Nguyên tác


Trích dẫn kinh sách Đạo gia



tải về 32.39 Mb.
trang44/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   40   41   42   43   44   45   46   47   ...   130
Trích dẫn kinh sách Đạo gia

Pháp luân kinh của Đạo giáo nói: “Đức Thiên Tôn ban sắc dạy hàng đạo rằng: Nếu thấy hình tượng Phật, khởi tâm vô lượng, nên nguyện cho hết thảy chúng sinh cùng thể nhập pháp môn.”

Kinh Thái thượng thanh tĩnh nói: “Nếu thấy bậc sa-môn, nên nguyện cho tất cả chúng sinh thấu được pháp môn giáo hóa, cùng đắc đạo như Phật.”

Kinh Lão tử thăng nguyên nói: “Đạo thiết lễ cúng thanh tịnh, nếu các vị tỳ-kheo hoặc tỳ-kheo ni đến, phải mời lên tòa cao ngồi.”

Sách Phù tử nói rằng: “Bậc thầy của Lão tử chính đức Thích-ca Văn Phật.”

Kinh Linh bảo tiêu ma an chí nói: “Đạo lấy sự thanh tịnh trai giới làm đầu, chuyên cần thực hiện ắt sẽ thành Phật.”1

Kinh Thượng phẩm đại giới nói rằng: “Cúng dường nơi tháp miếu của Phật, được phước báo gấp ngàn lần. Cúng dường các vị sa-môn, được phước báo gấp trăm lần.”



Kinh Lão tử đại quyền Bồ Tát nói rằng: “Lão tử chính Bồ Tát Ca-diếp, đến giáo hóa nơi đất Trung Hoa.”

Lời bàn

Thời xưa Đạo giáo cúng tế thường dùng thịt nai khô, rượu trắng, nay đã thay đổi dùng táo khô với nước thơm.



1 Kinh này trước đây chép rằng: 勤行當作佛 - cần hành đương tác Phật, về sau thấy sửa lại là: 勤行登金

- cần hành đăng kim khuyết (chuyên cần thực hiện được lên đài vàng).



HOẶC THỜ PHẬT HỌC KINH, THƯỜNG NHỚ NGHĨ LÀM THEO LỜI PHẬT DẠY
Giảng rộng

Danh xưng Phật mang ý nghĩa giác ngộ. Tự mình đã giác ngộ rồi, lại giáo hóa người khác giúp cho cũng được giác ngộ, đạt đến chỗ giác ngộ giáo hóa đều rốt ráo viên mãn thì được tôn xưng Phật. trong tự tâm mỗi người đều sẵn phẩm tính giác ngộ, nên đều sẵn có tánh Phật.

Nếu nói rằng những tượng đất tượng gỗ người đang lễ bái kia Phật, ắt đó chỉ Phật của hạng phàm nhân ngu muội. Nếu nói thánh thần ban phước giáng họa Phật, thì đó chỉ là Phật của một số nhà Nho thời Đường, Tống.

Hạng phàm nhân ngu muội suốt ngày nói đến Phật, nhưng thật ra Phật chưa từng được cung kính; các nhà Nho thời Đường Tống suốt ngày báng bổ Phật, nhưng thật ra Phật chưa từng bị hủy báng; ấy những hạng người như thế đều không hề biết rằng trong tự thân mình thật sự Phật.

Phật bậc thầy lớn của Ba cõi, tất nhiên hết thảy hàng chư thiên, thần tiên, Phạm vương, Đế Thích, đều phải cung kính lễ bái, huống chi hạng phàm phu đang chìm đắm trong vòng trói buộc?

Kính lễ một vị Phật, nên quán tưởng như đang kính lễ vô số Phật; kính lễ đức Phật trong hiện tại, nên quán tưởng như đang lễ bái chư Phật quá khứ cùng chư Phật trong đời vị lai; như đối trước chư Phật ba đời trong khắp mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ, đều nguyện đem thân mình cúng dường đến hết thảy các vị, được như thế mới thể gọi khéo tu pháp lễ kính Phật.

Kinh điển của chư Phật so với các sách khuyến thiện của thế gian chỗ không giống nhau. Thế gian chỉ biết mưu cầu lợi lạc cho bản thân, gia đình mình; kinh Phật lại nhắm thẳng đến việc cứu độ, khai mở trí tuệ cho hết thảy chúng sinh. Thế gian chỉ khả năng luận bàn việc trong hiện tại, kinh Phật lại nhắm thẳng đến những phước báo lợi lạc cho nhiều đời nhiều kiếp. Thế gian này nếu không kinh điển của chư Phật, ắt khắp hai cõi trời người, thiên hạ đều phải chìm trong đêm dài tăm tối. Cho nên, kinh Thắng Thiên Vương dạy rằng: “Nếu như bậc thầy thuyết giảng Phật pháp đi qua nơi nào, hàng thiện nam tín nữ nên phát nguyện đem thân xác mình trải lót trên đường đi, không để chút bụi bặm nào bay lên làm bẩn chân Pháp sư.”1 Chí thành cúng dường đến mức như vậy cũng chưa đủ gọi là nhiều.

Tụng đọc kinh Phật, nghĩ nhớ thấu hiểu ý nghĩa sâu xa, lại thể y theo lời dạy trong kinh thực hành tu tập, đó là cao quý nhất. Nếu như không hiểu được ý nghĩa sâu xa, chỉ giữ lòng cung kính ngưỡng mộ, cũng được hưởng lượng phước báo. Giống như đứa trẻ ngây thơ dùng thuốc, tuy chưa hiểu gì về phương thuốc ấy, nhưng vẫn có thể trị được bệnh tật.
Phụ đính về sự sâu xa uyên áo của Phật pháp
NGÀI A-NAN KẾT TẬP KINH ĐIỂN2

Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, muốn kết tập lại tất cả những lời thuyết giảng của Phật trong 49 năm, nên hai cõi trời, người cùng nhau hội tập. Ngài A-nan lên tòa cao ngồi, thân đắp




1 Tên gọi đầy đủ của kinh này trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh là Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La

Mật Kinh (勝天王般若波羅蜜經), được xếp vào tập 8, kinh số 231, tổng cộng 7 quyển, do ngài Nguyệt-bà- thủ-na dịch sang Hán ngữ. Đoạn trích này bắt đầu từ dòng thứ 5, trang 725, tờ c của quyển thứ 7.

Trích từ sách Pháp uyển châu lâm - 法苑珠林. (Chú giải của soạn giả) Sách này thuộc Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, tập 53, kinh số 2122, tổng cộng 100 quyển, do ngài Đạo Thế soạn vào đời Đường. Đoạn này lược thuật dựa theo sách, không phải trích nguyên văn. Xem phần nội dung này tại quyển 12, bắt đầu từ dòng thứ 15, trang 376, tờ a, phần Thất bách kết tập bộ - đệ tứ.
2

y của Như Lai, Đại Phạm Thiên vương cầm lọng làm bằng bảy món báu theo hầu che bên trên. Thiên Đế Thích dâng lên bàn bảy báu, bày trước mặt ngài A-nan. Vua La-hầu của loài a-tu- la hai tay bưng hương bảy báu đến trước ngài A-nan. Thiên vương cõi trời Tha hóa tự tại cũng dâng lên bảy món báu, số lượng rất nhiều. Ma vương Ba-tuần cầm cây phất trần bằng bảy báu dâng cho ngài A-nan, sau đó cùng với Đế Thích đứng hầu hai bên tả hữu. Bốn vị Đại thiên vương đứng hầu quanh bốn chân tòa báu.

Sau khi kết tập kinh điển thành tựu, vua A-xà-thế sao chép được 5 bản, Phạm vương sao chép 3 bản, Đế Thích sao chép 7 bản, Long vương Bà-kiệt-la sao chép được 80.000 bản, tất cả đều dùng vàng bạc, bảy báu in ấn lưu truyền.

Lời bàn

Đức Phật dạy rằng: “Ở châu Diêm-phù này, chỉ 32 nước1 chúng sinh đủ căn lành lớn, khả năng lưu hành giáo pháp do Phật truyền lại. Châu Phất-bà-đề phương đông 260 nước, châu Cù-da-ni phương tây 130 nước, chúng sinh đó cũng có khả năng thực hành theo giáo pháp do Phật truyền lại. Còn hết thảy chúng sinh những nơi khác đều bạc phước,2 không đủ sức để nghe và nhận lãnh Phật pháp.”


KINH PHẬT ĐẾN TRUNG HOA3

Triều Đông Hán, Minh Đế sai nhóm các ông Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Tuân... cả thảy 18 người, sang nước Thiên Trúc,4 khi trở về cung thỉnh được các vị tăng người Thiên Trúc Ma Đằng, Trúc Pháp Lan, cùng với nhiều tranh tượng Phật Kinh điển.


  1. Tổng cộng trong cõi Diêm-phù-đề 16 nước lớn, 500 nước trung bình 100.000 nước nhỏ. (Chú giải

của soạn giả)

  1. Chỉ chúng sinh châu Câu-lô phương bắc, (Chú giải của soạn giả) một số nước khác còn lại thuộc

các châu đã kể.

  1. Trích từ sách Pháp bản nội truyền - 法本內傳 đời Hán. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức tên gọi người Trung Hoa xưa dùng để gọi Ấn Độ.



Hán Minh Đế hỏi: “Đấng Pháp vương ra đời, sao giáo pháp không đến xứ này?” Ngài Ma Đằng đáp: “Nước Thiên Trúc nằm giữa cõi Đại thiên thế giới, nên chư Phật ra đời đều chọn nơi ấy. Ngoài ra những nơi khác xa xôi thiên lệch nên Phật không ra đời. Tuy nhiên, sau khi Phật nhập diệt trăm, ngàn năm, sẽ các vị thánh nhân truyền giáo pháp đến để hóa độ chúng sinh.” Bấy giờ, Hán Minh Đế hết sức vui mừng.

Vào sáng sớm ngày mồng một tháng giêng niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 14,1 một nhóm các đạo từ năm ngọn núi lớn2 như Chử Thiện Tín v.v... gồm 690 người, dâng biểu lên hoàng đế xin được cùng các vị tăng Thiên Trúc tranh tài biện luận để phân biệt những điểm đúng sai tốt xấu của Phật giáo Đạo giáo. Hán Minh Đế sai quan Thượng thư lệnh Tống Tường vào ngày rằm tháng giêng năm ấy mở đại hội nơi cửa phía nam chùa Bạch Mã.

Các đạo thiết lập 3 đàn tràng, mang kinh sách Đạo giáo gồm 369 quyển đặt lên đàn tràng phía tây, mang các sách được biên soạn bởi 27 vị danh gia đạo gồm 235 quyển đặt đàn tràng trung tâm, bày biện phẩm vật cúng tế trăm vị thần đàn tràng phía đông.

Hán Minh Đế cho lập hành cung,3 đích thân ngự tại phía tây chùa Bạch Mã, tôn trí xá-lợi Phật cùng với Kinh điển Phật giáo tại đây.

Các đạo cho dùng cỏ khô, lau sậy chất kín quanh đàn tràng bày kinh sách của họ, rồi đứng trước kinh sách khóc tế rằng: “Hoàng đế hiện nay tin theo giáo, thế đạo suy vi sắp mất. Nay chúng tôi xin đặt kinh sách Đạo gia tại đàn tràng này, dùng sức lửa để chứng minh thật giả.” Khấn vái như vậy rồi



  1. Tức năm 71 theo Tây lịch.

  2. Tức Ngũ nhạc danh sơn của Trung Hoa, bao gồm 5 ngọn núi lớn là: Hoa sơn, Thái sơn, Tung sơn, Hằng

sơn Hành sơn.

  1. Hành cung: cung điện tạm thời để đức vua ngụ khi không trong cung điện chính.

liền nổi lửa đốt kinh sách. Kết quả tất cả đều cháy rụi thành tro, dù cả bọn thi nhau niệm chú nhưng chẳng thấy hiệu nghiệm gì. Các đạo đều hốt hoảng nhìn nhau tái mặt. Quan Thái phó Trương Diễn liền nói với bọn họ: “Chú thuật của các ông hoàn toàn không linh nghiệm, nay các ông nên xuống tóc xuất gia theo Phật.” Nhóm đạo Chử Thiện Tín v.v... xấu hổ quá đành lặng thinh không đối đáp gì được.



Lúc bấy giờ, xá-lợi Phật bỗng nhiên tỏa hào quang năm sắc, phóng chiếu lên không trung hình thành một quầng sáng như cái lọng, che khuất ánh Mặt trời, chiếu ánh sáng năm sắc từ đó xuống trùm khắp mọi người trong đại hội, thật việc xưa nay chưa từng có. Thiền sư Ma Đằng khi ấy hóa thân bay lên không trung, hiện các phép thần biến tự tại. Pháp Trúc Pháp Lan lên tòa thuyết pháp, giảng dạy những điều đại chúng từ trước đến nay chưa từng được nghe.

Khi ấy Âm Phu nhân hậu cung, quan không Lưu Tuấn, nhóm các ông đạo Lữ Huệ Thông v.v... cộng cả thảy hơn ngàn người, đều xin xuất gia tu hành theo đạo Phật. Hán Minh Đế chuẩn thuận tất cả. Sau đó vua cho xây mới 10 ngôi chùa, rộng truyền Phật pháp.1



Lời bàn

Vào triều Tấn, trong khoảng niên hiệu Kiến An, Đinh Đức Thận làm huyện lệnh huyện Ngưng Âm, một người phụ nữ Bắc Giới bỗng nhiên nói ra toàn một thứ ngôn ngữ lạ như tiếng nước ngoài, người đến xem vây quanh đông như họp chợ. Sau đó người này lại yêu cầu mang giấy bút đến, rồi viết lên giấy cũng bằng loại chữ viết lạ, thoắt chốc đã viết được 5 trang giấy. Đưa cho mọi người đọc, nhưng không ai đọc hiểu được gì. một đứa trẻ khi ấy đang tình cờ đứng gần, người phụ nữ



1 Cho đến nay tại Lạc Dương vẫn còn lưu lại di tích Phần kinh đài - 燔經台 (tức phần nền của đàn tràng nơi

Đạo gia đốt kinh sách thuở trước). (Chú giải của soạn giả)

bỗng chỉ tay vào đứa trẻ nói: “Đứa trẻ này thể đọc hiểu.” Liền đưa mấy trang giấy cho đứa bé, vừa xem bỗng đọc lên thành tiếng nước ngoài. Những người chung quanh thấy vậy ai nấy đều kinh ngạc.



Đinh Đức Thận liền sai người thu lấy 5 trang giấy ấy, mang đến chùa Hứa Hạ, đưa cho một vị tăng người Ấn Độ xem. Vị tăng xem qua kinh ngạc nói: “Đây chính những lời trong kinh Phật. Khi Kinh điển truyền đến xứ này, ngẫu nhiên bị mất đi một số dòng, tôi đang lo lắng đường quá xa e không thể trở về Ấn Độ chép lại những trang kinh bị mất.” Liền lưu lại những trang giấy ấy rồi sao chép bổ sung vào chỗ bị thiếu mất trong kinh Phật.


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   40   41   42   43   44   45   46   47   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương