Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang41/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   37   38   39   40   41   42   43   44   ...   130

HƯƠNG LẠ BAY XA1

Đời nhà Đường, quan thứ sử Từ Châu Vương Thiên Thạch, tính tình nhân ái, từ hòa, hiếu thuận, nổi tiếng người điềm tĩnh, thận trọng, lại tinh thông kinh điển Phật giáo. Niên hiệu Trinh Quán năm thứ 6,2 người cha của ông qua đời, ông buồn thương đau đớn quá độ. Sau khi lập phần mộ, ông dựng một lều tranh nhỏ bên trái phần mộ, mỗi đêm đều đó tụng kinh Phật, hồi hướng phước báo cho cha. Người trong vùng ấy thường nghe tiếng khánh ngân vang, âm thanh cực kỳ trong trẻo êm tai, lại hương thơm lạ lùng bay xa ra quanh đó rất nhiều dặm.



Lời bàn

Những người vừa mới qua đời, thần thức trong trạng thái trung ấm giống như hôn mê, phía trước không thấy ánh sáng, nhìn quanh không ai bạn thân thích. Trong khoảng thời gian 7 tuần thất, mỗi tuần thất 7 ngày, cả thảy 49 ngày, luôn ở trong tâm trạng kinh khiếp sợ hãi, nỗi khổ ấy thật khôn lường, lúc nào cũng hướng đến những người thân nơi dương thế, cầu mong họ làm điều phước thiện hồi hướng cho mình để giảm bớt




  1. Trích từ sách Pháp uyển châu lâm - 法苑珠林. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức năm 632.

tội lỗi. thế, con cháu hiếu thảo với ông cha mẹ, không chỉ lo cho thi hài được nơi an táng chu đáo, còn phải lo sao cho thần thức người quá cố được chỗ quay về nương dựa an ổn nữa. như hạt đào hạt mận, thể dùng để tiếp nối sinh sản không dứt chính nhờ nơi cái nhân bên trong. Người đời nay chỉ biết lo việc chí thành phụng dưỡng cha mẹ lúc sinh tiền, an táng chu đáo lúc qua đời, nhưng không biết đến việc lo cho thần thức cha mẹ chỗ quay về nương dựa an ổn, như vậy há chẳng phải chỉ lo giữ gìn bảo vệ phần vỏ bên ngoài lại vứt bỏ đi cái nhân bên trong rồi sao?


XUẤT GIA BÁO ĐÁP ƠN CHA1

Vào đời Đường, người họ Tạ, cha làm nghề đánh cá, một hôm rơi xuống nước chết. Người ấy nghĩ, cha mình tạo nghiệp giết hại quá nhiều, nay chết chắc chắn phải đọa vào đường dữ. Nghĩ vậy liền xuống tóc xuất gia làm một vị tăng, pháp danh Bị. Ông dốc lòng tu tập chuyên cần khó nhọc, giữ hạnh đầu đà.



Một hôm, Bị cùng chúng tăng việc ra khỏi núi, rủi ro vấp phải cục đá cắt thành vết thương nơi chân, máu tuôn lênh láng, ngay khi nhìn thấy máu chảy hốt nhiên đại ngộ. Sau đó, ngài mộng thấy người cha hiện về tạ ơn, nói rằng: “Nhờ con xuất gia, liễu ngộ tâm tánh, nên ta đã được sinh về cõi trời, nay đến đây để báo cho con được biết.”

Lời bàn

Trong kinh Hiền ngu nhân duyên (賢愚因緣經)2 dạy rằng:



  1. Trích từ sách Truy môn sùng hành lục - 緇門崇行錄. (Chú giải của soạn giả)

  2. Chúng tôi không tìm thấy đoạn này trong kinh Hiền ngu (賢愚經), thuộc Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh,

tập 4, kinh số 202, do nhóm của ngài Huệ Giác dịch sang Hán ngữ vào đời Bắc Ngụy. Tuy nhiên, nguyên văn đoạn này lại được tìm thấy trong sách Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林), thuộc tập 53, kinh số 2122 trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh (tổng cộng 100 quyển, do ngài Đạo Thế soạn vào đời Đường. Đoạn trích này bắt đầu từ dòng thứ 18, trang 448, tờ a, quyển 22, với câu mở đầu “Hựu Hiền ngu kinh vân” (

又賢愚經云 - Trong Kinh Hiền ngu lại nói rằng). Như vậy, tiên sinh An Sỹ đã trích lại từ sách Pháp uyển

“Ví như một thầy thuốc giỏi, chữa trị cho 100 người đều được sáng mắt. Lại một người đủ thế lực, ra sức cứu thoát cho 100 người khỏi tội móc mắt, không bị lòa. Tuy rằng cả hai người ấy đều được phước báo lượng, nhưng vẫn không bằng phước báo của người tạo điều kiện cho người khác xuất gia hoặc tự mình xuất gia tu tập.”



Như vậy, việc con cái xuất gia tu tập cha mẹ nhờ phước ấy được sinh cõi trời thật không phải nghi ngờ cả.
TU SÁM PHÁP TÌM ĐƯỢC MẸ1

Đời nhà Tống người tên Chu Thọ Xương, con của quan Hình bộ Thị Lang Chu Tốn. Mẹ ông xuất thân từ gia tộc thấp hèn. Năm Thọ Xương lên 7 tuổi, Chu Tốn đến trấn nhậm vùng Ung châu, sắp đặt cho mẹ ông kết hôn với người khác trong dân gian. Đến khi ông lớn lên không mẹ, buồn thương không dứt, cuối cùng từ bỏ chức quan để đi tìm mẹ. Tìm khắp bốn phương, trải qua nhiều gian khổ mà vẫn không gặp được mẹ.



Chu Thọ Xương trích huyết chép một bộ Thủy Sám, lại khắc bản in lưu hành khắp nơi, ngày đêm thường trì tụng bộ sám ấy không ngừng nghỉ. Sau ông đi đến Đồng Châu, bỗng nhiên được gặp lại mẹ. Mẹ con ôm nhau khóc, người đi đường ai nấy nhìn thấy đều cảm động. Ông liền đón mẹ về nhà phụng dưỡng. Không bao lâu sau ông lại ra làm quan, nhận chức nông Thiếu khanh. Hàng trí thức đương thời rất nhiều người đem chuyện của ông viết lại thành truyện để lưu truyền.

Lời bàn

Trích huyết chép sám pháp, lại ngày đêm trì tụng, thật chí thành biết bao! Nhờ việc ấy mẹ con được gặp lại nhau, đó


châu lâm do đó nguồn dẫn chú cũng bị sai theo.

1 Trích từ sách Mộng khê bút đàm - 夢溪筆談. (Chú giải của soạn giả) Sách này do Thẩm Quát biên soạn

hoàn tất vào khoảng năm 1088, được xem như một bộ từ điển bách khoa đầu tiên của Trung Quốc về lĩnh vực khoa học tự nhiên, triết học và khoa học thường thức.

cũng lẽ đương nhiên. Chu Hy sau này khi biên soạn sách Tiểu học đưa vào sự tích Chu Thọ Xương tìm mẹ, nhưng lại lược bỏ mất chi tiết này, khiến cho người đọc không thể hiểu được nguyên nhân vì sao?
TÍCH ÂM ĐỨC CHO CHA MẸ1

Lâm Thừa Mỹ người Phúc Kiến, mồ côi cha từ thuở bé, người mẹ vậy thủ tiết thờ chồng, vất vả nuôi con. Thừa Mỹ lớn khôn ngày đêm buồn khổ than khóc, không biết làm cách nào để báo đáp công ơn cha mẹ.



Nhân một vị thiền bảo ông rằng: “Người con hiếu thảo nghĩ đến công ơn cha mẹ, buồn khổ khóc lóc cũng chỉ ích thôi. Phải tìm cách báo đáp mới được.”

Rồi lại dạy rằng: “Làm việc thiện thì cha mẹ được lợi lạc, làm việc xấu ác thì cha mẹ phải buồn lo. Kẻ làm con muốn báo đáp công ơn cha mẹ, nên tự mình tránh việc giết hại, cứu vật phóng sinh, rộng tích âm đức, như vậy thể báo đáp được công ơn cha mẹ.”

Thừa Mỹ nghe lời tỉnh ngộ, từ đó phát nguyện giới sát phóng sanh, rộng làm nhiều điều phước thiện. Sau ông sống thọ đến 96 tuổi, bình sinh trong việc khoa bảng cũng từng đỗ đầu ở Phúc Kiến.

Lời bàn

đời người khéo biết cách hiếu thuận, lại cũng người không biết cách hiếu thuận. Nếu mình hết sức chí thành thể làm cho cha mẹ thật sự nhận được sự lợi lạc, như vậy gọi khéo biết cách hiếu thuận. Nếu mình cũng hết sức chí thành nhưng không thể làm cho cha mẹ thật sự nhận được sự lợi lạc, như vậy gọi không biết cách hiếu thuận.



1 Trích từ sách Cảm ứng thiên quảng sớ - 感應篇廣疏. (Chú giải của soạn giả)

Nếu lấy sự buồn đau khóc lóc gọi hiếu thuận, thì như khóc đến hai mắt tuôn lệ thành sông, liệu ích lợi cho cha mẹ chăng? Nếu lấy việc mặc áo vải thô để tang cha mẹ gọi hiếu thuận, thì như gom những tang phục bằng vải thô đó thành núi lớn, nằm ngồi đều trong đó, liệu ích lợi cho cha mẹ chăng?

Cho nên, những việc như khóc thương hay để tang cha mẹ chỉ phương cách để người con hiếu biểu lộ tình cảm đối với cha mẹ, còn nếu thực sự muốn báo đáp công ơn trời biển của cha mẹ, ắt phải dùng theo cách thiền đã chỉ dạy như trên, chứ không thể dựa vào những hình thức thường tình của thế tục.


VỚI ANH EM PHẢI GIỮ LÒNG KÍNH TRỌNG, THƯƠNG YÊU LẪN NHAU
Giảng rộng

Anh em trong một nhà, tuy hình hài khác biệt, nhưng nếu xét theo tình thương của cha mẹ thì không khác nhau. Cho nên, anh em chuyện bất hòa, chia cách, ắt không khỏi làm cho cha mẹ đau buồn, khổ tâm. Nếu anh em biết tương trợ giúp đỡ, thương yêu lẫn nhau, đó gọi thuận theo đạo, vốn cũng là một yếu tố nằm trong đạo hiếu. Nguyên văn chỉ nói “em phải kính anh”, không nói đến “anh phải thương yêu em”, ấy chỉ là vì cách nói giản lược, thật ra vẫn hàm ý trong đó.



Anh em tình thân như chân với tay, nhưng xưa nay thường bị chia cách, tình nghĩa tổn thương, phần nhiều khi thêm người vợ. Người phụ nữ hiền thục đức hạnh tuy vẫn có, nhưng những người hẹp hòi kém đức cũng không phải ít. Những người ấy thường chỉ thấy biết việc nhỏ nhen không hiểu thấu ý nghĩa lớn lao, chỉ biết thu vén điều lợi về mình không biết đến người khác, do đó sự tranh chấp, xung đột rất dễ xảy

ra. Lại thêm khuynh hướng thường gặp người đàn ông rất dễ tin theo lời vợ. Anh em trăm tiếng ngàn lời hết sức giải bày, thường cũng không bằng một vài lời tỉ bên tai của vợ. Ấy thế nên nhiều người tính tình cứng rắn nóng nảy, trước mặt vợ thì mềm mỏng yếu ớt; nhiều người mạnh mẽ cương cường, trước mặt vợ thì nhút nhát sợ sệt; nhiều người hết sức sáng suốt khôn ngoan, trước mặt vợ thì hóa ra hôn ám muội; nhiều người hết sức sang cả tôn quý, trước mặt vợ bỗng hóa thành người sai vặt; nhiều người hết sức quyết đoán tự tin, nhưng trước mặt vợ bỗng trở thành do dự, trù trừ; nhiều người hết sức keo kiệt bủn xỉn, trước mặt vợ bỗng trở nên hào phóng rộng rãi; nhiều người hết sức cao ngạo bướng bỉnh, trước mặt vợ bỗng trở thành ngoan ngoãn khuất phục; nhiều người hết sức công minh chính trực, mà trước mặt vợ bỗng trở nên tà vạy, dua nịnh.

Cho nên, những người dẫu vẫn biết tôn trọng việc nước đạo nhà, nhưng không thể hết lòng giữ theo trung, hiếu. Ấy là vì trong chốn khuê phòng kẻ ngày đêm tỉ to nhỏ những chuyện khác hơn, cứ dần dần nghe mãi thành bị khuất phục. Thật đáng thương thay! Tình anh em trong cõi đời năm sự ô trược1 xấu ác này, biết làm sao để nhà nhà đều được những người con dâu hiền thảo đức hạnh, giúp cho anh em đều biết hòa thuận thương yêu đối xử tốt đẹp, không oán thù xung đột với nhau.


Trưng dẫn sự tích
CUNG KÍNH CHUYỂN GIAO TÀI SẢN2

Đời nhà Minh người tên Triệu Ngạn Tiêu, sau khi cha mẹ mất rồi, cùng với người anh Triệu Ngạn Vân làm ăn sinh sống



  1. Cõi đời năm sự ô trược xấu ác (ngũ trược ác thế): tức thế giới Ta-bà chúng ta đang sống. Năm sự ô trược đó là: kiếp trược, kiến trược, chúng sinh trược, mạng trược phiền não trược.

  2. Trích từ sách Cảm ứng thiên giải - 感應篇解. (Chú giải của soạn giả)

với nhau đến 12 năm. Sau đó, Ngạn Vân thường ăn chơi lười nhác, bỏ phế nghiệp, Ngạn Tiêu liền xin với anh phân chia gia sản để mỗi người tự lập.

Vừa qua được 5 năm, gia sản của Ngạn Vân đã hết sạch. Một hôm, Ngạn Tiêu bày tiệc rượu mời anh đến chơi rồi nói: “Em trước đây vốn không ý muốn phân chia gia sản, chỉ anh không biết tự kiềm chế lo việc làm ăn, nên em thương anh mà buộc phải phân chia ra để tự mình thể giữ gìn được phân nửa sản nghiệp cha mẹ để lại, dẫu bề cũng còn thể tạm duy trì sự sống cho anh em mình. Nay mời anh quay trở lại nhà, xin giao quyền làm chủ gia đình này cho anh.”

Ngạn Vân nói rồi đem chứng từ phân chia gia sản ngày trước ra đốt sạch, lấy chìa khóa nhà kho giao hết cho anh, lại hỏi tất cả các khoản nợ nần hiện nay của anh rồi thay anh thanh toán hết. Ngạn Vân hết sức xấu hổ, nhận lời em rồi từ đó nỗ lực hối cải, chí thú lo việc làm ăn, không còn ham chơi như ngày trước.

Năm sau, cả hai cha con Triệu Ngạn Tiêu cùng lúc thi đỗ Tiến sĩ.

Lời bàn

Khi chạm đến vấn đề phân chia tài sản, anh em trong một nhà thường rất dễ trở nên chia cách, ly tán. Khi còn sống dựa vào cha mẹ, nhờ cậy qua lại mọi việc rồi cũng qua; đến lúc thực sự phân chia tài sản riêng tư, mới thường nảy sinh chuyện tranh chấp, giành giật lẫn nhau.

Lành thay, sách Công quá cách (功過格) câu rằng: “Phận làm con trong khi nuôi dưỡng cha mẹ, hoặc lo việc tang ma, nên nghĩ tưởng rằng cha mẹ chỉ sinh ra được mỗi một mình ta; đến lúc phân chia gia sản, nên nghĩ tưởng rằng cha mẹ sinh ra anh em đông đúc, chẳng riêng gì mình ta.”

Đến như quán xét việc làm của Triệu Ngạn Tiêu, nào thấy ông ta nghĩ tưởng đến việc tranh giành tài sản đâu?
TÌNH CẢM CHÍ THÀNH CẢM HÓA ĐƯỢC NGƯỜI1

Đời nhà Minh, tại Quy An thuộc vùng Chiết Giang2 người tên Nghiêm Phụng, tánh tình hiếu thuận, luôn thương yêu đối xử tốt với anh em bằng hữu, người đời thường tôn xưng Khê Đình Tiên sinh. Một hôm cùng với người bạn đồng hương Thí Dực đi thuyền dạo chơi. Thí Dực than phiền với ông rằng người anh phân chia tài sản cho mình chẳng công bằng. Nghiêm Phụng nghe rồi buồn nói: “Tôi người anh sức khỏe yếu kém, đó điều làm tôi khổ tâm nhất. Giá như anh tôi được mạnh mẽ như anh của ông, dẫu đoạt hết ruộng đất tài sản, tôi cũng không buồn.” Nói dứt lời, nước mắt tuôn tràn không dứt. Thí Dực nghe vậy hết sức cảm động, nhân đó trong lòng có chút tỉnh ngộ.

Nguyên Thí Dực có người anh là Thí Tương Chi. Cả hai đều là bậc nhân trí thức vùng Tri Châu, chỉ do việc phân chia tài sản ruộng đất anh em hóa ra hiềm khích với nhau đã nhiều năm rồi. Kể từ sau lần đó, anh em nhà họ Thí quay lại làm hòa, nhường nhịn lẫn nhau, suốt đời không một lời nào phân cách nữa.

Lời bàn

Khê Đình Tiên sinh khi từ quan về quê, người anh rất nghèo khổ lại già yếu, liền đón về nhà mình nuôi dưỡng. Mỗi khi dịp đãi khách tại nhà, đều cung kính mời anh ngồi trên, còn bản thân mình cầm đũa đứng hầu phía sau anh. Một hôm nhân bước tới trước gắp chút thức ăn, anh cho lễ, giận tát vào mặt, ông vui vẻ đón chịu, suốt bữa tiệc ấy lại tỏ ra vẻ vô cùng hứng khởi, hân hoan. Tan tiệc, ông cung kính đưa anh vào phòng nghỉ. Hôm sau, trời chưa sáng đã đến bên giường anh đứng chờ vấn an. Chẳng bao lâu sau người anh mất. Ông than





  1. Trích từ sách Công quá cách - 功過格. (Chú giải của soạn giả)

  2. Nay thuộc thành phố Hồ Châu.

khóc, chu toàn việc tống táng theo đúng lễ nghi.

Qua việc tiên sinh đối với anh tận tình như thế, thể biết rằng những lời tiên sinh đã nói với Thí Dực thảy đều xuất phát từ nội tâm chân thật.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   37   38   39   40   41   42   43   44   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương