Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang60/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   56   57   58   59   60   61   62   63   ...   130

PHÁP GIỚI DUY TÂM

Bốn bậc thánh, sáu cõi phàm đều do tâm tạo.6

Phật là bậc thầy dẫn dắt Ba cõi,7 là đấng cha lành chung của bốn loài,8 khắp cõi trời, người, thế gian hay xuất thế gian, không ai sánh bằng Phật.

Bồ Tát gồm 51 bậc: Mười tín, Mười trụ, Mười hạnh, Mười hồi hướng, Mười địa và Đẳng giác.9

Duyên giác các vị do nghe biết Mười hai nhân duyên




  1. Tam đại: chỉ ba đời nhà Hạ, nhà Thương nhà Chu trong lịch sử Trung Hoa.

  2. Tám nan xứ (Bát nan): chỉ tám hoàn cảnh khiến cho chúng sinh rất khó tu tập Phật pháp, bao gồm: (1)

địa ngục, (2) ngạ quỷ, (3) súc sinh, (4) sinh vào châu Bắc Câu-lô (tức châu Uất-đan-việt), (5) sinh lên cõi trời Trường thọ, (6) sinh làm người đui mù, câm điếc, (7) sinh làm người thế trí biện thông, và (8) sinh ra trước hoặc sau khi Phật xuất thế. nơi gọi Tám nạn.

  1. Do đời trước chỉ làm việc phước đức một cách si mê, thiếu trí tuệ. (Chú giải của soạn giả)

  2. Bồ Tát Vi Đà không cảm hóa được người châu này, nên chỉ thấy nói đến ba châu cảm ứng (Chú giải của

soạn giả) Ba châu bao gồm Nam Thiệm bộ châu, Tây Ngưu hóa châu Đông Thắng thần châu.

  1. Câu này nằm trong một bài biểu văn bài xích Phật giáo của Hàn (韓愈), tức bài Nguyên Đạo (原道).

Trong đó ông hết lời bài bác đạo Phậtkiến nghị triều đình bắt tất cả tăng ni phải hoàn tục, đốt hết tất cả kinh Phật, phá hủy tất cả chùa chiền, tự viện.

  1. Bốn bậc thánh chư Phật, Bồ Tát, Duyên giác Thanh văn. Sáu cõi phàm các cõi trời, người, a-tu-la, địa

ngục, ngạ quỷ súc sanh.

  1. Ba cõi gồm cõi Dục, cõi Sắc cõi sắc (Dục giới, Sắc giới sắc giới). Chúng sinh theo nghiệp lực

lưu chuyển, thiện ác cũng không ra ngoài ba cõi này. Chỉ riêng những bậc tu hành theo pháp xuất thế mới thể dứt trừ nghiệp lực, ra khỏi ba cõi, tức không còn sinh tử luân hồi.

  1. đây phân biệt bốn loài hay tứ sanh bao gồm các loài sinh ra từ trứng (noãn sanh), các loài sinh ra từ bào

thai (thai sanh), các loài sinh ra từ chỗ ẩm thấp (thấp sanh) các loài sinh ra do sự biến hóa (hóa sanh). Tất cả chúng sinh hữu tình đều sinh ra bởi một trong bốn cách này.

  1. Theo âm Hán Việt Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa Đẳng giác.

giác ngộ, chỉ tự độ mình, chưa thể cứu độ người khác, nhưng tự thân các vị đã vượt ngoài Ba cõi.

Thanh văn các bậc tu chứng nhờ được nghe Pháp âm, tức bốn thánh quả: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm A-la-hán.

Chúng sinh tu Mười điều lành (Thập thiện) thì sinh lên các cõi trời, hưởng sự khoái lạc. Trong Ba cõi tổng cộng 28 cảnh trời.

Chúng sinh giữ trọn được Năm giới thì sinh vào cõi người. Tuy vậy, vẫn kẻ hiền người ngu chẳng đồng. Trong số đó, người tạo nhiều phước đức đến mức cùng cực bậc thánh nhân.

A-tu-la những chúng sinh đủ phước như chư thiên nhưng không có đức hạnh như chư thiên.



Chúng sinh bốn cách sinh ra là: sinh ra từ trứng (noãn sinh), sinh ra từ bào thai (thai sinh), sinh ra từ sự ẩm thấp (thấp sinh) sinh ra do sự biến hóa (hóa sinh).

Những kẻ ngu si kiến, nợ nần không trả, khi chết sinh làm súc sinh, bị người giết hại, tuy miệng nhưng không tranh biện gì được.

Những kẻ keo kiệt không bố thí, sau khi chết sinh làm quỉ đói, trải nhiều đời kiếp không được nghe đến tên gọi thức ăn nước uống, nói gì đến việc được ăn uống, nỗi khổ đó thật khôn cùng.

Những kẻ bác bỏ nhân quả, làm đủ các việc ác, sau khi chết sinh vào địa ngục, một ngày một đêm trải qua muôn lần chết đi sống lại mà chịu khổ.


THẾ GIỚI TA

Nói “ba ngàn đại thiên” nghĩa rằng: từ một, hai, cho đến một ngàn cõi Tứ thiên hạ một tiểu thiên thế giới; lại từ một, hai, cho đến một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế

giới; lại từ một, hai, cho đến một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. ba lần số ngàn như vậy mới thành một đại thiên thế giới cho nên gọi “ba ngàn đại thiên” nhưng thật ra là chỉ cho một đại thiên thế giới mà thôi.

Núi đại Thiết vi

Đây tên gọi chung chỉ thế giới đức Phật Thích-ca đã ra đời, cùng với toàn cõi thế giới ba ngàn đại thiên này. Nếu tính hết trong toàn cõi thế giới thì đến 100.000.000 cõi Tứ đại thiên hạ bao quanh ngọn núi này.



Tứ đại thiên hạ

Bao gồm 4 châu, đều nằm khoảng giữa đường đi của Mặt trời mặt trăng, chính giữa núi Tu di, trên đỉnh cung trời Đao-lợi.

Châu Nam thiệm bộ 16 nước lớn, 500 nước trung bình,

100.000 nước nhỏ, nước Thiên Trúc nằm ngay chính giữa.1 Châu Đông thắng thần, chính nước Trung Hoa, nằm về

phía đông nam nước Thiên Trúc, nên còn gọi nước Đông

Chấn Đán, cũng gọi nước Đông Chi-na, một quốc gia có văn hiến.


NĂM PHƯỚC BÁO CỦA NGƯỜI ẤN TỐNG KINH ĐIỂN

Một được trường thọ, hai được giàu có, ba được thân thể đoan chính, bốn là được sanh vào nhà tôn quí, năm là được thông minh.


PHƯỚC BÁO CỦA NGƯỜI TỤNG KINH

Do không sát sinh, không trộm cắp, giữ hòa khí, tin Phật và giác ngộ nên không rơi vào tám hoàn cảnh khó tu tập Phật pháp (hay Tám nan xứ), bao gồm:



1 Thiên Trúc là tên gọi được dùng để chỉ Ấn Độ thời xưa.

Bốn hoàn cảnh trong cõi người: (1) sinh ra trước hay sau lúc Phật xuất thế, (2) sinh vào châu Bắc-câu-lô, (3) sinh làm người đui mù, câm điếc, (4) sinh làm người thế trí biện thông.

Ba hoàn cảnh trong cõi ác: (5) địa ngục, (6) ngạ quỷ, (7) súc sinh.

Một hoàn cảnh trong cõi trời: (8) sinh vào cõi trời Vô tưởng.
Trưng dẫn sự tích
RỒNG CẦU TRAI PHÁP

Ngày xưa, vị quan giữ vườn thượng uyển, một hôm hái được thứ quả quý hiếm bên bờ hồ, liền dâng lên vua. Vua rất thích, nhân đó hạ lệnh cho ông mỗi ngày đều phải dâng thứ quả đó, nếu không có sẽ xử tội chết.



Viên quan này kinh hoảng, oan ức kêu trời. Lúc đó, trong hồ vị long vương hiện thành hình người, bưng mâm vàng đựng quả, an ủi vị quan rằng: “Ông đừng lo sợ nữa, hãy mang mâm quả này dâng vua, chỉ cầu xin một điều thôi. Thuở xưa, sau khi đức Phật Ca-diếp nhập Niết-bàn,1 tôi với vua này cùng thọ giới Bát quan trai. Vua giữ trai giới đúng pháp, sau giờ ngọ không ăn, nên đời này được làm vua. Tôi bị người khác xúi giục, sau giờ ngọ vẫn cứ ăn, thế mới đọa vào loài rồng. Nay tôi mong muốn được pháp Bát quan trai giới ấy để rộng khuyên mọi người cùng thọ trì. Nếu vua nhanh chóng mang giáo pháp ấy đến đây, tôi sẽ hết lòng giúp đỡ đất nước này. Bằng không, tôi sẽ nhấn chìm cả nước.”

Nhưng thuở ấy không pháp Phật, biết tìm đâu ra giáo pháp Bát quan trai giới? Vua hết sức lo buồn sầu khổ. Bấy giờ, người cha của một vị đại thần nói với vị ấy rằng: “Trong cây cột nhà ta thường phát ra ánh hào quang sáng rực, nên chẻ cây cột ấy ra thử


1 Đức Phật Ca-diếp vị Phật ra đời trước đức Phật Thích-ca, vào lúc tuổi thọ trung bình của con người

20.000 năm. (Chú giải của soạn giả)

xem.”

Vị đại thần nghe lời cha, lúc chẻ ra liền thấy hai quyển kinh: một quyển Mười hai nhân duyên một quyển Bát quan trai pháp, liền mang dâng lên vua. Vua hết sức vui mừng, đưa quyển Bát quan trai pháp cho Long vương.



Long vương sau đó cùng với 500 đứa con cùng nhau tu tập pháp Bát quan trai giới. Sau khi mạng chung, tất cả đều được sanh lên cõi trời Đao-lợi.

Pháp Bát quan trai giới

Thứ nhất, không giết hại: Bất kỳ loài nào mạng sống đều không được giết hại;

Thứ hai, không trộm cắp: Bất kỳ vật không phải sở hữu của mình, nếu người khác không tặng cho thì không được giữ lấy;

Thứ ba, không dâm dục: Năm giới của người tu tại gia chỉ cấm việc dâm, nhưng trong ngày thọ Bát quan trai thì dứt hẳn sự dâm dục;

Thứ tư, không nói dối: Lời nói tâm ý đều phải như nhau, hoàn toàn không có sự gian dối;

Thứ năm, không uống rượu: Rượu làm rối loạn tâm tánh, uống vào sinh ra mọi tội lỗi;

Thứ sáu, không dùng hương, hoa trang điểm, không ướp hương thơm vào thân thể: dứt trừ sự tham đắm chấp trước nên không tô điểm làm đẹp thân thể;

Thứ bảy, không đàn ca, hát xướng, nhảy múa; không đi nghe, xem người khác đàn ca, hát xướng, nhảy múa: Tự mình đàn ca, hát xướng hay xem, nghe người khác đàn ca, hát xướng đều làm rối loạn tâm tu tập. Nói đàn ca chỉ chung việc sử dụng tất cả các loại nhạc khí như đàn, tiêu, sáo, quyển...

Thứ tám, không ngồi, nằm trên giường ghế cao rộng: đề phòng

việc khởi tâm tham trước, phóng túng;

Thứ chín, không ăn sai giờ Người ăn sai giờ tâm trí dễ bị tối tăm, mê muội.

Tám điều trước gọi giới, điều thứ chín gọi trai. Chữ quan () nghĩa đóng lại, chữ trai () nghiêm túc tề chỉnh. Dùng tám giới trước để đóng lại tất cả các cửa ác, dùng một pháp trai cuối cùng để giúp cho tinh thần sáng suốt, tỉnh táo, giữ được chính niệm.

Không ăn sai giờ nghĩa quá giữa ngày2 thì không ăn. Đây là đức Phật giúp cho người tại gia được thọ giới như người xuất gia, dùng đó làm phương tiện để gieo trồng căn lành xuất thế.



người tại gia còn sống đời vợ chồng, không dễ dứt bỏ sự dâm dục; lại mỗi người đều vướng mắc công ăn việc làm, không dễ giữ theo giới không ăn sai giờ, nên chỉ thiết lập kỳ hạn trong một ngày một đêm, tức thọ giới từ buổi sáng sớm cho đến sáng sớm ngày hôm sau hoàn mãn. Nếu muốn thọ trì nhiều lần vẫn phải giữ theo từng ngày một. Hết thảy các giới khác đều thọ trì suốt đời, chỉ riêng Bát quan trai giới kỳ hạn chỉ trong một ngày một đêm.

Nếu thể phát tâm Bồ-đề, giữ giới này được thanh tịnh thì được vãng sinh Tây phương Cực Lạc, huống chi việc sanh lên các cõi trời. Bằng như không thật giữ được theo đúng pháp thì việc thọ giới ắt chỉ hình thức huyễn thôi.

Lúc thọ giới nên thỉnh một vị tỳ-kheo đến trước bàn thờ Phật để thuyết giới. Nếu không tỳ-kheo thì tự mình đến trước bàn thờ Phật tác bạch để thọ giới. Nếu không tượng Phật thì đối trước Kinh Phật để thọ giới cũng được. Nhưng nếu tỳ-kheo không cầu vị ấy truyền giới, lại tự mình tác bạch thọ giới thì





  1. Người thọ Bát quan trai giới chỉ ăn một lần trong ngày vào trước giờ ngọ, gọi ăn đúng giờ. Nếu sau giờ

ngọ ăn thì gọi ăn sai giờ (phi thời thực), tức phạm giới.

  1. Tức sau giờ ngọ, sau 12 giờ trưa.

phạm lỗi khinh Pháp, khinh Tăng, lợi ích của việc trì giới sẽ do tâm khinh mạn đó mà giảm bớt.



Bất kể người chưa thọ giới, hoặc đã thọ Năm giới, hay đã thọ giới Bồ Tát, đều thể thọ trì Bát quan trai giới, giới này thuộc về giới gia hành.1
CHÉP KINH THOÁT KHỔ2

Niên hiệu Long Sóc năm thứ ba đời Đường Cao Tông,3 mẹ vợ của ông Lưu Công Tín Trường An qua đời. Không lâu sau, vợ ông Trần thị cũng đột nhiên chết đi. Trần thị khi ấy nhìn thấy mẹ bị giam trong ngục đá, chịu nhiều cực hình, buồn nói với con gái: “Hãy mau mau mẹ chép một bộ kinh Pháp Hoa, giúp mẹ thể thoát tội.” Vừa nói dứt lời, ngục đá lập tức đóng chặt, Trần thị liền sống lại. đem việc ấy thuật lại với chồng. Lưu Công Tín liền nhờ người em rể Triệu Tử chép kinh. Họ Triệu bèn lấy một bộ kinh Pháp Hoa đã chép sẵn trước đó, đưa cho họ Lưu trang trí lại rồi dâng cúng. Kỳ thật, bộ kinh đó do một người họ Phạm trước đây bỏ tiền thuê chép nhưng Lưu Công Tín không hề hay biết. Không lâu sau, Trần thị lại mộng thấy mẹ về giục chép kinh. Trần thị nói đã chép xong, mẹ khóc nói rằng: “Mẹ bộ kinh đó chịu thêm khổ sở. Đó phúc đức của nhà họ Phạm tạo ra, sao lại cướp công người ta?” Tỉnh dậy bèn tra hỏi, quả nhiên nhà họ Phạm đã bỏ hai trăm lạng bạc thuê chép kinh. Do đó, liền chép riêng một bộ kinh Pháp Hoa khác để cúng dường.



  1. Gia hành: dịch từ Phạn ngữ prayoga, trước đây được dịch phương tiện. Gia hành hàm nghĩa “gia

công dụng hành”. Ở đây, giới gia hành có thể được hiểu là giới để hỗ trợ, củng cố thêm cho sự tu tập. Vì thế có thể thọ trì riêng giới này hoặc cùng với các giới khác đều được.

  1. Trích từ sách Pháp uyển châu lâm (法苑珠林). Sách này 100 quyển, được xếp vào Đại Chánh tân tu

Đại tạng kinh, thuộc tập 53, kinh số 2122. Câu chuyện này được chép quyển thứ 57, bắt đầu từ dòng thứ 26, trang 721, tờ c. Nội dung ở đây được lược kể lại, không trích nguyên văn.

  1. Tức là năm 663.



Lời bàn

Đất Dương Châu người tên Nghiêm Cung, vào năm đầu niên hiệu Thái Kiến đời Trần1 chép kinh Pháp hoa để lưu truyền. Lúc bấy giờ, vị thần miếu hồ Cung Đình báo mộng cho một người khách buôn, bảo lấy hết tài vật trong miếu mang đến chỗ ông Nghiêm, để ông ấy dùng vào việc chép kinh. Lại một hôm, ông Nghiêm vào chợ mua giấy nhưng thiếu mất 3.000 đồng, chợt thấy trong chợ một người mang 3.000 đồng đến, nói là giúp ông mua giấy. Nói xong liền biến mất.



Đến cuối đời Tùy, giặc cướp kéo đến tận Giang Đô, đều bảo nhau không được xâm phạm vào làng của ông Nghiêm chép kinh Pháp Hoa. Nhờ đó người làng phần lớn đều được sống sót.

Đến cuối đời Đường, nhà họ Nghiêm vẫn còn tiếp tục việc chép kinh Pháp Hoa.

Cho nên biết rằng, trong khi kinh sách được in ấn lưu truyền thì các vị thần linh đều rõ biết.
GỐI ĐẦU LÊN KINH KHÔNG THI ĐỖ2

Cao Thiên Hựu, người huyện Dĩnh Thượng, tỉnh An Huy, trước đây đã từng cùng hai người bạn đồng học đến Giang Ninh dự thi. Mọi người nghe danh thiền Thủ Nguyên núi Minh người đạo hạnh, liền rủ nhau đến tham bái.

Thiền nhân đó nói với ba người rằng: “Hai vị này đều sẽ thi đỗ, chỉ riêng ông Cao không thể đỗ đã muội dùng kinh Lăng nghiêm làm gối kê đầu.

Nghe thế, Cao Thiên Hựu ngạc nhiên lắm, nhưng bình tĩnh suy nghĩ lại hồi lâu, mới nhớ ra trong tráp một bộ kinh Lăng nghiêm, lúc nằm nghỉ chẳng bao giờ lấy ra, lại dùng cái tráp ấy



  1. Tức là năm 569.

  2. Trích từ sách Cảm ứng thiên chú sớ ( 應 篇 註 ).

gối đầu.

Đến lúc bảng báo kết quả thi, quả thật đúng như lời thiền

sư.


Lời bàn

người thắc mắc rằng, tất cả sách vở kinh thư đều nên tôn trọng, sao lại chỉ tôn sùng riêng Kinh điển nhà Phật? Những người ấy không biết rằng, tuy chữ nghĩa giống nhau, nhưng giáo pháp của Như Lai làm lợi ích khắp cả chúng sanh, hết thảy tám bộ trời rồng, không ai không tin tưởng làm theo, nên những sách vở thư tịch thông thường không thể nào sánh kịp. Cũng như chiếu chỉ vua ban, không thể xem đồng như các văn bản khác.

Xét như việc Cao Thiên Hựu khinh thường kinh Phật mà phải chịu hậu quả đi thi không đỗ như thế, thì người phát tâm in ấn lưu truyền Kinh điển được công đức lợi ích như thế nào hẳn có thể biết được.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   56   57   58   59   60   61   62   63   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương