. Bản sao các biên bản và tài liệu kèm theo của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý được xác nhận bởi chủ tịch hoặc thư ký Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý. Trong trường hợp này, những người nêu trên sẽ ghi lời xác nhận "sao y bản chính", ký tên và đóng dấu của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý.

13. Quan sát viên nước ngoài được phép vào Liên Bang Nga trong quá trình quy định tại Luật Liên Bang này, nếu được cơ quan quyền lực nhà nước, các Uỷ ban bầu cử, ủy ban trưng cầu dân ý mời và được Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga thừa nhận. Quan sát viên nước ngoài tiến hành các hoạt động phù hợp với quy định của các Luật hiến pháp Liên Bang và Luật Liên Bang.



Được sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 27. Tổ chức hoạt động của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý

1. Các hoạt động của các Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý được thực hiện theo nguyên tắc tập thể.

2. Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý có quyền tiến hành hoạt động sự nghiệp, nếu số thành viên của nó không ít hơn hai phần ba số thành viên theo quy định.

3. Chủ tịch, Phó chủ tịch và thư ký của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý được bầu theo hình thức bỏ phiếu kín trong cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban, trong số các thành viên của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý .

4. Các cuộc họp của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý đó chủ tịch triệu tập, hoặc do phó chủ tịch triệu tập theo yêu cầu của chủ tịch Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý và theo yêu cầu của không dưới một phần ba số thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý.

5. Thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý tham dự tất cả các cuộc họp của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý.

6. Các cuộc họp của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý có hiệu lực, nếu đa số các thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý tham gia. Các cuộc họp của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga có hiệu lực nếu có ít nhất 2/3 số thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga tham gia.

7. Theo yêu cầu của bất kỳ thành viên nào của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý, hoặc của thành viên Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cấp trên đưa ra tại cuộc họp, Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý tiến hành biểu quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền, nếu tại cuộc họp, Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cho rằng việc đó phù hợp với chương trình nghị sự để thông qua.

8. Các quyết định của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý liên quan đến việc bầu chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý, hoặc liên quan đến vấn đề hỗ trợ tài chính cho việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử và trưng cầu dân ý, đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên), xóa đăng ký ứng cử viên, số phiếu bầu và kết quả bầu cử, công bố việc bầu cử hay trưng cầu dân ý không được tiến hành hoặc không có hiệu lực, hay quyết định liên quan đến việc tổ chức lại bầu cử hoặc trưng cầu dân ý, huỷ quyết định của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý theo thủ tục quy định tại khoản 8, Điều 21 và các khoản 6, 7, 8 Điều 63 của Luật Liên Bang này được thông qua tại cuộc họp của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý trên cơ sở biểu quyết đa số của số thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý.

9. Các quyết định của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý liên quan đến các vấn đề khác được thông qua tại cuộc họp của Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý thông qua biểu quyết đa số của số thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý có mặt.

10. Trong trường hợp số phiếu ngang nhau khi Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý thông qua quyết định, thì phiếu của Chủ tịch Ủy ban bầu cử, Ủy ban trung cầu dân ý sẽ có tính quyết định.

11. Các quyết định của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý được chủ tịch, thư ký Ủy ban bầu cử, ủy ban trưng cầu dân ý ký.

12. Các thành viên của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý không đồng ý với quyết định của Ủy ban có quyền nêu ý kiến bằng văn bản và ý kiến đó sẽ được Ủy ban xem xét, ghi vào biên bản đính kèm và được chủ tịch Ủy ban thông báo lên Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cấp trên (khi có cấp bầu cử, trưng cầu dân ý) trong thời hạn 3 ngày hoặc ngay lập tức, nếu ý kiến được nêu vào ngày bầu cử hoặc ngày tiếp sau ngày bầu cử.

13. Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga có biên chế cán bộ và có cơ cấu tổ chức; số biên chế do chính Ủy ban bầu cử quyết định và các nhân viên trong biên chế được coi như viên chức nhà nước. Các Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý có quyền tuyển dụng nhân viên từ bên ngoài trên cơ sở hợp đồng nhằm hoàn thành các công việc liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử, trưng cầu dân ý.



CHƯƠNG V. ĐỀ CỬ VÀ ĐĂNG KÝ ỨNG CỬ VIÊN, THỰC HIỆN SÁNG KIẾN VẾ VIỆC TỔ CHỨC TRƯNG CẦU DÂN Ý

Điều 28. Quyền đề cử ứng cử viên

1. Các ứng cử viên có thể được đề cử bởi các cử tri của đơn vị bầu cử cấp huyện và có thể tự ứng cử. Các ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) có thể được đề cử bởi các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử.

2. Việc đề cử ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) phải được nêu rõ cho người được đề cử (mỗi người được đề cử) và sau khi người đó đã có văn bản đồng ý việc được đề cử. Văn bản đồng ý phải nêu rõ các số liệu về lý lịch (họ, tên, tên đệm, ngày sinh trình độ văn hoá, nơi làm việc chủ yếu (hoặc tính chất công việc, nếu không có nơi làm việc chủ yếu), vị trí công tác, những thông tin liên quan đến việc bị kết án và xoá án tích, số và tên của điều của Bộ Luật hình sự Liên Bang Nga làm cơ sở cho việc kết án và điều của Bộ Luật hình sự được áp dụng phù hợp với đạo luật hình sự cơ bản của Liên bang xô viết và của các nước cộng hoà liên bang; điều của luật nước ngoài, nếu ứng cử viên bị kết án theo văn bản pháp luật của nước đó vì hành vi được Bộ Luật hình sự hiện hành của Liên Bang Nga coi là tội phạm; địa vị công dân bao gồm cả địa vị công dân nước ngoài có chỉ rõ ngày và cơ sở được trao quyền công dân). Văn bản cũng nêu rõ việc thừa nhận nghĩa vụ chấm dứt các hoạt động không thích hợp với tư cách đại biểu hoặc tư cách người đảm nhận vị tri nếu được bầu. Văn bản này cùng với thông báo về việc bắt đầu thu thập chữ ký được trình lên ủy ban bầu cử hữu quan. Nếu có ứng cử viên, ứng cử viên có đăng ký dùng bút danh trong hoạt động sáng tác của mình, hoặc trong số các ứng cử viên có những người trùng họ, thì trong thời hạn 5 ngày sau khi hết hạn trình tài liệu đăng ký, ứng cử viên đó phải đăng ký bút danh của mình với Ủy ban bầu cử. Nếu có người trùng họ, mà trong suốt quá trình vận động bầu cử, người đó sử dụng biệt danh cùng với họ, tên và tên đệm của mình, thì bút danh đó phải được nêu ra cùng với họ, tên và tên đệm trong tất cả các tài liệu chính thức. (bao gồm cả các tài liệu thông tin) và các tài liệu khác do Ủy ban bầu cử đó và Ủy ban bầu cử cấp dưới soạn thảo. Bút danh đó không được trùng với tên hoặc bút danh đã đăng ký trước của ứng cử viên khác đã được đề cừ hoặc đã đăng ký tại cùng một đơn vị bầu cử cấp huyện hoặc ở đơn vị bầu cử cấp huyện giáp ranh với đơn vị bầu cử đó.

3. Thời hạn đề cử ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) theo quy định pháp luật, ít nhất là 45 ngày đối với việc bầu cử Tổng thống Liên Bang Nga, các đại biểu Duma quốc gia Liên Bang Nga và các cơ quan nhà nước Liên Bang theo quy định của Hiến pháp và do công dân bầu trực tiếp; ít nhất là 30 ngày đối với việc bầu cử vào các cơ quan nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga; ít nhất là 20 ngày đối với việc bầu cử vào các cơ quan của chính quyền tự quản địa phương, bầu người đứng đầu và các quan chức khác của đơn vị hành chính thành phố.

4. Tất cả các ứng cử viên bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Các ứng cử viên giữ trọng trách ở thành phố hay quốc gia không được lợi đụng vị trí công tác của mình.

5. Trong Luật Liên Bang này, việc lợi dụng vị trí công tác có nghĩa là:

* Lôi kéo những người cấp dưới hay người lệ thuộc trong công tác, những nhân viên khác của nhà nước hay thành phố vào các hoạt động liên quan đến việc đề cử hay bầu cử trong giờ làm việc;

* Sử dụng trụ sở của cơ quan nhà nước hay cơ quan của chính quyền tự quản địa phương để tiến hành các hoạt động liên quan đến việc đề cử và bầu cử, nếu các ứng cử viên khác và ứng cử viên có đăng ký không thể sử dụng cùng các trụ sở đó trong cùng điều kiện như nhau;

* Sử dụng điện thoại, máy fax và các loại phương tiện thông tin liên lạc khác, các thiết bị văn phòng của cơ quan nhà nước hoặc cơ quan chính quyền tự quản địa phương để tiến hành việc thu thập chữ ký và vận động bầu cử;

* Sử dụng miễn phí hoặc với điều kiện ưu đãi các phương tiện giao thông của nhà nước hay thành phố để tiến hành các hoạt động liên quan đến việc đề cử hay bầu cử. Quy định này không án đụng đối với những người sử dụng các phương tiện nêu trên phù hợp với luật Liên Bang về an ninh quốc gia;

* Thu thập chữ ký hoặc vận động bầu cử bởi nhân viên nhà nước hay thành phố trong quá trình công tác được thanh toán bằng kinh phí nhà nước hay thành phố;

* Tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng với đặc quyền (so với các ứng cử viên khác, các ứng cử viên có đăng ký) theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật Liên Bang này nhằm thu thập chữ ký và vận động bầu cử.

Việc tuân thủ các quy định trên không được ảnh hưởng đến việc thực thi nghĩa vụ đối với cử tri của các đại biểu, quan chức được bầu.

Được sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 29. Cử tri trực tiếp đề cử các ứng cử viên

1. Việc cử tri trực tiếp đề cử các ứng cử viên là việc ứng cử hoặc đề cử theo sáng kiến cử tri, nhóm cử tri có quyền bỏ phiếu cho ứng cử viên đó, thông qua việc thông báo về việc đề cử, ứng cử với ủy ban bầu cử nơi cử tri được đăng ký và thông qua việc thu thập chữ ký ủng hộ cử tri tiến hành sau đó.

2. Luật của chủ thể Liên Bang Nga không được yêu cầu về việc phải tổ chức họp cử tri với số người tham gia được quy định, để các cử tri trực tiếp đề cử ứng cử viên.

Điều 30. Các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đề cử ứng cử viên.

1. Các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có quyền đề cử các ứng cử viên (danh sách ứng cử viên).

2. Các ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) của các hiện hội bầu cử toàn nga được đề cử thông qua bỏ phiếu kín tại hội nghị liên bang của các hiệp hội nêu trên về việc bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, tại cuộc họp của các chi nhánh vùng về việc bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước của chính quyền tự quản địa phương. Thủ tục đề cử các ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) của các hiệp hội công có đăng ký với cơ quan tư pháp của chủ thể Liên Bang Nga được quy định bởi các luật của chủ thể Liên Bang Nga dựa trên cơ sở các quy định của Luật Liên Bang này.

3. Các khối bầu cử do các hiệp hội bầu cử hình thành nên. Quyết định liên quan đến khối bầu cử được thông qua tại các cuộc họp của các hiệp hội bầu cử. Sau đó, các đại diện được uỷ quyền của các hiệp hội bầu cử ký vào bản tuyên bố chung về việc hình thành khối bầu cử. Quyết định liên quan đến việc đề cử ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) của khối bầu cử được thông qua tại cuộc họp của khối và được các đại diện uỷ quyền của hiệp hội bầu cử đã thành lập khối ký. Các khối bầu cử được đăng ký với Ủy ban bầu cử trước hoặc đồng thời với việc trình Ủy ban bầu cử danh sách chung các ứng cử viên. Các hiệp hội bầu cử thành lập một khối bầu cử sẽ không nhập vào khối bầu cử khác trong cùng một cuộc bầu cử hoặc không hoạt động với tư cách hiệp hội bầu cử độc lập. Một hiệp hội chính trị công mà là người sáng lập, thành viên và người tham gia của một hiệp hội chính trị công khác và tham gia vào việc bầu cử với tư cách là một hiệp hội bầu cử hoặc tham gia vào việc hình thành một hiệp hội bầu cử thì sẽ không được tham gia vào cùng cuộc bầu cử đó với tư cách là hiệp hội đề cử ứng cử viên độc lập hoặc tham gia vào việc hình thành một khối bầu cử.

4. Tên của hiệp hội bầu cử là tên được nêu trong điều lệ của hiệp hội chính trị tương ứng.

5. Tên của khối bầu cử được xác định tại cuộc họp của đại diện các hiệp hội bầu cử đã hình thành khối bầu cử đó. Khối bầu cử không được lấy tên của hiệp hội công đã được đăng ký ở cấp đó hoặc cấp cao hơn và không tham gia khối bầu cử đó với tư cách hiệp hội bầu cử, hoặc dùng tên của khối bầu cử khác đã được đăng ký. Tên và họ của một thể nhân có thể được sử dụng làm tên của khối bầu cử, nếu được sự đồng ý của người đó.

6. Trong các trường hợp được quy định tại luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của chủ thể Liên Bang Nga, khi trình danh sách ứng cử viên, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có thể trình biểu hiệu của mình cho Ủy ban bầu cử liên quan. Hiệp hội bầu cử chỉ có thể trình biểu hiệu đã được đăng ký phù hợp với thủ tục quy định tại luật Liên Bang. Một khối bầu cử có thể trình bất kỳ biểu hiệu nào của các hiệp hội bao gồm trong khối bầu cử đó hoặc biểu hiệu khác, trừ các biểu hiệu đã đăng ký của các hiệp hội công, các khối bầu cử đã đề cử ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) trong các cuộc bầu cử trước ở cấp cao hơn. Các biểu tượng của hiệp hội bầu cử, khối bầu cử không được vi phạm quyền công dân về sở hữu trí tuệ, mang tính lăng mạ hoặc bôi nhọ biểu tượng quốc gia (như cờ, quốc hiệu, quốc ca) của Liên Bang Nga, chủ thể Liên Bang Nga, các quốc gia khác, biểu tượng tôn giáo và tình cảm dân tộc, hoặc vi phạm các quy phạm đạo đức đã được thừa nhận chung.

7. Tên và biểu hiệu của các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử không được thay đổi trong quá trình chiến dịch bầu cử.

8. Danh sách ứng cử viên được đề cử bởi các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử được hiệp hội bầu cử, khối bầu cử trong đơn vị bầu cử cấp huyện trình lên ủy ban bầu cử liên quan cùng với văn bản của các ứng cử viên thể hiện sự đồng ý với việc đề cử. Trong danh sách các ứng cử viên, các văn bản nêu trên được lập phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Liên Bang này. Trong thời hạn 3 ngày, Ủy ban bầu cử xác nhận danh sách các ứng cử viên được đề cử bởi các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử. Sau đó mới tiến hành việc thu thập chữ ký cử tri ủng hộ cho các ứng cử viên được đề cử.

9. Sau khi đanh sách ứng cử viên được trình lên Ủy ban bầu cử, các ứng cử viên trong danh sách và thứ tự của họ không được thay đổi, ngoài việc rút lui khỏi danh sách ứng cử viên. Đối với các trường hợp được quy định tại luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của chủ thể Liên Bang Nga, quy tắc này sẽ không được áp dụng trong việc tiến hành bầu cử ở các đơn vị bầu cử cấp huyện uỷ có một ghế đại biểu.

10. Đối với các đơn vị bầu cử cấp huyện có nhiều ghế đại biểu, một khối bầu cử có thể đề cử một ứng cử viên cho mỗi ghế đại biểu được phân cho huyện đó.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương