Những bảO ĐẢm cơ BẢn quyền bầu cử VÀ quyền tham gia trưng cầu dâN Ý CỦa công dân liên bang nga chưƠng I. Những quy đỊnh chung



tải về 1.74 Mb.
trang10/11
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.74 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Điều 58. Thủ tục xác định kết quả bầu cử, kết quả cuộc trưng cầu dân ý

1. Một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý được Uỷ nhiệm thực hiện công tác này theo quy định của Hiến pháp liên bang, pháp luật liên bang pháp luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Hiến chương riêng của khu vực phải xác định kết quả của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý trên cơ sở các bản đầu tiên của biên bản kết quả bỏ phiếu nhận được từ các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý của cấp thấp hơn tiếp theo bằng cách tổng hợp dữ liệu của các biên bản này. Các kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu dân ý phải được xác định bởi cá nhân các Uỷ viên bỏ phiếu của Uỷ ban này. Một biên bản và một bảng tổng kết về các kết quả cuộc bầu cử, kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được lập thành ba bản và ký xác nhận bởi tất cả các Uỷ viên bỏ phiếu có mặt của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý.

2. Các cuộc bầu cử phải được tuyên bố bởi Uỷ ban bầu cử tương ứng về việc đã không thể tiến hành nếu:

a) số lượng các cử tri đã tham gia vào các cuộc bầu cử nhỏ hơn so với các số lượng theo quy định tương ứng của các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga;

b) số lượng các phiếu bầu cử của các cử tri bầu cho một ứng cử viên mà đã giành được một số lượng lớn phiếu bầu của các cử tri hơn các ứng cử viên khác thì nhỏ hơn số lượng các phiếu bầu cử của các cử tri không bầu cho tất cả các ứng cử viên;

c) khi tiến hành bỏ phiếu cho các danh sách các ứng cử viên theo một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga mà có ít hơn hai danh sách các ứng cử viên có quyền tham gia;

d) tổng số 50 phần trăm hoặc một số lượng nhỏ hơn các phiếu bầu của các cử tri đã tham gia bỏ phiếu cho các danh sách các ứng cử viên, được bầu cho các danh sách ứng cử viên mà, theo luật tương ứng, có quyền tham gia tranh cử theo uỷ quyền .

3 Khi các cuộc bầu cử được tổ chức tại khu vực bầu cử đại cử tri, một ứng cử viên phải được coi như không được bầu nếu số lượng các phiếu bầu cử của các cử tri bầu cho ứng cử viên này nhỏ hơn số lượng các phiếu bầu cử của các cử tri không bầu cho tất cả các ứng cử viên. Trong trường hợp này cuộc bầu cử phụ phải được tổ chức để đảm bảo đủ số lượng đại cử tri.

4. Uỷ ban bầu cử tương ứng phải huỷ bỏ nghị quyết của Uỷ ban tuyên bố việc được bầu của một ứng cử viên đã thu được số lượng các phiếu bầu cử theo yêu cầu cho việc được bầu hoặc đã được tuyên bố là được bầu trên cơ sở kết quả bỏ phiếu cho các danh sách các ứng cử viên nếu, trong khoảng thời gian theo quy định của một luật hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga nhưng không muộn hơn 7 ngày kể từ ngày chính thức công bố các kết quả bầu cử, ứng cử viên đã không nộp cho uỷ ban bầu cử tương ứng một bản sao của lệnh (hoặc chỉ thị) về việc không ràng buộc ứng cử viên vào các nhiệm vụ không phù hợp với vị trí của một nghị sĩ, chính thức được bầu hoặc một bản sao của tài liệu xác nhận rằng đã nộp một đơn yêu cầu về việc không ràng buộc các trách nhiệm đó trong khoảng thời than theo quy định.

5. Một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga có thể quy định rằng nếu ứng cử viên đã không từ bỏ các nhiệm vụ không phù hợp với vị trí của một nghị sĩ, chính thức được bầu mà không có bất cứ lý do thuyết phục nào và, như là kết quả của việc này, bầu cử lại hoặc cuộc bàu cử phụ đã được thiết lập, ứng cử viên này phải hoàn trả lại Uỷ ban bầu cử tương ứng, toàn bộ hoặc một phần, các chi phí mà phải chịu trong quá trình thực hiện bầu cử lại hoặc bầu cử phụ. Luật này cũng phải liệt kê các lý do thuyết phục mà trong trường hợp có các lý do đó việc hoàn trả lại sẽ không phải thực hiện.

6. Một cuộc trưng cầu dân ý phải được tuyên bố bởi Uỷ ban bầu cử tương ứng về việc đã không diễn ra nếu số lượng những người đã tham gia cuộc trưng cầu dân ý ít hơn một nửa so với số lượng được ghi trong danh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trên địa hạt của cuộc trưng cầu dân ý. Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng phải công bố một quyết định đã không được tiến hành trong cuộc trưng cầu dân ý nếu ít hơn một nửa những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đã tham gia vào bỏ phiếu ủng hộ cho quyết định này.

7. Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng phải công bố kết quả bỏ phiếu, các kết quả của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý của mỗi Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương không còn hiệu lực nữa:

a) nếu có các vi phạm pháp luật trong quá trình tiến hành bỏ phiếu, hoặc xác định các kết quả bỏ phiếu cho thấy không thể chắc chắn để thiết lập các kết quả thể hiện ý chí quyết định của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý;

b) nếu bị tuyên bố là không còn hiệu lực trong hơn 1/4 tổng số các khu vực bầu cử, các khu vực trưng cầu dân ý;

c) bởi một quyết định toàn án.

8. Các tài liệu của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý các cấp, bao gồm cả các phiếu bầu để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý và các giấy chứng nhận vắng mặt đối với bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý phải được bảo quản trong khoảng thời gian theo quy đỉnh của Luật Liên bang này, Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang khác, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, quy chế của các đơn vị đô thị. Trong trường hợp này, thời gian bảo quản quy định phải không ngắn hơn một màn kể từ ngày công bố các kết quả sau bỏ phiếu, các kết quả của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý đối với các phiếu bầu để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý, các giấy xác nhận vắng mặt đối với bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý, các danh sách các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý và không ngắn hơn 1 năm kể từ ngày mà các cuộc bầu cử cùng cấp tiếp theo được tuyên bố đối với các biên bản kết quả bỏ phiếu và các kết quả của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý và các bảng tóm tắt của các Uỷ ban bầu cử.

9. Thủ tục bảo quản và chuyển tới các bộ phận lưu trữ các tài liệu có liên quan đến công tác chuẩn bị và hành chính của các cuộc bầu cử, một cuộc trưng cầu dân ý phải được thiết lập bởi Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga, các Uỷ ban bầu cử của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga theo các thoả thuận với các cơ quan lưu trữ nhà nước liên quan.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Điều 59. Bỏ phiếu lại và tổ chức lại các cuộc bầu cử. Bầu cử phụ

1. Việc tổ chức và hành chính của công tác bỏ phiếu lại cũng như sắp xếp những người tham gia ứng cử trong lần bỏ phiếu (tranh cử lại) trên phiếu bầu phải được quy đình bởi Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

2. Nếu một trong các ứng cử viên tham gia bỏ phiếu lại trên cơ sở lần bỏ phiếu trước đã rút lui này trước ngày bỏ phiếu thì vị trí của người này, theo quyết định của Uỷ ban bầu cử chịu trách nhiệm về việc xác định các kết quả bầu cử, phải được dành cho ứng cử viên tham gia lần bỏ phiếu trước đó và đã giành được số lượng phiếu bầu lớn tiếp theo.

3. Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga nên quy định việc bỏ phiếu đối với một ứng cử viên trong suất quá trình bỏ phiếu lại, sau khi tất cả các ứng cử viên khác đã rút lui, chỉ còn một ứng cử viên trên phiếu bầu trong ngày bỏ phiếu lại. Trong trường hợp này, nếu một ứng cử viên giành được không ít hơn 50 phần trăm số phiếu bầu của các cử tri tham gia bỏ phiếu thì người này phải được coi như đã được bầu.

4. Nếu tất cả các ứng cử viên bị đều bị loại bỏ, việc bầu cử phải được hoãn lại để có đề cử bổ sung của ứng cử viên và tiến hành các hoạt động bầu cử khác theo quy định, tuy nhiên, không quá sáu tháng. Trong trường hợp này, các thẻ điều kiện về các hoạt động bầu cử có thể được gỉam bớt, nhưng không giảm nhiều hơn 1/3.

5. Trong trường hợp cuộc bầu cử được công nhận là đã không diễn ra, không có hiệu lực, một cuộc bầu cử lại phải được tuyên bố theo các thủ tục và các điều khoản quy định bởi các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga. Cuộc bầu cử lại phải được tổ chức trong vòng 6 tháng kể từ ngày của cuộc bầu cử đầu tiên hoặc trong vòng sáu tháng kể từ ngày cuộc bầu cử này được công nhận là không có hiệu lực. Đối với bầu cử lại, các điều kiện về các hoạt động bầu cử có thể được giảm bớt 1/3, theo quyết định của Uỷ ban bầu cử tương ứng. Một tuyên bố về cuộc bầu cừ lại phải được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

6. Nếu một ứng cử viên (hoặc tất cả các ứng cử viên trong trường hợp các khu vực bầu cử uỷ nhiệm ), đã thu được số lượng phiếu bầu theo quy định cho việc bầu cử, đã không từ bỏ các nhiệm vụ không phù hợp với vị trí của một nghị sĩ, đã được bầu chính thức, Uỷ ban bầu cử tương ứng phải thiết lập các cuộc bầu cử trong khu vực bầu cử nhất định theo thủ tục được quy định tại Hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

7. Nếu xảy ra việc kết thúc sớm các quyền của một nghị sĩ đã được bầu tại một khu vực bầu cử Uỷ nhiệm một quyền, cuộc bầu cử phụ phải được thiết lập trong khu vực bầu cử này trong vòng 1 tháng kể từ ngày kết thúc quyền lực vừa nêu, theo thủ tục quy định của Hiến pháp liên bang, luật liên bang luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga,

8. Trong trường hợp xảy ra việc kết thúc sớm các quyền của một ứng cử viên đã được bầu tại một khu vực bầu cử đại cử tri, cuộc bầu cử phụ phải được thiết lập và tiến hành theo một thủ tục quy định trên đây tại Khoản 7 của Điều này, nếu ít hơn 2/3 tổng số danh sách đại cử tri đã được bầu trong khi vực đó. Một Hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga nên quy định thêm các điều kiện khác mà trên cơ sở đó cuộc bầu cử phụ phải được tổ chức tại một khu vực bầu cử Uỷ nhiệm đa quyền để bầu cho một ví trí nghị sĩ còn khuyết.

9. Một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga nên quy định rằng cuộc bầu cử lại và hoặc cuộc bầu cử phụ không được thiết lập và tổ chức nếu theo kết quả của các cuộc bầu cử này một nghị sĩ sẽ không thể được bầu cho một nhiệm kỳ dài hơn 1 năm.

10. Một Hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga nên quy định rằng nếu cuộc bầu cử lại và/hoặc cuộc bầu cử phụ đã được tổ chức trong thời hạn theo quy định của Hiến pháp liên bang, luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga và đã được công bố không diễn ra vì những lý do đã được nêu tại các điểm "a" và "b". Khoản 2 Điều 58 của Luật này, cuộc bầu cử lại và/hoặc cuộc bầu cử phụ tiếp theo phải được hoãn lại trong một thời gian không quá một năm

11. Nếu khuyết một số vị trí nghị sĩ tại thời điểm, theo Khoản 9 của Điều này, các cuộc bầu cử phụ không được tiến hành; nhưng cơ quan lập pháp (hoặc đại diện) của quyền lực nhà nước, cơ quan lập pháp (hoặc đại diện) của chính quyền tự chủ địa phương đã được trao không đủ thẩm quyền để thực hiện các công việc, các cuộc bầu cử chính thức mới phải được tổ chức theo và tại thời điểm quy định của Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

12. Một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga nên quy định rằng điểm "a" Khoản 2 Điều 58 của Luật này sẽ không được áp dụng khi việc bỏ phiếu lại được tổ chức đối với ứng cử viên đã giành được số lượng tối đa phiếu bầu của các các cử tri.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Điều 60. Công bố các kết quả bỏ phiếu, các kết quả của cuộc bầu cử, của cuộc trưng cầu dân ý.

1. Các kết quả bỏ phiếu của mỗi khu vực bầu cử, khu vực trưng cầu dân ý, địa hạt thuộc thẩm quyền của một Uỷ ban bầu cử, các kết quả bầu cử của một khu vực bầu cử, các kết quả trưng cầu dân ý đối với phạm vi của dữ liệu đã được nêu trong biên bản của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng, các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới trực tiếp phải được quy định về việc kiểm tra theo yêu cầu của các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, ứng cử viên, các tổ chức của ứng cử viên, các tổ chức của các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, các khối sámg lập của cuộc trưng cầu dân ý, những người quan sát, các quan sát viên nước ngoài(hoặc quốc tế), đại diện của cơ quan phương tiện thông tin đại chúng. Các dữ liệu này phải do một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trứng cầu dân ý cung cấp:

2. Uỷ ban bầu cử đã thực hiện đăng ký ứng cử viên (danh sách ứng cử viên), Uỷ ban trưng cầu dân ý đã xác định các kết quả trưng cầu dân ý phải gửi các thông tin chung về các kết quả bầu cử trong khu vực bầu cử, các kết quả trưng cầu dân ý cho các phương tiện thông tin đại chúng trong vòng 24 giờ sau khi các kết quả bầu cử, các kết quả cuộc trưng cầu dân ý được xác định.

3. Việc cộng bố chính thức các kết quả bầu cử, kết quả cuộc trưng cầu dân ý cũng như các dữ liệu về số lượng các phiếu bầu mà mỗi ứng (cử viên danh sách ứng cử viên) giành được, các phiếu đã bỏ mà không bầu cho tất cả các ứng cử viên danh sách ứng cử viên), các phiếu đã bỏ của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý mà kết quả tại các dòng khắp thuận hoặc? "phản đối" phải được Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng thực hiện trong khoảng thời gian theo quy định của các luật liên bang, luật của Chủ thể thụộc Liên bang Nga, tuy nhiên không muộn hơn 1 tháng kể từ ngày bỏ phiếu.

4. Các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý các cấp, trừ các Uỷ ban khu vực phải công bố các dữ liệu được nêu trong các biên bản của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý của cấp tương đương về các kết quả bầu cử, kết quả cuộc trưng cầu dân ý và các biên bản của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới về các kết quả bỏ phiếu mà trên cơ sở đó các kết quả bầu cử, kết quả cuộc trưng cầu dân ý đã được các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý xác định. Một luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga nên quy định rằng các dữ liệu trên đây được nêu trong các biên bản của các Uỷ ban bầu cử mà đã thực hiện công việc triển địa hạt của một khu vực bầu cử phải được Uỷ ban bầu cử khu vực tương ứng hoặc uỷ ban bầu cử của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga chính thức công bố. Toàn bộ các dữ liệu liên quan tới các kết quả của các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang, các kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý của Liên bang Nga phải được công bố chính thức trong vòng 3 tháng kể từ ngày bỏ phiếu. Tất cả các dữ liệu liên quan đến các kết quả của các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, các cơ quan của chính quyền tự từ địa phương, các kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương phải được công bố chính thức trong vòng 2 tháng kể từ ngày bỏ phiếu.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Điều 61. Hiệu lực pháp lý của các quyết định của cuộc trưng cầu dân ý.

1. Một quyết định đưa ra tại một cuộc trưng cầu dân ý của Liên bang Nga phải mang tính chất ràng buộc chung và không cần phải có thêm bất cứ phê duyệt nào.

2. một quyết định đưa ra tại một cuộc trưng cầu dân ý của Liên bang Nga phải có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga. Một quyết định được đưa ra trong mot cuộc trưng cầu dân ý của các Chủ thể thuộc Liên Bang Nga phải có hiệu lực trên toàn lãnh thổ của các Chủ thể đó của Liên bang Nga Một quyết định đưa. ra tại một cuộc trưng cầu dân ý địa phương phải có hiệu lực trên địa hạt của đơn.

3. Một quyết định được đưa ra trong một cuộc trưng cầu dân ý của các Chủ thể thuộc Liên Bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương phải được đăng ký tại các cơ quan quyền lực nhà nước hoặc các cơ quan của chính quyền địa phương theo các quỵ định về thủ tục đăng ký các hành vi quy phạm và pháp luật của cấp tương ứng.

4. Một quyết định được đưa ra trong một cuộc trưng cầu dân ý của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương có thể bị huỷ bỏ hoặc sửa đổi bằng một quyết định khác đưa ra tại một cuộc trưng cầu dân ý của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương tương ứng, tuy nhiên, không sớm hơn hai năm sau khi quyết định này được đưa ra hoặc bị mất hiệu lực theo một thủ tục tư pháp.

5. Mốt quyết đỉnh được đưa ra trong một cuộc trưng cầu dân ý của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương có thể bị huỷ bỏ vì các lý đó sau:

- Vi phạm các thủ tục về một cuộc trưng cầu dân ý của Chủ thể thuộc Liên Bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương do Hiến pháp liên bang, luật của Chủ thể đó của Liên bang Nga quy định, Hiến chương riêng của khu vực, mà đã làm cho không thể xác định được ý chí quyết định của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý;

Mâu thuẫn với quy định của luật mà theo luật này một cuộc trưng cầu dân ý của Chủ thể thuộc Liên bang Nga được thiến hành theo Hiến pháp của Liên bang Nga và một luật hiến định của Liên bang, luật liên bang có hiệu lực tại thời điểm cuộc t ưng cầu dân ý được tiến hành, mâu thuẫn với Hiến chương riêng của khu vực mà theo đó một cuộc trưng cầu dân ý địa phương được tiến hành theo Hiến pháp của Liên bang Nga, và một Iuật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga có hiệu lực tại thời điểm cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành đã làm cho không thể xác định chắc chắn được các kết quả quyết định của những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý Mâu thuẫn với quyết định đã được đưa ra trong một cuộc trưng cầu dân ý của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương, với Hiến pháp Liên bang Nga, luật hiến định liên bang, luật liên bang, và đối với một cuộc trưng cầu dân ý địa phương có thể là cả mâu thuẫn với một luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga.

6. Nếu kết quả bỏ phiếu được công nhận là không có hiệu lực trong tổng số hơn 1/4 các khu vực của cuộc trưng cầu dân ý, thì kết quả cuộc trưng cầu dân ý của Chủ thể của Liên bang, cuộc trưng cầu dân ý địa phương cũng phải bị coi là không có hiệu lực.

7. Nếu việc thực hiện một quyết định được đưa ra trong một cuộc trưng cầu dân ý đòi hỏi thêm một hành vi quy phạm pháp luật, cơ quan quyền lực nhà nước trên bang cơ quan quyền lực nhà nước của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cơ quan của chính quyền tự chủ địa phương có thẩm quyền giải quyết vấn đề trong vòng 15 ngày quyết định của cuộc trung cầu dân ý có hiệu lực phán lý phải quý định thời hạn cho việc chuẩn bị trình vi pháp lý đã nêu.

8. Nếu sau một cuộc trưng cầu dân ý của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga được tổ chức để ban hành một luật liên bang theo đồng thẩm quyền giữa Liên bang Nga và Chủ thể thuộc Liên bang Nga, quyết định đã được thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý, nếu không phù hợp với luật Liên bang này, sẽ không được áp dụng cho tới khi được hiệu chỉnh để phù hợp với luật Liên bang đã được thông qua sau cuộc trưng cầu dân ý.



(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)

Điều 62. Sử dụng Hệ thống tự động hoá quốc gia của Liên bang Nga trong các cuộc cuộc bầu cử, các cuộc trưng cầu dân ý.

1. Trong các cuộc bầu cử, các cuộc trưng cầu dân ý. Hệ thống tự động hoá quốc gia của Liên bang Nga được sử dụng theo các thủ tục do Luật Liên bang này, biện pháp Liên bang và các luật liên bang khác quy định.

2. Khi Hệ thống tự động hoá quốc gia của Liên bang Nga được sử dụng toàn bộ hoặc một phần trong các cuộc bầu cử hoặc các cuộc trưng cầu dân ý của cấp phù hợp theo quy định của các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga để thực hiện các mục đích đăng ký các cử tri, những người tham giã một cuộc trưng cầu dân ý, soạn thảo các danh sách cử tri, các danh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, xác định các kết quả bỏ phiếu, kết quả bầu cử và kết quả trưng cầu dân ý, Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng phải lập tổ bao gồm các Uỷ viên Uỷ ban, uỷ viên bỏ phiếu và không bỏ phiếu để giám sát việc sử dụng hệ thống thông tin tự động (hoặc một số các yếu tố của hệ thống). Tất cả các Uỷ viên của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý được trận quyền để tiếp cận tất cả thông tin bao gồm trong Hệ thống tự động hóa quốc gia của Liên bang Nga.

3. Từ khi bắt đầu bỏ phiếu cho tới khi Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng ký biên bản kết quả bỏ phiếu, Hệ thống tự động hoá quốc gia của Liên bang Nga phải được sử dụng để giám sát quá trình bỏ phiếu và hình thành các bảng kết quả bằng cách chuyển dữ liệu từ các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp dưới cho các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp trên. Dữ liệu về quá trình và các kết quả bỏ phiếu tiếp cận được thông qua Hệ thống tự động hoá quốc gia phải được coi là các thông tin sơ bộ không có giá trị pháp lý trừ các trường hợp khác do Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của chủ thể thuộc Liên bang Nga quy định.

4. Trong trường hợp Hệ thống tự động hoá quốc gia được sử dụng trong suốt quá trình của các cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý, dữ liệu về sự tham gia các cử tri, những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý trong việc bỏ phiếu, về các kết quả bỏ phiếu sơ bộ và cuối cùng phải dễ dàng tiếp cận nhanh chóng (ở dạng chỉ cho phép đọc) đối với những người đăng ký sử dụng hệ thống các phương tiện thông tin trên tắc phổ biến. Các thủ tục và thời gian cung cấp các dữ liệu này không được mâu thuẫn với các yêu cầu do hệ thống luật pháp của Liên bang Nga về các cuộc bầu cử quy định.



CHƯƠNG IX. KHÁNG CÁO CÁC VI PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN BẦU CỬ QUYỀN THAM GIA TRƯNG CẦU DÂN Ý CỦA CÔNG DÂN NGA VÀ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁC VI PHẠM NÀY

Điều 63. Kháng cáo các quyết định và hành động (hành động hoặc không hành động) vi phạm đến quyền bầu cử và quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga.

1. Các quyết định và hành động (hoặc không hành động) của các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan của chính quyền tự chủ địa phương, các tổ chức xã hội và các công chức, cũng như các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) của các Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý và các công chức của các cơ quan này, vi phạm quyền bầu cử và quyền tham gia một cuộc trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga có thể bị kháng cáo tại một toà án theo quy định pháp luật.

2. Các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) Uỷ ban bầu cử Trung ương và các công chức Uỷ ban phải bị kháng cáo tại Toà án Tối cao Liên bang Nga, các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) của các Uỷ ban bầu cử của các Chủ thể thuộc Liên bang Nga, các Uỷ ban bầu cử khu vực đối với các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lựa nhà nước liên bang và các công chức của các Uỷ ban bầu cử đó phải bị kháng cáo tại toà án của một Chủ thể của Liên bang Nga, các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) của các Uỷ ban bầu cử khác cũng như các Uỷ ban trưng cầu dân ý phải bị kháng cáo tại các toàn án khu vực theo quy định pháp luật.

3. Các quyết định của một toà án theo quy tụng pháp luật mang tính bắt buộc thi hành đối với các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng.

4. Các cử tri, ứng cử viên, các tổ chức của họ, các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử và các tổ chức; các tổ chức xã hội khác, các khối sáng lập của cuộc trưng cầu dân ý, các quan sát viên và các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý có thể đưa ra các khiếu nại về các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) vi phạm quyền bầu cử và quyền tham gia một cuộc trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga. Trong trường hợp này, nếu các vi phạm pháp luật được nêu ra trong các khiếu nại có liên quan đến một số lớn công dân hoặc nếu việc vi phạm pháp luật có tính chất quan trọng đặc biệt do một số điều kiện khác, Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga có thể tác động tới Toà án Tối cao Liên bang Nga và Toà án Tối cao Liên bang Nga phải the Supreme Court của Liên bang Nga phải xem xét khiếu nại theo một mức độ tương xứng.

5. Trong các trường hợp được quy định bởi Luật Liên bang này, Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang khác, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, một toà án có thể huỷ bỏ một quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý tương ứng về các kết quả bỏ phiếu hoặc các kết quả bầu cử, các kết quả trưng cầu dân ý hoặc một quyết định khác của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý.

6. Các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý và các công chức của các cơ quan này vi phạm quyền bầu cử và quyền tham gia một cuộc trưng cầu dân ý của công dân có thể bị kháng cáo tại một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp cao hơn (theo cấp của các cuộc bầu cử hoặc cuộc trưng cầu dân ý).

7. Trong trường hợp không tồn tại một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp cao hơn (theo phân cấp của cuộc bầu cử hoặc cuộc trưng cầu dân ý), các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) của Uỷ ban bầu cử Uỷ ban trưng cầu dân ý địa hạt hoặc của công chức các cơ quan nà vi phạm quyền bầu cử và quyền tham gia một cuộc trưng cầu dân ý của công dân có thể bị kháng cáo tại Uỷ ban bầu cử của Chủ thề của Liên bang Nga, và các quyết định và các hành động (hoặc không hành động) của Uỷ ban bầu cử của Chủ thể của Liên bang vi phạm quyền bầu cử và quyền tham gia một cuộc trưng cầu dân ý của công dân có thể bị kháng cáo tại Uỷ ban bầu cử Trung ương của liên bang Nga.

8. Một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp cao, Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử của Chủ thể thuộc Liên bang Nga phải được trao quyền quyết định giải quyết khiếu nại.

9, Kháng cáo sơ bộ tại một Uỷ ban bầu cử cấp cao, Uỷ ban trưng cầu dân ý cấp cao, Uỷ ban bầu cử của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử Trung ương của Liên bang Nga không phải là điều kiện tiên quyết để đưa một kháng cáo lên một toà án theo quy định pháp luật.

10. Trong trường hợp một toà án theo luật định thụ lý giải quyết một đơn khiếu nại và một công dân đưa ra một khiếu nại tương tự cho một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý, thì Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý phải hoãn việc xem xét khiếu nại đó cho tới khi quyết định của toà án có hiệu lực. Toà án phải thông báo cho Uỷ ban bầu cử về việc nhận được khiếu nại.

11. Các quyết định về việc giải quyết các khiếu nại được đưa ra trong suốt một chiến dịch vận động bầu cử hoặc quá trình chuẩn bị một cuộc trưng cầu dân ý phải được đưa ra trong vòng năm ngày, tuy nhiên, không muộn hơn một ngày trước ngày bỏ phiếu, và ngay lập tức, nếu được đưa ra vào ngày bỏ phiếu hoặc ngày tiếp theo của ngày bỏ phiếu. Nếu các sự việc trong nội dung một khiếu nại đòi hỏi xác minh bổ sung thêm, các quyết định do đó phải được đưa ra trong vòng tối đa 10 ngày Một toà án theo luật định phải đưa ra một quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến một quyết định của một Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý về các kết quả bỏ phiếu, kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu dân ý trong vòng tối đa 2 ngày kể từ ngày khiếu nại được, gửi tới.

12. Giải quyết các khiếu nại liên quan đến một quyết định của một Uỷ ban bầu cử về các kết quả bỏ phiếu, các kết quả bầu cử và việc xác minh bằng chúng có liên quan đến các vi phạm pháp luật bầu cử không được xâm phạm đến quyên được miễn của một ứng cử viên đã được bầu nếu luật pháp của Liên bang Nga có quy định về quyền được miễn đó. Một ứng cử viên được công nhận là đã được bầu không được trao quyền từ chối đưa ra bằng chứng liên quan đến một vụ án hành chính, đến sự hoặc hình sự mà nguyên nhân chính có liên quan tới một khiếu nại về một vi phạm các quyền bầu cử của công dân. Việc giải quyết các khiếu nại liên quan đến một quyết định của một Uỷ ban bầu cử vế các kết quả bỏ phiếu, các kết quả bầu cử và điều tra sơ bộ không cần phải có đồng ý của cơ quan quyền lực nhà nước tương ứng hoặc cơ quan của chính quyền tự trị địa phương tương ứng đốỉ với việc kết thúc tình trạng được miễn của một ứng cử viên được công nhận là đã được bầu.

13. Các toà án và các cơ quan kiểm sát phải sắp xếp công việc (thậm chí làm việc trong các ngày nghỉ) để kịp thời giải quyết các khiếu nại.

(Được sửa đổi ngày 30/03/1999).

Điều 64. Các cơ sở để huỷ bỏ đăng ký của ứng cử viện, huỷ bỏ quyết định của Uỷ ban bầu cử, Uỷ ban trưng cầu dân ý liên quan đến kết quả bỏ phiếu, kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu dân ý.

1. Đăng ký của một ứng cử viên (danh sách ứng cừ viên) có thể bị huỷ bỏ (bị mất hiệu lực) không muộn hơn một ngày trước ngày bỏ phiếu, nếu vi phạm các quy định về ứng cử và đăng ký của ứng cử viên (danh sách ứng cừ viên). Vi phạm các quy định về vận động bầu cử và tài trợ bầu cử; ứng cử viên và các tổ chức của ứng cử viên, các lãnh đạo của các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử, lạm dụng vị trí chính thức của họ để được bầu; Thực tế có sự hối lộ các các cử tri do ứng cử viên, các hiệp hội tranh cử khối tranh cử, các tổ chức khác thực hiện để bầu cho ứng cử viên (danh sách ứng cử viên) nhất định. Vì các nguyên nhân khác theo quy định của Luật Liên bang này, Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, luật của Chủ thể thuộc Liên bang Nga. Đăng ký của một ứng cử viên cũng có thể bị huỷ bỏ trong trường hợp có điểm sai quan trọng trong các dữ liệu do ứng cử viên cung cấp theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 và Khoản 1 Điều 32 của Luật này và các dữ liệu có liên quan đến các kết án đã không được bãi bỏ hoặc huỷ bỏ và quyền công dân nước ngoài.

2. Sau khi Uỷ ban bầu cử tương ứng đã xác định các kết quả bỏ phiếu hoặc các kết quả bầu cử, nếu một toà án luật định cho rằng các vi phạm liệt kê tất Khoản 1 của Điều này đã xảy ra và ngăn cản việc xác định chắc chắn các ý chí quyết định của các cử tri, thì có thể huỷ bỏ quyết định của Uỷ ban bầu cử về các kết quả bỏ phiếu, các kết quả bầu cử.

3. Một toà án cấp tương ứng theo luật định có thể huỷ bỏ một quyết định của Uỷ ban bầu cử về các kết quả bỏ phiếu, các kết quả bầu cử tại một khu vực bầu cử một địa hạt, hoặc trong một khu vực bầu cử, hoặc trong một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, hoặc trên toàn bộ Liên bang Nga trong trường hợp có các vi phạm các quy định về lập các danh sách, các thủ tục thành lập các uỷ ban bầu cử, các thủ tục bỏ phiếu và lập các bảng phiếu bầu (bao gồm cả các cản trở công tác quan sát), xác định các kết quả bầu cử, các vi phạm khác đối với pháp luật bầu cử và các hành động (hoặc không hành động) đó không cho phép xác định chắc chắn các ý chí quyết đính của các cử tri.

4. Một toà án cấp tương ứng có thể huỷ bỏ một quyết định của Uỷ ban trưng cầu dân ý của Chủ thể thuộc Liên bang Nga, cuộc trưng cầu dân ý địa phương về các kết quả bỏ phiếu và các kết quả trưng cầu dân ý nếu có cấp vi phạm các quy định về lập các đanh sách những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý, các thủ tục thành lập các Uỷ ban trưng cầu dân ý, các vi phạm các quy định về chiến lực vận động và tài trợ, về công tác chuẩn bị và tiên hành một cuộc trưng cầu dân ý, sự lạm dụng vị trí chính thức của các thành viên của các khối sáng lập cuộc trưng cầu dân ý, các tổ chức của họ, các lãnh đạo của các tổ chức xã hội nhằm mục đích đạt được một câu trả lời theo như mong muốn đôi vời một vấn đề trưng cầu dân ý, các khoản hối lộ bị phát hiện do những người này và các tổ chức công thực hiện với cùng mục đích đưa cho những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý các vi phạm các thủ tục bỏ phiếu (bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn, các cản trở việc quan sát bầu cử.) các vi phạm pháp luật về trưng cầu dân ý khác diễn ra và các hành động (hoặc không hành động) này không cho phép xác định chắc chắn ý chí quyết định những người tham gia một cuộc trưng cầu dân ý.

5. Một toà án cấp tương ứng theo luật định, Uỷ ban bầu cử khu vực, Uỷ ban bầu cử của một Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Uỷ ban bầu cử Trung ương có thể huỷ bỏ quyết định bầu cử của một Uỷ ban bầu cử khu vực, địa hạt, vùng uỷ ban bầu cử của Chủ thể thuộc Liên bang Nga và Uỷ 'ban trưng cầu dân ý của một.Chủ thể thuộc Liên bang Nga, Uỷ ban của cuộc trưng cầu dân ý địa phương về các kết quả bỏ phiếu, các kết quả bầu cử, các kết quả trưng câu dân ý trong các trường hợp theo quy định của Luật Liên bang này và Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang khác, Hiến chương riêng của khu vực quy định các, vấn đề hành chính của các các cuộc bầu cử, các cuộc trưng cầu dân ý tương ứng.

6. Huỷ bỏ một quyết định của các Uỷ ban bầu cử, các Uỷ ban trưng cầu dân ý về các kết quả bỏ phiếu tại hơn 1/4 tồng số các khu vực bầu cử sẽ dẫn tới mất hiệu lực của cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý tại khu vực bầu cử, tại địa hạt trung cầu dân ý, tại Chủ thể thuộc Liên bang Nga hoặc của toàn bộ Liên bang Nga.

7. Một toà án luật định phải xem xét một khiếu nại và đứa ra quyết định trong vòng đối đa 2 tháng kể từ khi nhận được khiếu nái và trong các trường hợp theo quy định của Luật Liên bang này trong các khoảng thời gian giới hạn khác. Một toà án phải được trao quyền đưa ra quyết định nếu các đại diện của một trong các bên liên quan vắng mặt (vẫn không có mặt sau hai lần tống đạt giấy mời).

8. Các vi phạm các quy định của Luật này không được áp dùng như là các cơ sở để bãi bỏ quyết định về kết quả của các cuộc bầu cử nếu các vi phạm này mang tính xây dựng cho các cuộc bầu cử hoặc khuyến khích các cử tri bỏ phiếu bầu cho ứng cử viên, ứng cử viên đăng ký nhưng việc khuyến khích này không làm cho ứng cử viên trúng cử hoặc không làm cho các hiệp hội tranh cử, khối tranh cử không được cử đại diện uỷ quyền.



(Được sửa đổi ngày 30/03/1999)


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương