Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang3/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

CHƯƠNG IV. CÁC UỶ BAN BẦU CỬ, ỦY BAN TRUNG CẦU DÂN Ý

Điều 21. Hệ thống và địa vị pháp lý của các uỷ han bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý

1. Các ủy ban bầu cử sau đây hoạt động trong Liên Bang Nga:

* Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga;

* Các Uỷ ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga;

* Các Uỷ ban bầu cử cấp huyện; Uỷ ban bầu cử cấp huyện được hình thành trong các trường hợp quy định tại Luật hiến pháp, Liên Bang Nga, Luật của chủ thể Liên Bang Nga về việc bầu cử ở các đơn vị bầu cử cấp huyện có một ghế đại biểu và đơn vị bầu cử cấp huyện có nhiều ghế đại biểu;

* Uỷ ban bầu cử theo lãnh thổ (lãnh thổ tương đương cấp huyện, thành phố v.v..). Trong phạm vi ranh giới của một đơn vị lãnh thổ hành chính có số cử tri đông thì có thể hình thành một số Uỷ ban bầu cử; trong các trường hợp quy định tại Luật hiến pháp, Liên Bang Nga, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, các uỷ ban bầu cử theo lãnh thổ sẽ hoạt động như các Uỷ ban bầu cử của đơn hành chính thành phố.

* Uỷ ban bầu cử khối.

2. Khi tiến hành trưng cầu dân ý, Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Uỷ ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga hoạt động với tư cách Uỷ ban trưng cầu dân ý. Các Uỷ ban bầu cử khác có thể hoạt động với tư cách ủy ban trưng cầu dân ý theo quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan của chính quyền tự quản địa phương chịu trách nhiệm hình thành các Uỷ ban bầu cử theo thủ tục quy định tại Luật Liên Bang này.

3. Các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý ở Liên Bang Nga bảo đảm việc thực hiện các quyền và bảo vệ các quyền của công dân và quyền tham gia trưng cầu dân ý; chuẩn bị và tổ chức bầu cử và trưng cầu dân ý ở Liên Bang Nga.

4. Trong phạm vi thẩm quyền, các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý xem xét các đơn khiếu nại mà họ nhận được trong quá trình diễn ra bầu cử và trưng cầu dân ý liên quan đến các hành vi vi phạm Liên Bang Nga này, Luật hiến pháp, Liên Bang Nga, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố cùng với các hành vi bầu cử, trưng cầu dân ý, kiểm tra các đơn khiếu nại và trả lời người viết đơn trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn, nhưng phải sớm hơn một ngày trước ngày bỏ phiếu; nếu nhận đơn vào ngày bỏ phiếu hoặc ngày tiếp sau ngày bỏ phiếu, thì phải trả lời ngay. Nếu những vấn đề được nêu trong đơn cần phải được điều tra bổ sung, thì thời hạn ra quyết định liên quan đến đơn đó là 10 ngày. Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có thể gửi các yêu cầu đến cơ quan thi hành pháp Luật để tiến hành điều tra bổ sung và chấm dứt việc vi phạm Luật Liên Bang này, Hiến chương của đơn vị hành chính thành phố liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử, trưng cầu dân ý. Cơ quan thi hành pháp Luật phải áp dụng các biện pháp để chấm dứt vi phạm trong thời hàn 10 ngày, nhưng phải sớm hơn một ngày trước ngày bỏ phiếu; nếu nhận được yêu cầu vào ngày bỏ phiếu hoặc ngày tiếp sau ngày bỏ phiếu, thì phải áp dụng biện pháp ngay. Nếu sự việc nêu trong đơn cần phải được điều tra bổ sung, thì trong thời hạn 10 ngày phải áp dụng các biện pháp để chấm dứt vi phạm.

5. Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải thông báo cho cử tri người tham gia trưng cầu dân ý về thời gian và các quy tắc hoạt động bầu cử hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành trưng cầu dân ý; về tiến triển của chiến dịch bầu cử, chuẩn bị và tiến hành trưng cầu dân ý; về các ứng viên, ứng cử viên có đăng ký.

6. Thẩm quyền của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga và thủ tục hoạt động của uỷ ban do Luật Liên Bang này, Luật hiến pháp và các Luật Liên Bang khác quy định.

7. Thẩm quyền của Uỷ ban bầu cử khác, Uỷ ban trưng cầu dân ý và thủ tục hoạt động của Uỷ ban trong việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước Liên Bang và trưng cầu dân ý của Liên Bang Nga do Luật Liên Bang này, Luật hiến pháp và các Luật Liên Bang quy định; các hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga và cơ quan của chính quyền tự quản địa phương, trưng cầu dân ý của các chủ thể Liên Bang Nga do Luật Liên Bang này Hiến pháp, Hiến chương, luật của chủ thể Liên Bang Ngay Hiến chương của đơn vị hành chính thành:phố quy định.

8. Việc Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý kết hợp thẩm quyền về tổ chức bầu cử và trưng cầu dân ý thuộc các cấp phải được phép theo quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên (trường hợp có các cấp bầu cử và trưng cầu dân ý) trên cơ sở đơn yêu cầu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới, có sự đồng ý của cơ quan quyền lực nhà nước cấp tương ứng của chủ thể Liên Bang Nga, cơ quan chính quyền tự quản địa phương.

9. Các quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng. cầu dân ý cấp trên ( trường hợp có các cấp bầu cử và trưng cầu dân ý) có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới.

10. Các quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý trái với Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang Nga, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, hoặc được ban hành bồi Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý vượt quá thẩm quyền theo quy định sẽ bị Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên hoặc Toà án bãi bỏ (trường hợp có các cấp bầu cử và trưng cầu dân ý). Trong trường hợp này, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên có quyền ra quyết định liên quan đến các vấn đề trong quyết định bị bãi bỏ.

11. Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, các Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga là các cơ quan nhà nước chuẩn bị và tổ chức bầu cử, trưng cầu dân ý ở Liên Bang Nga theo thẩm quyền quy định tại Luật Liên Bang này, Luật hiến pháp Liên Bang, các Luật Liên Bang khác, Luật của chủ thể Liên Bang Nga.

12. Trong phạm vi thẩm quyền, các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý độc lập với các cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan chính quyền tự quản địa phương.

13 . Các quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý được ban hành trong phạm vi thẩm quyền quy định tại Luật Liên Bang này, các Luật hiến pháp Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga có hiệu lực thi hành đối với các cơ quan hành pháp, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, các ứng cử viên, ứng cử viên có đăng ký, hiệp hội bầu cử, khối bầu cử, hiệp hội công, cơ quan, tổ chức, nhân viên, cử tri và người tham gia trưng cầu dân ý.

14. Hoạt động của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga được sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước; hoạt động của Uỷ ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga được cấp kinh phí từ ngân sách Liên Bang và ngân sách của chủ thể Liên Bang Nga; hoạt động của Uỷ ban bầu cử theo lãnh thổ hoạt động thường xuyên được cấp kinh phí từ ngân sách địa phương và trong các trường hợp Luật Liên Bang và Luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định được cấp từ ngân sách Liên Bang hoặc ngân sách của chủ thể Liên Bang Nga.

15. Hàng năm, Uỷ ban bầu cử trung ương trình báo cáo về việc chi kinh phí được cấp từ ngân sách Liên Bang cho các hoạt động bầu cử theo thủ tục và hình thức do các Luật Liên Bang quy định. Hàng năm, các Uỷ ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga trình báo cáo về việc chi kinh phí được cấp từ ngân sách của các chủ thể Liên Bang Nga cho các hoạt động bầu cử theo thủ tục và hình thức do các Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định.

16. Các cơ quan nhà nước, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp có cổ phần nhà nước và các quan chức phải hỗ trợ cho các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý trong việc thực thi thẩm quyền của các Uỷ ban đó; cung cấp địa điểm, phương tiện giao thông, liên lạc, trang thiết bị kỹ thuật, các dữ liệu và tài liệu và trả lời các yêu cầu của các Uỷ ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý trong thời hạn quy định tại các Luật hiến pháp, Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga; các phương tiện thông tin đại chúng nêu tại khoản 1 Điều 39 tạo điều kiện cho các Uỷ ban đó in ấn các thông tin về các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý theo thủ tục quy định tại Luật Liên Bàng này, Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang Nga, Luật của chủ thể Liên Bang Nga. Các hiệp hội công, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, phương tiện thông tầm đại chúng không được nêu tại khoản 1 Điều 39 của Luật Liên Bang này và các quan chức khác cung cấp các thông tin và tài liệu cần thiết cho các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý và đáp ứng các yêu cầu của các Uỷ ban đó trong thời hạn quy đỉnh tại các Luật Liên Bang và Luật của chủ thể Liên Bang Nga.



Được sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 22. Địa vị (pháp lý) và thủ tục hình thành Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga

1. Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga hoạt động thường xuyên và là một pháp nhân. Nhiệm kỳ của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga là bốn năm.

2. Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga có mười lăm thành viên. Viện Duma quốc gia thuộc Nghị viện Liên Bang Nga bổ nhiệm năm thành viên của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga trong số các ứng cử viên do các phe nhóm thuộc Viện Duma quốc gia, hiệp hội của các đại biểu của Viện Duma quốc gia và bản thân các đại biểu của Viện đề cử. Mỗi hiệp hội của các đại biểu của Viện Duma quốc gia được đề cử không quá một đại diện. Năm thành viên của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga do Hội đồng Liên Bang thuộc Nghị viện Liên Bang Nga bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do các cơ quan lập pháp và hành pháp Nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga chỉ định. Tổng thống Liên Bang Nga bổ nhiệm năm thành viên của Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga.

3. Các thành viên của Uỷ ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga được đào tạo đại học luật hoặc có một học vị luật học.

4. Các thành viên của Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga tổ chức công việc trong phạm vi các lĩnh vực hoạt động cụ thể của Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, được quy định bởi Quy chế về Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga và chịu trách nhiệm về kết quả công việc trong các lĩnh vực nêu trên.

5. Các thành viên của Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga bầu Chủ tịch Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga và Thư ký Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga trong số thành viên thông qua bỏ phiếu kín.

6. Trong phạm vi thẩm quyền, Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga chỉ đạo hoạt động của các Ủy ban bầu cử liên quan đến việc bầu cử vào các cơ quan nhà nước liên bang và tiến hành các cuộc trưng cầu dân ý của Liên Bang Nga.

7. Cùng với các Ủy ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga có trách nhiệm:

* Kiểm tra việc tôn trọng các quyền bầu cử của công dân và quyền công dân tham gia các cuộc trưng cầu dân ý;

* Xây dựng và thông qua các tiêu chuẩn về trang thiết bị cần thiết để bảo đảm cho các Ủy ban bầu cử hoàn thành nhiệm vụ; thực hiện kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chuẩn đó;

* Bảo đảm việc thực hiện các chương trình theo mục tiêu đặc biệt của Liên Bang liên quan đến việc tổ chức và tiến hành bầu cử và các cuộc trưng cầu dân ý, đến việc phát triển hệ thống bầu cử của Liên Bang Nga, các chương trình giáo dục, huấn luyện cử tri dành cho cán bộ phụ trách công tác bầu cử;

* Áp dụng các biện pháp để tổ chức một hệ thống tài trợ cho các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, thủ tục thống nhất quy định về thời gian cho các ứng cử viên có đăng ký, các hiệp hội bầu cử, các khối hầu cử hướng tới các chiến dịch bầu cử; xác định số phiếu bầu, kết quả bầu cử và trưng cầu dân ý ở Liên Bang Nga; thủ tục công bố kết quả bầu cử và trưng cầu dân ý;

* Phân bổ kinh phí từ ngân sách Liên Bang để hỗ trợ tài chính cho việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử và trưng cầu dân ý và kiểm tra việc sử dụng đúng đắn nguồn kinh phí;

* Hỗ trợ về pháp lý, huấn luyện, tổ chức và kỹ thuật cho các Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý;

* Xem xét các báo cáo của các cơ quan hành pháp Liên Bang, cơ quan hành pháp của các chủ thể Liên Bang Nga và các cơ quan thuộc chính quyền tự quản địa phương về các vấn đề liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử và trưng cầu dân ý ;

* Xây dựng các yêu cầu về bỏ phiếu kín (bao gồm cả mức độ bảo vệ) áp đụng trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý; danh sách cử tri, những người tham gia trưng cầu dân ý và các tài liệu khác về bầu cử cũng như các tài liệu liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành trưng cầu dân ý;

* Xử lý các ý kiến phản ảnh về các quyết định và các hoạt động của Ủy ban bầu cử cấp dưới và ra các quyết định để khắc phục vấn đề;

* Thực hiện các quyền khác phù hợp với luật Liên Bang, các luật hiến pháp Liên Bang và các luật khác của Liên Bang.

8. Trong phạm vi kinh phí được cấp từ ngân sách Liên Bang, Ủy ban bầu cử trung ương xác định tổng số tiền công lao động phải trả và cách thức trả tiền công cho người làm tại các cơ quan, tổ chức được thành lập để hỗ trợ hoạt động của Ủy ban bầu cử trung ương.

9. Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga cùng cối các cơ quan nhà nước Liên Bang, Ủy ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga, các cơ quan hành pháp của các chủ thể Liên Bang Nga và các cơ quan thuộc chính quyền tự quản địa phương chuẩn bị và áp dụng hệ thống quốc gia về đăng ký cử tri và tham gia việc đăng ký.

10. Trong phạm vi thẩm quyền, Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga có quyền ban hành các hướng dẫn liên quan đến việc áp dụng thống nhất Luật Liên Bang; giải nhích và hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các Luật hiến pháp Liên Bang và các Luật Liên Bang khác, nếu các Luật hiến pháp Liên Bang và các luật Liên Bang khác có quy định.

11. Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga có quyền nêu kết luận về việc luật của các chủ thể Liên Bang Nga có phù hợp với luật này của Liên Bang hay không.

12. Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga có một tờ tin chính thức.

Điều 23. Việc thành lập và nhiệm kỳ của các Ủy ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga, các Ủy ban bầu cử cấp huyện, lãnh thổ và khu vục, Ủy ban trưng cầu dân ý theo lãnh thổ

1. Ủy ban bầu cử của các chủ thể Liên Bang Nga cũng như Ủy ban bầu cử cấp huyện có nhiệm vụ về bầu cử vào các cơ quan nhà nước Liên Bang do cơ quan lập pháp và hành pháp của các chủ thể Liên Bang thành lập trên cơ sở đề nghị của các hiệp hội công, các cơ quan được bầu cử của chính quyền tự quản địa phương, Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga hoặc Ủy ban bầu cử cấp huyện trong kỳ họp trước. Trong trường hợp này, số quan chức nhà nước không được vượt quá 1/3 tổng số thành viên Ủy ban bầu cử. Nửa số thành viên của Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử cấp huyện có nhiệm vụ về bầu cử các cơ quan nhà nước do cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga bổ nhiệm, một nửa số còn lại do cơ quan hành pháp của chủ thể Liên Bang Nga bổ nhiệm. Cả cơ quan lập pháp và hành pháp của chủ thể Liên Bang Nga bổ nhiệm không dưới một phần ba số thành viên Ủy ban bầu cử mà các cơ quan này được quyền bổ nhiệm, trên cơ sở đề nghị của mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có phe nhóm của mình ở Viện Duma quốc gia thuộc Nghị viện Liên Bang Nga và trên cơ sở đề nghị của các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có phe nhóm của mình ở cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga. Trong trường hợp này, không quá một đại diện của mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử được bổ nhiệm vào Ủy ban bầu cử.

2. Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ, Ủy ban trưng cầu dân ý theo lãnh thổ và Ủy ban bầu cử cấp huyện có nhiệm vụ về bầu cử các cơ quan nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga và các cơ quan của chính quyền tự quản được thành lập trên cơ sở đề nghị của các hiệp hội công, các cuộc họp cử tri ở nơi họ sinh sống, làm việc, học tập hoặc đề nghị của Ủy ban bầu cử trong kỳ họp trước và Ủy ban bầu cử khu vực, Ủy ban trưng cầu dân ý trên cơ sở kiến nghị của các hiệp hội bầu cử, các cuộc họp cử tri ở nơi họ sinh sống, làm việc, học tập, hoặc bởi cơ quan đại điện chính quyền tự quản địa phương. Cơ quan đại diện chính quyền tự quản địa phương bổ nhiệm không được một phần ba số thành viên của Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ và khu vực, Ủy ban trưng cầu dân ý và Ủy ban bầu cử cấp huyện có nhiệm vụ về bầu cử các cơ quan nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga và các cơ quan của chính quyền tự quản địa phương trên cơ sở đề nghị của mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có phe nhóm của mình ở Viện Duma quốc gia thuộc Nghị viện Liên Bang Nga và trên cơ sở đề nghị của các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có phe nhóm của mình ở cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga và trong cơ quan đại diện của chính quyền tự quản địa phương. Trong trường hợp này, không quá một đại điện của mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử được bổ nhiệm vào Ủy ban bầu cử.

3. Trong các chủ thể Liên Bang Nga, nơi hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước có quy định việc thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước theo vùng và các đơn vị hành chính theo lãnh thổ khác, Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ, Ủy ban trưng cầu dân ý của cấp tương ứng do các cơ quan lập pháp và hành pháp thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Trong trường hợp nhiệm kỳ của Duma quốc gia Liên Bang Nga, cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga hay cơ quan của chính quyền địa phương tự quản chấm dứt trước thời hạn, quyền đưa ra đề nghị liên quan đến thành phần của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý vẫn được duy trì bởi các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có phe cánh ở Duma quốc gia thuộc Nghị viện Liên Bang Nga, cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga, cơ quan chính quyền địa phương tự quản trong kỳ họp cuối.

5. Nếu các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan chính quyền tự quản địa phương được Luật này của Liên Bang uỷ quyền, nhưng không bổ nhiệm được các thành viên hay một số thành viên của Ủy ban bầu cử của huyện lãnh thổ hay khối bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý trong thời hạn luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của chủ thể Liên Bang Nga, Điều lệ của đơn vị lãnh thổ quy định, hoặc không có cơ quan quyền lực nhà nước tương ứng hay cơ quan của chính quyền tự quản trong lãnh thổ, thì các thành viên hay một số thành viên của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý sẽ được bổ nhiệm bởi Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cấp trên phù hợp với yêu cầu của Luật Liên Bang này, Luật hiến pháp Liên Bang, Luật Liên Bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga, Điều lệ của đơn vị lãnh thổ.

6. Theo luật của chủ thể Liên Bang Nga hay luật của cơ quan chính quyền tự quản địa phương, nếu một ủy ban bầu cử theo lãnh thổ hoạt động thường xuyên, thì nó cũng hoạt động với tư cách Ủy ban trưng cầu dân ý theo lãnh thổ.

7. Ủy ban bầu cử khu vực, Ủy ban trưng cầu dân ý được thành lập không chậm hơn ba ngày sau khi hình thành khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý.

8. Để bảo đảm quyền của công dân Liên Bang Nga trong việc bầu cử và được bầu vào các cơ quan chính quyền tự quản địa phương, có thể có các quy định tạm thời về việc thành lập các Ủy ban bầu cử cho các cuộc bầu cử cơ quan chính quyền tự quản địa phương; quy định này có hiệu lực bắt buộc thi hành, trừ trường hợp luật của chủ thể Liên Bang Nga có quy định khác.

9. Số các cán bộ, công chức nhà nước hoạt động với tư cách là các cán bộ của cơ quan chính quyền tự quản địa phương không được vượt quá 1/3 tổng số thành viên Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ và khu vực có trách nhiệm về việc bầu cử cho các cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể Liên Bang Nga, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, ủy ban trưng cầu dân ý theo lãnh thổ hay khu vực.

10. Các ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga hoạt động thường xuyên và là các pháp nhân. Nhiệm kỳ của ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga do luật của các chủ thể Liên Bang Nga quy định, nhưng không được vượt quá năm năm và ít hơn nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga. Nếu Hiến pháp, Hiến chương, luật của chủ thể Liên Bang Nga không quy định nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga, thì nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga cũng không được ít hơn nhiệm kỳ của các đại biểu được bầu của các cơ quan nêu trên.

11. Nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử cấp huyện có nhiệm vụ về việc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang bằng nhiệm kỳ của cơ quan nhà nước đó.

12. Nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ, Ủy ban trưng cầu dân ý do các luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của chủ thể Liên Bang Nga, điều lệ của đơn vị hành chính quy định; nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử cấp huyện có nhiệm vụ về việc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước của chủ thể liên bang Nga, cơ quan chính quyền tự quản địa phương do luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định. Luật của chủ thể Liên Bang Nga, điều lệ của đơn vị hành chính có thể quy định về việc Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ hoạt động thường xuyên. Trong trường hợp này, nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ không ngắn hơn nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp của chính quyền tự quản địa phương, mà Ủy ban bầu cử theo lãnh thổ chuẩn bị và thực hiện việc bầu cử chính cơ quan đó. Nếu luật của chủ thể Liên Bang Nga, điều lệ của đơn vị hành chính không quy định nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp của chính quyền tự quản địa phương, thì nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử cũng không được ít hơn nhiệm kỳ của các đại biểu được bầu của các cơ quan nêu trên.

13. Nhiệm kỳ của các Ủy ban bầu cử khu vực, Ủy ban trưng cầu dân ý chấm dứt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày công bố chính thức kết quả bầu cử kết quả trưng cầu dân ý, nếu Ủy ban bầu cử cấp trên không nhận được khiếu nại hay kháng nghị nào về hoạt động của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý đó do có sự vi phạm trong quá trình bầu cử hay kiểm phiếu, và không có vụ kiện tụng nào liên quan đến vấn đề bầu cử. Nếu kết quả bỏ phiếu bị khiếu nại, thì nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử khu vực sẽ chấm dứt sau khi ủy ban bầu cử cấp trên hoặc Toà án có quyết định cuối cùng về vấn đề bị khiếu nại hay kháng nghị.

14. Uỷ ban bầu cử hoạt động thường xuyên tiến hành phiên họp đầu tiên không chậm hơn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định liên quan đến việc bổ nhiệm các thành viên của Ủy ban bầu cử. Trong trường hợp này, không dưới hai phần ba số thành viên của Ủy ban bầu cử phải được bổ nhiệm vào Ủy ban bầu cử. Nhiệm kỳ của Ủy ban bầu cử trước chấm dứt từ ngày kỳ ban bầu cử mới tiến hành cuộc họp đầu tiên.

Sửa đổi ngày 30/3/1999

Điều 24. Tư cách pháp lý của các thành viên ủy ban bầu cử ủy ban trưng cầu dân ý

1. Đại biểu các cơ quan lập pháp, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, quan chức được bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, các thẩm phán, các ứng cử viên, ứng cử viên có đăng ký, người đại diện được uỷ quyền và đại diện các nhóm cử tri, các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử đã đề cử ứng cử viên, các nhóm sáng kiến về trưng cầu dân ý, các thành viên không bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trung cầu dân ý, vợ, chồng và người thân của các ứng cử viên, ứng cử viên có đăng ký hoặc cấp dưới trực tiếp của ứng cử viên, ứng cử viên có đăng ký không được là thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý.

2. Trong Luật Liên Bang này, cấp dưới trực tiếp là mối quan hệ chính thức giữa cấp trên và người cấp dưới, khi mà cấp trên có thẩm quyên và kiểm soát về mặt hành chính đối với người cấp dưới; tức là người đó có quyền thuê hoặc chấm dứt mối quan hệ với người cấp dưới, hoặc ra lệnh, chỉ thị, khuyến khích hoặc kỷ luật người cấp dưới trong phạm vi thẩm quyền của mình.

3. Thành viên có quyên bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý thì không phải là thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên hay cấp dưới, trong trường hợp có cấp bầu cử, trưng cầu dân ý.

4. Nhiệm kỳ của thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý chấm dứt cùng với nhiệm kỳ của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đó.

5. Thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có thể bị bãi nhiệm trước khi hết nhiệm kỳ, theo quyết định của cơ quan đã bổ nhiệm thành viên đó, trong những trường hợp sau đây:

* Nếu thành viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có đơn đơn xin từ chức bằng văn bản;

* Thành viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý bị tước quyền công dân Nga;

* Bản án của Toà liên quan đến thành viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có hiệu lực pháp luật;

* Khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án xác nhận việc thành viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý không có năng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi, bị mất tích hoặc chết;

* Thành viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý chết;

* Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật về việc coi thành viên đó của Uỷ ban bầu cử,Uỷ ban trưng cầu dân ý thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ;

* Trên cơ sở được quy định tại khoản 1 Điều này.

6. Nhiệm kỳ của thành viên có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý chấm dứt khi ủy ban bầu cử giải thể theo quy định tại Điều 25 của Luật liên Bang này.

7. Trong thời hạn không quá một tháng; trong kỳ bầu cử, trưng cầu dân ý, thì không quá 10 ngày, kể từ ngày miễn nhiệm theo các yêu cầu nêu tại khoản 2, Điều 22, khoản 1 và 2 Điều 23 của Luật Liên Bang này, cơ quan đã bổ nhiệm thành viên của Uỷ bán bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý bổ nhiệm thành viên mới của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý thay thế cho thành viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý đã bị bãi nhiệm vì các lý do trên đây. Nếu cơ quan có thẩm quyền không đáp ứng yêu cầu trên, thì thành viên mới của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý sẽ do Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên bổ nhiệm phù hợp với các yêu cầu của Luật Liên Bang này.

8. Chủ tịch ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử khác hoạt động thường xuyên có thể giữ chức vụ thường xuyên trong Ủy ban. Về nguyên tắc, Chủ tịch Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga phải được đào tạo về luật ở cấp cao hơn và phải có học vị luật.

9. Thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử của chủ thể Liên Bang Nga, Ủy ban bầu cử khác hoạt động thường xuyên có thể giữ nhiệm vụ thường xuyên trong ủy ban.

10. Thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử giữ chức vụ thường xuyên thì không giữ chức vụ khác, không làm các nhiệm vụ khác của nhà nước hay khu vực hành chính, không tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, trừ các hoạt động khoa học, giảng dạy hay các hoạt động sáng tạo khác.

11. Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để trả công và cung cấp các bảo đảm về xã hội khác cho các thành viên giữ chức vụ thường xuyên trong Uỷ ban, hay hoạt động thường xuyên, cũng như cho các nhân viên của Uỷ ban. Tổng số và loại tiền công đối với hành viên của Ủy ban bầu cử giữ chức vụ thường xuyên hay hoạt động thường xuyên do luật Liên Bang, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của chủ thể Liên Bang Nga quy định và không thấp hơn tổng số và loại tiền công đối với người giữ chức vụ loại "A" trong cơ quan nhà nước liên bang, cơ quan lập pháp của chủ thể Liên Bang Nga hay cơ quan hành pháp của chủ thề Liên Bang Nga, hoặc người giữ chức vụ trong cơ quan của chính quyền tự quản địa phương.

12. Thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử rời bỏ nơi làm việc chính trong thời gian chuẩn bị và tiến hành bầu cử, trưng cầu dân ý, được trả công theo mức lương trung bình ở nơi làm việc chính. Khoản bổ sung trích từ kinh phí dành cho bầu cử, trưng cầu dân ý có thể được trả cho thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử là người đã rời bỏ nơi làm việc chính trong thời gian chuẩn bị và tiến hành bầu cử, trưng cầu dân ý. Tổng số tiền và cách thức trả tiền công do Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý có thẩm quyền quyết định theo luật về việc chỉ đạo hoạt động của các ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý cấp dưới chuẩn bị và tiến hành bầu cử, trưng cầu dân ý quy định. Tổng số tiền công lao động trả cho thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý và cách thức thanh toán tiền công từ kinh phí trích từ ngân sách Liên Bang do Ủy ban bầu cử trung ương Liên Bang Nga quy định theo Luật Liên Bang Nga.

13. Trong giai đoạn chuẩn bị và tổ chức bầu cử, các thành viên có quyền bỏ phiếu trưng cầu dân ý của Ủy bản bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý không thể bị truy tố nếu không có sự đồng ý của Bộ trưởng Tư pháp của chủ thể Liên Bang Nga và các thành viên Ủy ban bầu cử trung ương không thể bị Toà án truy tố hình sự hoặc xử phạt hành chính nếu không có sự đồng ý của Bộ trưởng Tư pháp Liên Bang Nga.

14. Thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý rời nhiệm sở chính trong giai đoạn chuẩn bị và tiến hành bầu cử sẽ được trả mức lương trung bình theo nhiệm sở chính.

15. Khi đăng ký một ứng cử viên ( danh sách ứng sử viên) với ủy ban bầu cử, ứng cử viên đó, hiệp hội bầu cử ( khối bầu cử) đề cử ứng viên đó có quyền chỉ định một thành viên không có quyền bỏ phiếu vào Ủy ban bầu cử nơi đã đăng ký ứng cử viên đó ( danh sách ứng viên) và vào Ủy ban bầu cử cấp dưới. Mỗi hiệp hội bầu cử, khối bầu cử nơi đã chỉ định ứng cử viên có đăng ký có thể chỉ định một thành viên không có quyền bỏ phiếu vào Ủy ban bầu cử được giao nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động của các Ủy ban bầu cử cấp dưới trong việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử theo quy định của Luật hiến pháp Liên bang, Luật liên bang, Luật của chủ thể Liên Bang Nga.

16. Trong qua trình trưng cầu dân ý, nhóm sáng kiến về trưng cầu dân ý và các hiệp hội bầu cử, khối bầu cử có đại diện trong cơ quan lập pháp, hoặc cơ quan đại diện của chính quyền tự quản địa phương hoặc cơ quan đại diện cấp cao hơn có quyền chỉ định một thành viên không có quyền bỏ phiếu của Ủy ban trưng cầu dân ý vào Ủy ban trưng cầu dân ý tương ứng hoặc cấp thấp hơn.

17. Thành viên không có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban có quyền như thành viên có quyền bỏ phiếu về các vấn đề liên quan đến việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử, trung cầu dân ý, trừ quyền bỏ phiếu trong bầu cử hay trưng cầu dân ý, quyền tham gia vào việc phân loại và kiểm phiếu, lập biên bản về số phiếu bầu, kết quả bầu cử, tham gia vào việc bỏ phiếu về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, ký các nghị quyết của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý .

18. Thành viên có quyền bỏ phiếu và thành viên không có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý:

* Được thông báo trước về các kỳ họp của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý liên quan;

* Có quyền phát biểu tại các cuộc họp của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý, nêu đề nghị về các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dấn ý liên quan và yêu cầu biểu quyết về các vấn đề đó;

* Có quyền nêu câu hỏi đối với những người tham gia cuộc họp theo nghị trình và nhận những câu trả lời thỏa đáng của họ;

* Có quyền kiểm tra các tài liệu ( bao gồm các danh sách cử tri, người tham gia trưng cầu dân ý, việc bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý) và các tài liệu được ghi âm của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý, nhận bản sao các tài liệu đó (trừ đanh sách cử tri, người tham gia trưng cầu dấn ý, việc bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý) và yêu cầu xác nhận các bản sao đó.

* Có quyền khiếu nại đối với hoạt động của Ủy ban bầu cử, Ủy ban trưng cầu dân ý lên Ủy ban cấp trên hoặc Toà án.

19. Nhiệm kỳ của thành viên không có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử kéo dài đến khi đăng ký xong các ứng cử viên cùng cơ quan hay cùng nhiệm sở (hay danh sách ứng cử viên) trong cuộc bầu cử thành công, nếu ứng cử viên là người đã chỉ định thành viên nêu trên, hay đanh sách ứng cử viên do các hiệp hội bầu cử hay khối bầu cử đề xuất đã trúng cử. Nhiệm kỳ của thành viên không có quyền bỏ phiếu khác của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý chấm dứt trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố chính thức kết quả bầu cử được tiến hành trong phạm vi lãnh thổ liên quan của chiến dịch bầu cử, hoặc 10 ngày sau khi công bố chính thức kết quả trưng cầu dân ý.

20. Trong giai đoạn nhiệm kỳ, thành viên không có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có các quyền nêu tại Điều này liên quan đến việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử, trưng cầu dân ý.

21. Nhiệm kỳ của thành viên không có quyền bỏ phiếu của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý có thể chấm dứt theo quyết định của người hoặc cơ quan đã chỉ định thành viên đó cho Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý và được chuyển giao cho người khác.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương