Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang62/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   58   59   60   61   62   63   64   65   ...   130

PHƯỚC BÁO TU SỬA THÁP PHẬT1

Sau khi đức Phật Ca-diếp nhập Niết-bàn, bảy ngôi tháp được xây dựng để thờ phụng xá-lợi Phật. Sau nhiều năm, các tháp ấy hỏng, không ai tu sửa. một vị trưởng giả thấy vậy liền bảo mọi người rằng: “Rất khó được sinh vào thời Phật pháp, lại cũng rất khó được sinh làm người. Tuy được làm người, nhưng nếu sinh vào những nơi xa xôi hẻo lánh chậm phát triển, hoặc sinh vào nhà kiến, ắt không khỏi bị đọa lạc. Nay chúng ta được sinh vào thời

1 Trích từ kinh Xuất Diệu (出曜經), được xếp vào Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, thuộc tập 4, kinh số 212,

tổng cộng 30 quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.

còn Phật pháp, không thể để luống mất nhân duyên tốt đẹp này.”

Nói rồi liền hướng dẫn 93.000 người khác, cùng tu sửa các tháp Phật, lại cùng nhau phát lời nguyện rằng: “Nguyện cho đời sau không rơi vào ba đường dữ, tám hoàn cảnh khó tu tập Phật pháp, được gặp đức Phật Thích-ca ra đời, trong Pháp hội đầu tiên thảy đều được độ thoát.”

Về sau, tất cả những người này sau khi mạng chung đều được sinh lên cõi trời, cuối cùng được gặp đức Phật Thích-ca xuất thế, quả đúng như lời phát nguyện ngày trước.

Lời bàn

Đức Phật kể lại chuyện này xong lại dạy rằng: “Vị trưởng giả đứng đầu ngày ấy, nay chính là đức vua Bình Sa nước Ma-kiệt- đề. Còn 93.000 người cùng tu sửa tháp Phật ngày xưa, nay đều ở trong số những người được gặp Phật, nghe pháp.”


CHƯ THIÊN RẢI HOA CÚNG DƯỜNG1

Thuở xưa một người nông dân, xây dựng một căn phòng nhỏ dâng cúng cho một vị tỳ-kheo đã chứng quả A-la-hán, hiệu là Ly Việt. Căn phòng nhỏ đến mức chỉ vừa đủ cho ngài tạm đặt thân nghỉ ngơi thôi, nhưng người ấy sửa dọn chung quanh căn phòng để có chỗ cho ngài đi kinh hành.



Về sau, người nông dân ấy qua đời liền được sinh lên cõi trời Đao-lợi, được sống trong một cung điện rộng vuông vức mỗi bề 4.000 dặm. Người ấy tự biết phước báo được hưởng đó do


1 Trích từ kinh Tạp thí dụ (雜譬喻經) (Chú giải của soạn giả), hiện 3 bản khác nhau trong Đại Chánh tân

tu Đại tạng kinh, đều xếp vào tập 4. Trong đó kinh số 204 1 quyển, do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch vào đời Hậu Hán, kinh số 205 2 quyển, đã mất tên người dịch, kinh số 207 1 quyển, do ngài Đạo Lược soạn. Tuy nhiên, theo tra cứu của chúng tôi thì đây An Sỹ toàn thư dường như đã sự nhầm lẫn khi dẫn chú, câu chuyện này không tìm thấy cả 3 bản kinh trên, lại được tìm thấy trong Cựu Tạp

thí dụ kinh (舊雜譬喻經), thuộc tập 4, kinh số 206 trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, tổng cộng 2

quyển, do ngài Khương Tăng Hội dịch vào đời Ngô. Câu chuyện này bắt đầu từ dòng thứ 26, trang 515, tờ b, quyển 1.

nhân duyên đời trước đã xây dựng căn phòng nhỏ cúng dường vị tỳ-kheo chứng quả A-la-hán, liền mang hoa tươi cõi trời đến rải xuống cúng dường nơi căn phòng vị tỳ-kheo Ly Việt ngụ, khấn rằng: “Ta ngày xưa bất quá chỉ xây dựng một căn phòng nhỏ vách đất sài, không ngờ ngày nay được hưởng phước báo lớn lao như thế này, nên đặc biệt mang hoa đến đây rải xuống cúng dường.”1



Lời bàn

Ngài Xá-lợi-phất lần nhìn thấy một vị thiên nhân đến rải hoa lên xác chết, hết sức cung kính, liền hỏi nguyên do. Vị thiên nhân đáp: “Đây chính thân xác đời trước của con. Lúc con còn sống, nhờ thân này để hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sa-môn, làm nhiều việc lành, giờ đây mới hưởng phước cõi trời, nên con rải hoa cúng dường thân này.”



Không bao lâu sau, ngài lại thấy số quỷ dữ, mỗi con quỷ ấy đều dùng roi quất vào một xác chết, liền đến hỏi nguyên do. Các quỷ đều đáp rằng: “Đây chính thân xác đời trước của con. Lúc còn sống, do thân này làm những việc sát sinh, trộm cắp, dâm, nói dối, ngỗ nghịch với cha mẹ, hủy báng Tam bảo, khiến cho ngày nay phải chịu đủ các khổ não, nên con giận mà dùng roi đánh.”

Xét như trên thì thể hiểu được việc thiên nhân đến rải hoa lên căn phòng của tỳ-kheo Ly Việt để cúng dường.
NỐI NGHĨA VỢ CHỒNG2

Trong thành Xá-vệ có một vị trưởng giả từng xây dựng chùa


  1. Tiếng Phạn dùng chữ Thủ-đà, Hán văn dịch nghĩa “nông phu”, tức chỉ giai cấp thứ của Ấn Độ thời cổ.

Trong văn dùng “đệ tứ tánh” chỉ giai cấp này, tức nông dân. (Chú giải của soạn giả)

  1. Trích từ kinh Tạp bảo tạng (雜寶藏經) (Chú giải của soạn giả). Kinh này được xếp vào Đại Chánh tân tu

Đại tạng kinh, thuộc tập 4, kinh số 203, tổng cộng 10 quyển, do ngài Kiết Ca Dạ ngài Đàm Diệu cùng dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Nguyên Ngụy. Câu chuyện này bắt đầu từ dòng thứ 19, trang 473, tờ b của quyển 5. Chúng tôi đã đối chiếu nội dung thấy soạn giả đã kể lại chuyện này chứ không trích nguyên văn trong kinh. Tiêu đề của chuyện này trong kinh Trưởng giả phu phụ tạo tác phù đồ sinh

chiền, tháp Phật. Sau khi ông qua đời liền được sinh lên cõi trời.1 Từ đó, người vợ thương nhớ chồng, thường đến quét dọn ngôi chùa do chồng xây dựng trước đây. Một hôm, người chồng từ xa lên tiếng nói với rằng: “Ta chồng của nàng ngày trước, nhờ công đức xây dựng chùa nên đã được sinh lên cõi trời. thấy nàng luôn thương nhớ ta nên đặc biệt từ cõi trời giáng hạ xuống đây. Chỉ tiếc thân người ô uế chẳng được thanh tịnh như chư thiên, nên chúng ta không thể gần nhau được nữa. Nếu nàng vẫn muốn làm vợ ta thì nên thường cúng dường Phật chư Tăng, quét dọn chùa chiền tháp Phật, phát nguyện được sinh về cùng một cõi trời với ta.”

Người vợ làm theo đúng như lời ấy, sau khi mạng chung quả nhiên được sinh lên cùng một cõi trời ấy, cùng nhau nối nghĩa vợ chồng. Cả hai cùng đến lễ Phật, được đức Phật thuyết pháp cho nghe, liền chứng quả Tu-đà-hoàn.2



Lời bàn

Trong Kinh dạy rằng: “Quét chùa trong khắp một cõi Diêm-phù-đề không bằng quét một ngôi tháp Phật chỉ lớn bằng bàn tay.” Cho nên, công đức quét tháp Phật là hết sức lớn lao.
KHÓ THÀNH CHỒNG VỢ3

Trong thành Xá-vệ hai vợ chồng hết sức kính tin Tam bảo. Khi họ còn chưa đứa con nào với nhau thì người vợ đã mất sớm, được sinh lên làm thiên nữ trên cõi trời Đao-lợi, thân thể vô cùng đoan nghiêm xinh đẹp khôngsánh bằng. Khi ấy, vị thiên


thiên duyên - 長者夫婦造作浮圖生天緣 (Nhân duyên vợ chồng trưởng giả cùng xây dựng chùa tháp được sinh về cõi trời).

  1. Theo trong Kinh văn thì vị này sinh lên cõi trời Ba mươi ba, tức cõi trời Đao-lợi (Phạn ngữ: Trāyastrimśa).

  2. Tu-đà-hoàn, tức Sơ quả, là quả vị đầu tiên trong bốn Thánh quả, còn gọi là quả Nhập lưu. Người chứng

đắc quả vị này còn 7 lần sinh lên cõi trời, 7 lần trở lại nhân gian, sau đó mới dứt trừ được sinh tử. (Chú giải của soạn giả, bổ sung)

  1. Trích từ Luận Phân biệt công đức (分別功德論) (Chú giải của soạn giả). Luận này được xếp vào Đại Chánh

tân tu Đại tạng kinh, thuộc tập 25, kinh số 1507, tổng cộng 5 quyển, đã mất tên người dịch. Câu chuyện này được chép trong quyển 3, bắt đầu từ dòng thứ 7, trang 38, tờ c.

nữ khởi lên ý nghĩ không biết trong cõi người ai người xứng đáng để làm chồng mình. Nghĩ rồi liền dùng thiên nhãn quán xét, thấy người chồng xuất gia thành một vị tỳ-kheo, tuổi tác cũng đã cao, ngày ngày lo việc quét dọn chùa chiền, tháp Phật. Thiên nữ liền phóng chiếu hào quang cõi trời, soi đến chỗ người chồng khiến cho ông được nhìn thấy, khuyên ông hãy tinh tấn tu hành để ngày sau được sinh lên cõi trời, lại cùng nhau kết thành chồng vợ.

Vị tỳ-kheo nghe biết người vợ trước đây của mình giờ đã được sinh lên cõi trời, lại càng tu tập tinh tấn hơn nữa. Thời gian sau, thiên nữ lại hiện đến, thấy vậy nói rằng: “Ngày nay đức hạnh của ngài đã vượt xa tôi, tôi thật không thể làm vợ ngài được nữa.”



Vị tỳ-kheo nghe thiên nữ nói vậy thì càng tu tập tinh tấn nhiều hơn nữa, cuối cùng chứng đắc quả A-la-hán.

Lời bàn

phước đức nghiệp báo phải tương đồng với nhau mới thể kết duyên chồng vợ, nên thể thấy rằng việc người vợ bao giờ cũng phải nương theo chồng, cùng nhau chia sẻ vinh nhục sang hèn, ấy đều do nghiệp đời trước chiêu cảm mà thành.


DÙNG NHÀ LÀM CHÙA1

Vào đời Bắc Tống vị tên Phạm Trọng Yêm,2 tên tự Hy Văn, suốt đời thường rộng làm đủ mọi việc thiện, dốc lòng tin sâu Phật pháp. Khi làm quan, mỗi lần nhận chức bất cứ đâu, ông đều bỏ tiền ra xây dựng chùa chiền, tạo điều kiện khuyến khích người khác xuất gia tu hành, đem lòng tôn kính mà làm hưng thịnh Tam bảo.




  1. Trích từ sách Kim thang biên. (Chú giải của soạn giả) Đúng ra tên đầy đủ của sách này Phật Pháp Kim

Thang Biên (佛法金湯編), hiện xếp trong Vạn tân toản Tục tạng kinh, thuộc 87, kinh số 1628, tổng cộng 16 quyển, do ngài Tâm Thái biên soạn vào đời Minh.

  1. Phạm Trọng Yêm sinh năm 989, mất năm 1052.



Phạm Trọng Yêm cùng với hai vị thiền Lang Gia Huệ Giác Tiến Phước Thừa Cổ giao tình đạo vị hết sức mật thiết. Hồi còn trẻ, Trọng Yêmlần đến chùa đọc sách tại núi Trường Bạch, tình cờ phát hiện một chỗ chôn giấu vàng. Ông che kín chỗ ấy lại đi, không động đến một mảy may. Sau này ông ra làm quan rồi, mới đến chỉ cho chư tăng trong chùa nơi giấu vàng ấy, bảo các vị dùng vàng để xây dựng, tu sửa lại chùa.

lần ông vâng mệnh đến Đông truyền đạt lệnh vua và phủ dụ quân dân địa phương, tình cờ gặp được một bản kinh Phật cổ xưa rất quý, tên Thập lục La-hán nhân quả tụng.1 Ông đích thân viết lời tựa, trao cho thiền sư Huệ Triết để lưu hành.

Những năm về già, ông dùng nhà của mình sửa sang lại thành một ngôi chùa, lấy tên chùa Thiên Bình, cung thỉnh thiền Pháp Viễn Phù Sơn đến trụ trì.2

Vào đời vua Tống Nhân Tông, ông được thăng chức quan Khu mật, tham gia việc chính sự quốc gia. Sau khi ông mất, vua truy phong tước Sở Quốc công, ban thụy hiệu Văn Chính, con cháu đời sau đều nối nhau vinh hiển, thành đạt.



Lời bàn

Nhà cửa ruộng vườn, bất quá chỉ như quán trọ tạm ghé trong một đời, khi được thì nên vui mừng hoan hỷ dùng để bố thí, tu phước.



Đời Đông Tấn, Trấn Tây Tướng quân Tạ Thượng,3 nhờ được cha Tạ Côn về báo mộng thoát nạn, nhân đó nên vào niên hiệu Vĩnh Hòa thứ 4 liền sửa sang nhà của mình


  1. Sách Phật Tổ thống kỷ, quyển 45, nhắc đến việc này. Theo sách này thì tên kinh Thập lục La-hán nhân quả thức kiến tụng (六羅漢因果識見頌). Bản này sau được xếp vào Vạn tân toản Tục tạng kinh với tên Thập lục Đại La Hán nhân quả thức kiến tụng (十六大羅漢因果識見頌), thuộc tập 2, kinh số 207, 1 quyển, do ngài Xà-na-đa-ca dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Đường.

  2. Học phủ Châu cũng chính do Phạm Trọng Yêm hiến tài sản riêng để sáng lập thành.

  3. Tạ Thượng sinh năm 308, mất năm 356, con quan Thái thú Dự Chương Tạ Côn. Ông người em Tạ An Tùng cũng làm đến chức Thái phó đời Đông Tấn.

  4. Tức năm 348.



làm thành chùa Trang Nghiêm.1 Quan Trung thư lệnh Vương Thản Chi hiến đất vườn nhà xây dựng thành chùa An Lạc.2 Quan Thứ sử thời Đông Tấn Đào Phạm, vào niên hiệu Thái Nguyên năm thứ nhất3 cũng sửa sang nhà của mình, xây dựng thành chùa Tây Lâm.4 Đời Bắc Tống Tử Ước,5 vào năm mất mùa đói kém tổ chức việc nấu cháo phát chẩn, cứu sống được đến hàng chục ngàn người, về sau cũng dùng nhà của mình xây dựng thành ngôi chùa thờ Phật.6 Đời nhà Đường, Vương Ma Cật7 nhân lúc thọ tang mẹ liền dâng biểu lên triều đình, thỉnh cầu cho phép ông mang toàn bộ sở đã kiến lập núi Lam Điền thuộc Võng Xuyên sửa sang thành chùa thờ Phật. Lại như các ông Bạch Lạc Thiên,8 Vương Giới Phủ9 cũng đều dùng nhà ở của mình để xây dựng lại thành chùa thờ Phật.10

Nếu đem so những bậc hiền nhân đời trước như thế với những kẻ đời nay chỉ biết bóc lột, bòn rút tài sản người khác để xây dựng nhà to cửa lớn cho mình, để rồi đành chịu để cho những đứa con cháu hỏng hủy hoại tiêu tan hết, trong khi một đời chẳng chịu bỏ ra một đồng một cắc để làm việc phước thiện, thì quả thật khác biệt nhau một trời một vực, như rồng thiêng đem so với thằn lằn nhỏ nhoi hèn mọn!





  1. Xem trong sách Kiến khang lục (建康錄). (Chú giải của soạn giả)

  2. Xem trong sách Sưu thần (搜神記). (Chú giải của soạn giả)

  3. Tức năm 376.

  4. Xem chuyện này trong sách Tấn thư (晉書). (Chú giải của soạn giả)

  5. Còn tên Soạn.

  6. Xem chuyện này trong sách Pháp hỷ chí (法喜志). (Chú giải của soạn giả)

  7. Tức Vương Duy, sinh năm 701, mất năm 761, một họa sĩ, nhà thư pháp, đặc biệt nhà thơ danh tiếng

của đời Đường. Ông được mệnh danh Thi Phật, cùng với Đỗ Phủ (Thi Thánh) Bạch (Thi Tiên) được xem 3 nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường.

  1. Tức Bạch Dị, một nhà thơ danh tiếng của đời Đường.

9 Tức Vương An Thạch, sinh năm 1021, mất năm 1086, từng làm đến chức Tể Tướng triều Bắc Tống. Ông cũng một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, được xếp vào một trong Đường Tống Bát đại gia. Bảy người kia là: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tuân, Thức, Triệt Tằng Củng.

10 Xem những chuyện vừa nói trên trong truyện kể về mỗi vị. (Chú giải của soạn giả)





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   58   59   60   61   62   63   64   65   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương