Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang11/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Điều 65. Trách nhiệm đối với các vi phạm quyền bầu cử và quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân

1. Những người cản trở việc thực hiện tự do các quyền bầu cử và được bầu của công dân của Liên bang Nga bằng cách sử dụng bạo lực, lừa gạt, đe doạ và các biện pháp khác hoặc lạm dụng vị trí chính thức để được bầu hoặc có được câu trả lời theo mong muốn đối với một vấn đề trưng cầu dân ý hoặc ép buộc công dân hoặc cản trở họ ký vào các danh sách ủng hộ cho một ứng cử viên, hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, khối sáng lập của cuộc trưng cầu dân ý và có liên quan vào việc giả mạo chữ ký hoặc hối lộ các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, nghĩa là phạm vào các hành động bị nghiêm cấm tại Khoản 3 Điều 45 của Luật này hoặc dàn xếp các hoạt động từ thiện và cung cấp và phân phát các quảng cáo mang tính thương mại và các nội dung khác vi phạm các quy định của Luật này hoặc không chuẩn bị kịp thời và cập nhật các dữ liệu về các cử tri đã đăng ký, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, (các danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý) trước khi gửi các dữ liệu này cho các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý địa hạt tương ứng; hoặc phổ biến các thông tin không trung thực về ứng cử viên hoặc phạm vào các hành động gây thiệt hại cho danh dự hoặc phẩm giá của ứng cử viên hoặc vi phạm các quyền của các Uỷ viên các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý bao gồm các Uỷ viên không bỏ phiếu, các quan sát viên, các quan sát viên nước ngoài (quốc tê), các tổ chức của ứng cử viên, của các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, các khối sáng lập của cuộc trưng cầu dân ý, phương tiện thông tin đại chúng, bao gồm cả quyền tiếp cận thông tin kịp thời và nhận các bản sao của các tài liệu bầu cử, các tài liệu của cuộc trưng cầu dân ý, hoặc vi phạm các nguyên tắc vận động bầu cử, vận động trưng cầu dân ý, bao gồm cả những người tham gia vận động vào ngày ngay trước ngày bỏ phiếu hoặc ngày bỏ phiếu; hoặc đã không cung cấp các điều kiện thích hợp để tổ chức các sự kiện quần chúng khi mà pháp luật đã bắt buộc thực hiện nghĩa vụ này; hoặc vi phạm các nguyên tắc được quy định cho vấn đề tài trợ các chiến thách vận động bầu cử, công tác chuẩn bị và thực một cuộc trưng cầu dân ý, bao gồm cả những người trì hoãn việc chuyển các khoản quỹ tới các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý, ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, các khối sáng lập của cuộc trưng cầu dân ý; hoặc đã giấu số phiếu bầu còn thừa lại hoặc đã cung cấp thêm các bản in không đăng ký của các phiếu bầu để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, mỗi cuộc trưng cầu dân ý; hoặc cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào các hoạt động của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý hoặc các hoạt động của các Uỷ viên có liên quan tới việc hoàn thành các chức năng của họ; hoặc cản trở việc bỏ phiếu tại các khu vực bầu cử, các khu vực trưng cầu dân hoặc vi phạm nguyên tắc bầu cử kín; hoặc ép buộc các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, bỏ phiếu không theo sự lựa chọn của bản thân họ; hoặc giả mạo các tài liệu bầu cử, các tài liệu trưng cầu dân ý, những người đã biên soạn và phát hành các tài liệu không trung thực, cố ý lập sai các bảng biểu về các phiếu bầu hoặc cố ý xác định sai các kết quả bầu cử, các kết quả trưng cầu dân ý, những người đã không nộp hoặc công bố các dữ liệu liên quan đến các kết quả bỏ phiếu mặc dù đã được giao các nhiệm vụ này; hoặc vi phạm các quyền của công dân về xem xét các danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý; hoặc phát các phiếu bầu cho công dân và cho phép họ bỏ phiếu hộ cho những người khác hoặc bỏ phiếu nhiều hơn một lần trong suất thời gian của cùng tận bỏ phiếu đó hoặc đưa cho (phát) cho công dân các phiếu bầu cử, các phiếu bầu trưng cầu dân ý đã hoàn thành trước; hoặc những người không nộp hoặc công bố các báo cáo về việc chi tiêu ngân quỹ của công tác chuẩn bị và tiến hành các cuộc bầu cử, các cuộc trưng cầu dân ý, các báo cáo tài chính liên quan đến các khoản quỹ bầu cử của ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, và các báo cáo tài chính về việc chi tiêu các khoản ngân sách được phân bổ cho công tác chuẩn bị và hành chính của các chiến dịch vận động bầu cử, công tác chuẩn bị và thực hiện của một cuộc trưng cầu dân ý;

Cũng như:

Những người làm công nghỉ vắng mặt nhằm từ chối việc tham gia bắt buộc từ vào các cuộc bầu cử, các cuộc trưng cầu dân ý theo quy định của pháp luật;

Các công chức của các cơ quan nhà nước đã cố tình phớt lờ các yêu cầu của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý và đã không kiểm tra các thông tin liên quan đến các vi phạm của Luật này, Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang khác, luật, của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Hiến chương riêng của khu vực và đã không thực hiện bất kỳ một biện pháp nào để kết thúc các vi phạm này; phải chịu các trách nhiệm hình sự, hành chính hoặc các trách nhiệm khác thêm quy định của các luật Liên bang.

2. Việc không thực hiện hoàn thành hoặc không hoàn thành trọn vẹn các quyết định đưa ra trong một cuộc trưng cầu dân ý sẽ dẫn tới áp dụng trách nhiệm pháp lý theo quy định của các luật Liên bang.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

CHƯƠNG X. CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 66. Hiệu lực của Luật này

1. Luật Liên bAng này bắt đầu có hiệu lực pháp lý kể từ ngày chính thức công bố.

2. Luật Liên bang "Về các bảo đảm cơ bản của quyền bầu cử của công dân của Liên bang Nga" đã được sửa đổi và điều chỉnh (Tổng mục lục các văn bản pháp luật của Liên bang Nga 1994, Số.33, trg.3406; 1996, Số.49 trg 5498) sẽ hết hiệu lực kể từ ngày Luật này bắt đầu có hiệu lực trừ các quy định tại các Khoản 3 và 4 Điều này.

3. Luật Liên bang này không được áp dụng trong các cuộc bầu cử, các cuộc trưng cầu dân ý diễn ra trước ngày Luật này bắt đầu có hiệu lực pháp lý trừ các quy định tại các Điều từ 49 đến 60. Trong trường hợp có các mâu thuẫn giữa các luật liên bang, hiến chương, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, hiến chương riêng của khu vực, quy định các thủ tục tiến hành các cuộc bầu cử và các cuộc trưng cầu dân ý nêu trên, các thủ tục được quy định tại các Điều từ 49 đến 60 của Luật này, các Điều luật vừa nêu sẽ được áp dụng shall apply.

4. Khi các cuộc bầu cử phụ và các cuộc bầu cử lại sẽ được tổ chức, thì phải áp dụng các luật bao gồm các quy định đã bắt buộc thi hành trong suốt quá trình chuẩn bị và tiến hành các cuộc bầu cử chính theo uỷ quyền, Luật Liên bang này Luật Liên bang "Về các bảo đảm cơ bản của quyền bầu cử của công dân của Liên bang Nga" quy định về việc có có quyền bầu cử chủ động và bị động, việc đề cử và đăng ký của ứng cử viên (các danh sách ứng cử viên), lập các quỹ bầu cử, xác định các kết quả bầu cử.

5. Các Uỷ ban bầu cử, được thành lập trước khi Luật Liên bang này có hiệu lực pháp lý phải duy trì các thẩm quyền cho tới khi kết thúc thời hạn của chức năng mà các Uỷ ban này được thành lập để thực hiện, tuy nhiên, không quá 5 năm kể từ ngày các Uỷ ban này được thành lập.

6. Các Uỷ viên bỏ phiếu của các Uỷ ban bầu cử làm việc chuyên trách tại các Chủ thể thuộc Liên bang Nga phải được coi như công chức nhà nước; Khoảng 1 Điều 23 của Luật này quy định rằng các công chức nhà nước không được chiếm quá 1/3 tổng số các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử sẽ bắt đầu có hiệu lực sau khi pháp luật của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga có các điều chỉnh phù hợp với Khoản 11 của Điều 24 của Luật này, tuy nhiên, không muộn hơn thời hạn kết thúc của hoạt động của các Uỷ ban bầu cử đã được nêu tại Khoản 5 của Điều Luật này.

7. Để đảm bảo sự trùng hợp giữa ngày bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử của các cơ quan của chính quyền tự trị địa phương với ngày bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử của các cơ quan quyền lực nhà nước trong cùng một Chủ thể thuộc Liền bang Nga và để đảm bảo sự trùng hợp giữa ngày bỏ phiếu tại bất cứ cuộc bầu cử nào với ngày bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử của các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang trong thời gian tới ngày 01/05/2001; thời hạn hoạt động của tất cả các con quan của chính quyền tự chủ địa phương và/hoặc cơ quan quyền lực nhà nước của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga có thể được kéo dài hoặc rút ngắn không quá 9 tháng. Trong các trường hợp này, một quyết định thay đổi thời hạn hoạt động của một cơ quan quyền lực nhà nước của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga sẽ được tiến hành theo hình thức do một luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga quy định, và một quyết định thay đổi thời hạn hoạt động của một cơ quan của chính quyền tự chủ địa phương theo hình thức một hành vi quy phạm của một Khu vực hành chính riêng biệt. Các thông tín liên quan đến việc làm trùng hợp này phải được báo cáo cho Uỷ ban Trung ương của Liên bang Nga. Trong trường hợp này các cuộc bầu cử phải được cấp vốn từ các ngân sách tương ứng.



(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Một phụ lục phải được bổ sung bao gồm các nội dung như sau

Phụ lục

Các thông tin liên quan đến tài sản

Tôi, ứng cử viên cho (vị trí)……………………………

(tên cơ quan hoặc văn phòng bầu cử)



(Tên đầy đủ và ngày sinh)

(nơi công tác chính, vị trí (nếu không có nơi công tác chính thì nêu rõ nghề nghiệp)

chỗ ở tại



(địa chỉ nơi ở)

Xin cung cấp dưới đây các thông tin tài sản do tôi sở hữu (bao gồm cả dưới hình thức đồng sở hữu)

1. Bất động sản


STT

Loại và tên tài sản

Diện tích nền (m2)

Địa điểm tài sản

1

Đất







2

Nhà ở







3

Căn hộ







4

Nhà nghỉ hè ở nông thôn ( nhà ở nông thôn)







5

Nhà để ô tô và các công trình khác, các bất động sản khác







Diện tích đất được đo theo đơn vị ha

2. phương tiện giao thông

STT

Loại phương tiện

Số lượng

Hình dáng, cấu tạo

1

Ô tô hoặc xe gắn máy







2

Xe ô tô tải lớn và nhỏ







3

Các phương tiện giao thông khác







Tôi khẳng định rằng các thông tin cung cấp trên đây là hoàn toàn chính xác

………………………..

(Chữ ký của ứng cử viên)

………………………..

(Ngày)


Điều 2. Luật Liên bang này bắt đầu có hiệu lực từ ngày được chính thức công bố.

Luật Liên bang này không áp dụng đối với công tác chuẩn bị và tiến hành các cuộc bầu cử và các cuộc trưng cầu dân ý mà trong đó việc bỏ phiếu sẽ được tiến hành trước thời điểm kết thúc khoảng thời gian 3 tháng sau khi chính thức công bố Luật này



Điều 3. Luật này sẽ thay thế:

Luật của RSFSR "Về bầu cử Người đứng đầu hệ thống hành pháp" On the Election của Head của Administration" (Công báo của Quốc hội đại diện cho nhân dân của RSFSR và Xô viết Tối cao của RSFSR, 1991, Số 45, trg 1491).

Nghị quyết của Xô-viết Tối cao của RSFSR "Về thực hiện Luật của RSFSR ,”Về bầu cử Người đứng đầu hệ thống hành pháp" On the Election của Head của Administration" (Công báo của Quốc hội đại diện cho nhân dân của RSFSR và Xô-viết Tối cao của RSFSR, 1991, Số 45, trg 1492).

các mục đích ban hành Luật này, khái niệm "Cư trú hiện tại” có nghĩa là nơi cư trú của một công dân nơi mà người này sinh sống phần lớn thời gian mặc dù đăng ký thường trú (và được đưa vào danh sách cử tri) để bỏ phiếu tại một nơi khác.

các mục đích của Luật này hệ thống các Uỷ ban bầu cử của Liên bang Nga sẽ được xác đnh như sau:Uỷ ban bầu cử khu vực (PEC) - cấp thấp, Uỷ ban bầu cử địa hạt (TEC) - cấp trung; Uỷ ban bầu cử khu vực (DEC) - cấp khu vực: có thể là một hoặc nhiều hơn một đối với mỗi Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

SAS Vybory

Ghi chú của người dịch : các từ này không có trong văn bản luật

B. Yeltsin

Tổng thống Liên bang Nga

(đã ký)


Nguồn: IFES Russia; IFES Russia dịch





1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương