Nguyên tác


VỚI BẠN BÈ PHẢI GIỮ LÒNG TIN CẬY



tải về 32.39 Mb.
trang42/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   38   39   40   41   42   43   44   45   ...   130

VỚI BẠN PHẢI GIỮ LÒNG TIN CẬY



Giảng rộng

Cứ y theo ý nghĩa của chữ “bằng hữu” vẫn thường dùng, thì một nhóm bạn cùng chơi với ta sẽ gọi “bằng”, nếu chỉ một người bạn thì gọi “hữu”, [cũng thể xem tương đương với cách nói “bạn bè” trong tiếng thuần Việt.] Tuy nhiên, ở đây không cần thiết phải gượng ép phân tích, nói chung hết thảy những ai cùng ta chung tưởng phụng sự, hoặc cùng chung công việc, hoặc cùng chung lớp học v.v... đều thể xem bạn.

Nói “giữ lòng tin cậy” cũng hàm nghĩa đối xử với nhau tương kính, không sự khinh khi, chứ không chỉ hạn hẹp trong ý nghĩa giữ đúng lời đã hứa. Cho nên, lo việc giúp bạn không tận tâm hết sức, ấy không giữ lòng tin cậy. Vay mượn của bạn không hoàn trả đủ, ấy cũng không giữ lòng tin cậy. Trước mặt bạn ngợi khen xưng tán, lúc vắng mặt thì chê bai phỉ báng, ấy là không giữ lòng tin cậy. Gặp lúc bạn nguy cấp không cùng chia sẻ giúp đỡ, ấy cũng không giữ lòng tin cậy. Thấy bạn lỗi lầm sai trái không chỉ ra để khuyên bạn cải hối, ấy không giữ lòng tin cậy... Tránh được tất cả những điều “không tin cậy” như trên, đó chính là giữ được lòng tin cậy với bạn bè.

Trưng dẫn sự tích
VƯỢT NGÀN DẶM ĐỂ GIỮ LỜI HỨA1

Thời Tam quốc,2 nước Ngô người tên Trác Thứ. Nhân lúc từ Kiến Khang3 sắp về Hội Kê,4 đến từ biệt Thái phó Gia Cát Khác. Thái phó hỏi khi nào trở lại, Trác Thứ nói đến ngày ấy tháng ấy... ... sẽ trở lại.



Đúng ngày hẹn, Thái phó bày tiệc đãi khách. Quan khách đều đến đủ nhưng vẫn chưa đãi ăn uống, ý muốn đợi Trác Thứ. Mọi người đều nói: “Đường từ Kiến Khang đến Hội Kê, đi về cả ngàn dặm, lại thêm sông hồ cách trở gian nan, chắc gì ông ấy trở lại kịp?” Bỗng nhiên thấy Trác Thứ đột ngột xuất hiện, tất cả mọi người trong tiệc đều kinh ngạc.

Lời bàn

Đây chỉ một trong các khía cạnh của việc giữ lòng tin cậy. Tuy nhiên, vượt đường xa ngàn dặm không để sai lời đã hẹn, đủ biết người xưa giữ tín như thế nào.
GIỮ LỜI HỨA HÓA ĐỘ BẠN5

Thời Đông Hán, Lạc Dương vị cao tăng An Thế Cao, vốn thái tử của quốc vương nước An Tức,6 từ thuở nhỏ đã nổi tiếng là người chí hiếu. Ngài thông minh trí tuệ hơn người, đọc hiểu thấu suốt sách vở trong thiên hạ, thông thiên văn, hiểu rành y học, khả năng thông hiểu được ý nghĩa trong âm thanh của các loài chim thú...





  1. Trích từ sách Sử lâm - 史林. (Chú giải của soạn giả)

  2. Thời Tam quốc: giai đoạn lãnh thổ Trung Hoa bị phân chia chủ yếu bởi 3 phe Ngô, Thục Ngụy, kéo

dài trong khoảng từ năm 220 đến năm 263.

  1. Nay Nam Kinh.

  2. Nay vùng Thiệu Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang.

  3. Trích từ sách Lương Cao tăng truyện - 梁高僧傳. (Chú giải của soạn giả)

  4. Ngày nay chính nước Iran.

Ngài An Thế Cao tự kể lại rằng, trong đời trước ngài cũng xuất gia học đạo, người bạn đồng tu tính tình nóng nảy sân hận, can ngăn nhiều lần nhưng không thay đổi. Ngài lời hứa đến đời này sẽ hóa độ cho người ấy.

Khoảng cuối đời Hán Linh Đế, ngài quyết định đến Giang Nam hoằng hóa, cũng để hóa độ cho người bạn đời trước. Ngài đi đến một cái miếu hồ Cung Đình, nổi tiếng rất linh thiêng, khách buôn vãng lai đến đó cầu khấn đều thể biết trước được hướng gió thuận hay nghịch, thế nên người cầu đảo cúng tế đây không lúc nào ngớt. Khi ngài An Thế Cao còn chưa đến, người giữ miếu nghe tiếng thần giữa không bảo rằng: “Trên thuyền sắp đến kia một vị cao tăng, nên thỉnh vào miếu.”

Người giữ miếu theo lời mách bảo của thần, đón thuyền mời ngài An Thế Cao vào miếu. Cùng đi trên thuyền hơn 30 người cũng đều đi theo. Khi vào miếu liền nghe tiếng thần nói rằng: “Tôi ngày trước đất nước khác, cùng với thầy học đạo, nay tôi làm thần ở miếu này. Trong phạm vi ngàn dặm quanh đây đều do tôi cai quản. Nhờ đời trước tu hạnh bố thí nên đời này được hưởng phước rất lớn, nhưng do tâm nhiều sân hận nên phải đọa trong cảnh giới quỷ thần. Mạng tôi nay sắp dứt, chỉ còn trong sớm tối. Do những người vì tôi cúng tế cầu đảo thường giết hại sinh linh rất nhiều nên tôi sợ rằng sau khi chết không khỏi đọa vào địa ngục, xin thầy từ bi cứu độ. Tôi được ngàn cây vải lụa cùng nhiều đồ vật quý báu đây, xin thầy tôi dùng những thứ ấy lo việc phụng sự Phật pháp.”

Ngài An Thế Cao bảo thần hiện thân gặp mặt, thần nói: “Thân hình tôi cực kỳ xấu xí, nếu hiện ra nhất định sẽ làm hại mọi người ở đây vì kinh sợ.”

Ngài Thế Cao nói: “Không sao, mọi người đã biết, sẽ không lấy làm sợ hãi đâu.”

Thần liền từ phía sau điện thờ hiện thân, đưa phần đầu ra, thật một con mãng cực lớn, không biết được phần thân với đuôi dài đến mức nào. Mãng đến sát bên gối của ngài An Thế Cao. Ngài hướng về phía mãng tụng chú nhiều lần, rồi dặn dạy bảo nhiều điều. Mãng lắng nghe rồi rơi lệ như mưa, thân hình sau đó dần dần biến mất.

Ngài An Thế Cao nhận lấy vải lụa những vật quý của thần miếu đã gửi gắm rồi từ biệt ra đi, mang những thứ ấy vì thần miếu xây dựng ngôi chùa Đông Tự, hồi hướng phước báo cho thần miếu trong cảnh giới tái sinh.

Chẳng bao lâu sau, ngày nọ bỗng thấy một thiếu niên đến quỳ gối lễ tạ trước mặt ngài Thế Cao, sau đó biến mất. Ngài Thế Cao bảo người chung quanh rằng: “Đó thần miếu hôm trước, nay đã thoát được hình thể xấu xí rồi.”

Sau đó người nhìn thấy trong một cái đầm rộng lớn nổi lên xác con mãng cực lớn, thân dài nhiều dặm. Chỗ ấy nay chính là Xà thôn thuộc quận Tầm Dương.1



Lời bàn

Những quỷ thần trên cạn dưới nước, nói chung nếu thọ hưởng những vật thực do người đời sát hại sinh linh dâng cúng, đều không khỏi đọa vào địa ngục. Người thế tục không biết điều này, mỗi khi gặp phải tật bệnh liền bói toán cầu thần, buông thả làm việc giết hại sinh linh, càng gây hại thêm cho người bệnh, khiến tội nghiệt chất chồng tội nghiệt, từ khổ càng thêm khổ. Hạng quỷ thần này chính thật chỉ là những quỷ quái yêu tinh, nếu nhờ đến bọn họ ban phước, bảo vệ hay giúp tăng thêm tuổi thọ, rốt cùng đều chuyện không thể được.

Vào khoảng trước đời Đường, Đông Nhạc Thánh Đế cũng từng tình thọ hưởng tế vật sát sinh, liền phải gấp rút khẩn



1 Ngày nay quận Cửu Giang, thuộc vùng Giang Tây.

cầu thiền Nguyên Khuê truyền giới,1 huống chi vị thần miếu này.

Chuyện này cũng chỉ nói lên một khía cạnh của việc giữ lòng tin cậy, nhưng thể giữ được lời hứa từ kiếp trước, đủ thấy các vị cao tăng thời xưa xem trọng việc giữ chữ tín đến như thế nào.


HOẶC PHỤNG CHÂN TRIỀU ĐẨU



Giảng rộng

Chân, nói đến các bậc thiên tiên; đẩu, danh xưng tinh tú. Ấy những vị thường ghi chép việc thiện ác, theo dõi số mạng sống chết của con người, sao thể không cung kính phụng thờ lễ bái? Nếu như muốn truy tìm đến tận chỗ ban sơ, ắt các vị thiên tiên trước, tinh phải đặt sau. thuở ban đầu thế giới hình thành chưa các vị tinh tú, Phạm thiên Đế Thích nhân theo lời cầu thỉnh của Thần Đại tiên nên sau đó mới tạo lập 28 vị tinh 4 cửa trời đông, tây, nam, bắc. Đẩu tinh thứ năm cửa tây, thuộc sao Đẩu, nên dùng các loại lúa gạo, hương hoa, mật ong... mà cúng tế mới thích hợp.



Kinh Lâu Thán Chánh Pháp (樓炭正法經)2 nói rằng: “Tinh lớn thì chu vi bảy trăm dặm, tinh hạng vừa thì chu vi bốn trăm tám mươi dặm, tinh nhỏ thì chu vi một trăm hai mươi dặm, bên trong đều các vị thiên nhân trú.” Người thế gian gọi sao rơi, thật ra chỉ những tảng thiên thạch lớn, chẳng phải tinh tú; thậm chí người còn vẽ ra hình tượng bảy con lợn bên dưới tượng đẩu mẫu, như thế thật là vô cùng bất kính.

  1. Chuyện này chép trong Đường Cao tăng truyện - 唐高僧傳. (Chú giải của soạn giả) Tuy nhiên, thật ra câu chuyện này nằm trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), được xếp vào Đại Chánh tạng, thuộc Tập 51, kinh số 2076, tổng cộng 30 quyển. Nội dung trích dẫn này thuộc quyển 4, trang 233, tờ b, bắt đầu từ dòng thứ 7.

  2. Hiện được đưa vào Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh với tên Đại Lâu Thán Kinh (大樓炭經), thuộc tập 1,

kinh số 23, tổng cộng 6 quyển, do các ngài Pháp Lập Pháp Cự dịch sang Hán ngữ vào đời Tây Tấn.

Các vị chân nhân, đẩu mẫu, đều những người đời trước kính tin Tam bảo, tu theo Mười điều lành,1 nên ngày nay mới được hưởng phước cõi trời, khả năng bay lượn tự do giữa không trung, sống trong cung điện tốt đẹp của cõi trời, chiếu soi xuống chốn nhân gian. Cho nên, những người ngày nay tin theo Đạo giáo quay lại phỉ báng Phật pháp thì làm sao có thể phụng chân triều đẩu?

Đời Hán, Ngụy trở về trước, người ta thường tôn xưng đức Phật Thiên Tôn, gọi các vị tăng đạo sĩ, còn những đạo của Đạo gia chỉ gọi tế tửu, tức người giữ lễ dâng rượu cúng mà thôi. Kể từ Khấu Khiêm đời Bắc Ngụy trở về sau, Đạo giáo mới tiếm xưng các danh hiệu Thiên Tôn đạo sĩ, nên từ đó không còn xưng Phật Thiên Tôn, các vị tăng cũng gọi tỳ-kheo, không gọi đạo nữa. Riêng danh xưng “tế tửu” trước dùng để gọi đạo sĩ, sau đi vào thế tục mà đổi lại là “đại tư thành”.
Trưng dẫn sự tích
BẢY VỊ TINH QUÂN CỨU LỬA2

Vào đời nhà Minh, Hề Phố, Thường Thục thuộc vùng Giang Tô họ Tiền, người trong họ cùng sống với nhau trong một vùng riêng biệt. một gia đình 4 người, mẹ chồng với nàng dâu đều góa bụa, thường ngày kính phụng Đẩu quân. Vào năm Bính Dần niên hiệu Chánh Đức,3 nhà kế bên rủi ro phát hỏa, đám cháy kéo dài đến 3 ngày đêm. Trong lúc ấy bỗng hồ nhìn thấy 7 người mặc áo đỏ, đứng phía trước mái nhà phất ống tay áo, ngọn lửa theo đó bỗng tắt, chung quanh bốn phía





  1. Mười điều lành (Thập thiện), tức trái ngược với Mười điều ác (Thập ác, bao gồm: 1. Giới sát phóng sanh,

2. Bố thí, không trộm cắp, 3. Giữ phạm hạnh thanh tịnh, không dâm, 4. Nói lời chân thật, không dối trá, 5. Nói lời mang lại lợi lạc, không nói lời trau chuốt, nghĩa, 6. Nói lời hòa giải, không gây chia rẽ, ly tán, 7. Nói lời hiền thiện, ôn hòa, không nói lời hung dữ, độc ác, 8. Không khởi tâm tham dục, 9. Không khởi tâm sân hận, 10. Không khởi tâm si mê, tà kiến.

  1. Trích từ sách Khuyến trừng tập - 勸懲集. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức là năm 1506.

nhà đều hóa thành tro lạnh.



Lời bàn

Kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm Phổ môn1 dạy rằng: “Dù vào trong lửa dữ, lửa cũng không thiêu đốt được.”2 Cứ theo sự việc trên xét thì câu kinh này thật rất đáng tin.
KÍNH LỄ ĐẨU MẪU THOÁT NẠN TRỘM CƯỚP3

Vào đời nhà Thanh, huyện Dung thuộc tỉnh Giang Tô có người tên Nghiêm Cận Sơn. Năm Khang Hy thứ nhất,4 Cận Sơn đi đến các quận Kinh Châu, Tương Dương thuộc Hồ Bắc, gặp một vị đạo nhân dạy nên kính lễ Đẩu mẫu. Cận Sơn tin tưởng làm theo trong suốt 3 năm.

Một hôm, Nghiêm Cận Sơn đang đi thuyền dọc theo ven sông, bỗng trời kéo mây đen tối sầm, lại gặp phải thuyền bọn giặc cướp. Cận Sơn sợ hãi quá liền chí thành niệm Đẩu mẫu tâm chú. Chẳng bao lâu, bỗng thấy như một đám mây đen kịt trùm xuống bao bọc lấy thuyền của ông. Lần ấy Nghiêm Cận Sơn được an toàn sự, tất cả các thuyền cùng đi đều bị bọn cướp làm hại.

Lời bàn

người cho rằng Đẩu mẫu chính đức Bồ Tát Quán Âm, như vậy không đúng. Bồ Tát tuy tùy theo chủng loại chúng sinh hóa thân cứu độ, nhưng thông thường đều ẩn tàng kín đáo chứ không lộ liễu. Nếu cho đó Bồ Tát Quán Thế Âm mà lại xếp vào vai vế thấp hơn Ngọc đế, quả thật cùng điên đảo. Lại người cho rằng Đẩu mẫu chính chư thiên cõi trời




  1. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (妙法蓮華經), được xếp vào Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, thuộc tập 9, kinh

số 262, tổng cộng 7 quyển, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán ngữ. Phẩm Phổ môn phẩm thứ 25 trong kinh, bắt đầu từ dòng thứ 7, trang 198, tờ b, quyển thứ 7.

  1. Kinh văn: 設入大火, 火不能燒。 - Thiết nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu.

  2. Trích từ sách Lăng tử chánh thuật - 淩子正述. (Chú giải của soạn giả)

  3. Tức năm 1662.



Ma-lợi-chi,1 chẳng thể biết được là có đúng hay không?




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   38   39   40   41   42   43   44   45   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương