Nguyên tác


MỞ RỘNG LÒNG TỪ, VÌ NƯỚC CỨU DÂN



tải về 32.39 Mb.
trang37/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   33   34   35   36   37   38   39   40   ...   130

MỞ RỘNG LÒNG TỪ, VÌ NƯỚC CỨU DÂN


Dân gốc của đất nước. Gốc vững thì nước mới yên, cho nên muốn cứu giúp nhân dân phải lòng yêu nước; yêu nước nên phải tận trung với minh quân. Câu văn trước nêu tổng quát để giáo huấn người đời, đến câu này là muốn răn nhắc riêng những kẻ đang nắm trong tay quyền chính.

Người đời đều tôn kính gọi quan phủ Lão gia, điều đó có ý nghĩa gì? Ấy muốn dùng cách xưng để nhắc nhở thức tỉnh kẻ làm quan, phải đối đãi với dân như bậc cha mẹ đối với con cái.

Cha mẹ đối với con cái bệnh thì lo âu. Sưu dịch thuế má nặng nề, ấy bệnh của dân. Trộm cướp côn đồ ngày càng lộng hành, ấy bệnh của dân. Mưa nắng trái thời, mùa màng thất bát, ấy bệnh của dân. Kẻ giàu bất lương thẳng tay bóc lột, bọn quan chức gian xảo lạm quyền hại dân, ấy bệnh của dân.


Khi dân phải gánh chịu một bệnh, kẻ làm quan phải ngay một phương pháp cứu giúp, chữa bệnh. Phải hết lòng tận lực lo lắng, tìm mọi phương cách chữa dứt bệnh cho dân, như vậy thì trên mới không phụ lòng người đứng đầu đất nước, dưới không phụ lòng muôn dân, tự bản thân mình cũng chẳng luống công học hành trau dồi tri thức. Được như thế thì “mở rộng lòng từ” đâu có gì là khó?


Trưng dẫn sự tích
TÌM CÁCH CỨU DÂN1

Đời vua Tuyên Tông triều Minh,2 quan tuần phủ Nam Trực Chu Thầm (sau thụy hiệu Văn Tương) yêu dân như con, quản việc chi tiêu công thật chặt chẽ minh bạch không ai bằng. Lúc vừa mới đến nhậm chức liền soát xét những chỗ khó khăn khổ sở của dân tình, hết sức quan tâm lo lắng về việc thuế hai vùng Châu Tùng Giang quá nặng. Đến một năm được mùa, thu hoạch của dân chúng rất nhiều, ông liền xuất công quỹ mua lúa vào, tích trữ trong kho để phòng khi cần dùng cho việc cứu tế. Niên hiệu Tuyên Đức năm thứ 8,3 vào mùa đông dâng biểu xin chế định phương thức lập kho lúa cứu tế cho nông dân. Hoàng đế lệnh chuẩn y, ông liền cùng với các vị thái thú Châu Huống Chung, tri phủ Tùng Giang là Triệu Dự, tri phủ Thường Châu Mạc Ngu, cùng nhau bàn tính, nỗ lực thực hiện. Vùng Châu thu mua vào được 300.000 thạch lúa, cùng với Tùng Giang, Thường Châu cũng thu vào rất nhiều, đều chia ra tích trữ trong kho lương thực.

Năm sau đó vùng Giang Nam bị hạn hán, số dân đói thiếu ở Châu Tùng Giang lên đến hơn 3 triệu người, lúa cứu tế





  1. Trích từ sách Hoàng Minh thông kỷ -皇明通紀. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức trong khoảng thời gian từ năm 1425 đến năm 1435.

  3. Tức năm 1433.

đã phân phát hết ra không đủ. Nhân đó, Chu Thầm lại nỗ lực suy nghĩ tìm cách làm sao để tích trữ dự phòng được nhiều lương thực hơn nữa. Xét lại trước đó, các phủ khi thu lương thực vào mùa lúa chín đều giao cho bọn trưởng các hương thôn, đa phần họ chỉ thu lương thực từ dân thường, không thu của những người chức sắc trong làng. Do đó dân phải nộp nhiều hơn, khiến cho mỗi năm đều rất nhiều người dân không đủ khả năng nộp thuế phải bỏ trốn đi sinh sống nơi khác.



Chu Thầm liền thay đổi phương thức, ngay tại các phủ khắp nơi đều thiết lập những điểm thu lương thực, chọn người phụ trách từ việc thu vào cho đến vận chuyển về kho. Nông dân trực tiếp mang lúa thóc đến giao nộp tại các điểm thu, không còn thông qua bọn trưởng các hương thôn, nhờ đó giảm hẳn chi phí đến một phần ba so với trước kia.

Ngoài ra, xem lại quy định trước đây thì hằng năm cả ba phủ đều phải vận chuyển 1.000.000 thạch lương thực về kho Nam Kinh, sau đó dùng vào việc chi phí cũng như lương bổng hàng tháng cho quân binh quan chức tại Bắc Kinh. Như vậy, chi phí cho việc vận chuyển lương thực qua lại tính ra mỗi thạch lúa phải mất đến 6 đấu.1 Chu Thầm liền mời các ông Hứa Chung v.v... đến cùng họp bàn, nói rằng: “Quan chức tại Bắc Kinh nhận lương bổng sở phí đến từ Nam Kinh, tại sao không thể để lại đây tự cung cấp? Nếu để lương thực tại đây dùng vào việc cung cấp thì khỏi nhọc sức dân, lại còn giảm được chi phí đến 600.000 thạch lúa, thể đưa nhập vào kho lúa cứu tế cho nông dân, giúp dân thoát được hoạn nạn.” Các ông Hứa Chung v.v... đều khen ý kiến hay. Chu Thầm lập tức dâng biểu lên triều đình xin chuẩn y thực hiện như vậy.

Riêng tại phủ Châu, trước đó đã thu được 400.000 thạch lúa, cộng thêm số lúa mua vào lúc dân được mùa, lên đến hơn 600.000 thạch. Chu Thầm lệnh rằng: “Lúa ấy không chỉ dùng riêng cho


1 Mỗi thạch bằng 10 đấu, nếu tính toán đây đúng thì chi phí vận chuyển hao hụt lên đến 60% quá

lớn.

việc cứu tế nông dân. Trong việc thu vận chuyển lương thực, nếu xảy ra thất thoát, thiếu sót thì thể tạm mượn từ kho ấy điều tiết vào để giao nộp cho đủ số, đến mùa lúa chín lại y số đó trả lại vào kho công. Trong những trường hợp nông dân phải tu sửa đê điều, khai thông kinh rạch, dẫn nước tưới tiêu, thì thể căn cứ vào số nhân khẩu của từng hộ cấp phát lương thực.” Triều đình phê chuẩn y theo tất cả những kiến nghị của Chu Thầm.

Năm sau, Giang Nam lại bị hạn hán lần nữa. Chu Thầm lệnh cho tất cả các quận đồng loạt mở kho lúa cứu tế cấp phát cho dân. Nhờ đó, tuy đồng ruộng không thu được lúa nông dân không phải chịu cảnh đói thiếu, trước sau cứu sống đến hơn triệu mạng người.



Vào năm đầu niên hiệu Chính Thống,1 Chu Thầm đặc biệt thẩm tra kiểm định việc quản ruộng đất cũng như tiêu chuẩn thu giao lương thực vùng Nam Kinh. Riêng một phủ Châu, phát hiện việc thu lương thực vào kho trong mùa lúa chín đã giảm đến hơn 800.000 thạch so với quy định. Các địa phương khác cũng đều có sai biệt thất thoát.

Vùng Châu, Tùng Giang trong khoảng 300 năm trở lại đây, số quan chức thể ban ân trạch đến cho muôn dân chỉ đếm được trên đầu ngón tay, trong đó phải thừa nhận Chu Thầm bậc nhất. vậy, Chu Thầm không tự hài lòng với những đã làm được, thường đối xử hòa nhã, gần gũi với mọi người. Bản tính ông ưa thích việc bố thí giúp người, mỗi khi chư vị tăng ni các nơi việc tu sửa, kiến tạo chùa chiền, tự viện hay đắp tượng Phật, đều tìm đến ông quyên góp. Ông chưa một lần từ nan, thậm chí nhiều khi quyên góp nhiều hơn cả số người ta mong đợi. vậy, tiền tài chi dụng của ông vẫn thường luôn được sung túc. Người Giang Nam trong hơn 20 năm xem ông

1 Tức năm 1436. Niên hiệu Chính Thống vào đời vua Minh Anh Tông, kéo dài từ năm 1436 đến năm 1449.

như vị cứu tinh, giúp đỡ muôn dân. Người dân được sống trong địa phương do ông cai quản thật may mắn biết bao!
ĐẾ QUÂN BAN SẮC THƯ

Vùng Giang Tô, huyện Thái ThươngHoàng Kiến An, tên húy Lập Đức. Ông nhìn thấy nhân dân hai địa phương Châu Tùng Giang phải khốn khổ rất nhiều sưu thuế quá nặng nên ngày ngày buồn khổ, lo nghĩ không yên. Mỗi buổi sáng ông đều thức dậy sớm lễ Phật, sau đó hướng lên trời cao cầu khấn, nguyện cho nhân dân hai quận này sớm thoát nạn sưu cao thuế nặng. Ông cũng đem nguyện vọng viết đầy đủ thành văn bản gửi lên quan nha đương thời, không một phương cách nào còn thể không cố sức làm. Mọi người thấy ông như vậy đều cười nhạo.

Vào mùa thu năm Canh Dần, Hoàng Kiến An ngã bệnh. Sang mùa đông, bệnh tình càng thêm nghiêm trọng. Đến ngày cuối tháng 11 thì Kiến An đã bỏ ăn bỏ uống trong nhiều ngày rồi. Đêm đó, vào khoảng canh năm, Kiến An hốt nhiên mộng thấy Đế Quân truyền ông đến dưới điện dạy rằng: “Số mạng của ông lẽ ra đã dứt rồi, nhưng nhờ ông một lòng cầu mong việc giảm sưu thuế cho dân, nên nay tuổi thọ được kéo dài thêm.” Nói rồi truyền cho một đạo sắc thư, Kiến An đọc lại ba lần thì nhớ hết.

Kiến An khi ấy bỗng giật mình tỉnh giấc, mở mắt nhìn thấy thân đang nằm trên giường bệnh nhưng tinh thần tự nhiên sảng khoái mạnh mẽ, cơn bệnh vừa qua bỗng như đã hoàn toàn tiêu tan hết. Kiến An lập tức vùng dậy rửa tay rửa mặt, thắp đèn lên, lấy nghiên mực ra mài rồi cầm bút viết. Lúc ấy, người em gái Kiến An Hoàng Tiết Mẫu vừa qua đời, người trong nhà đều theo đưa đám tang, chỉ còn duy nhất một cụ già giúp việc ở lại giữ nhà. Bà cụ nhìn thấy ông chủ nhà từ cả tháng qua nằm liệt trên giường bệnh, giờ bỗng nhiên ngồi ngay ngắn trước

bàn, thắp đèn cầm bút viết, không khỏi một phen kinh ngạc đến sửng người.

Sáng hôm sau, người em họ của Kiến An Quách Nhĩ Tiên cùng đi với Khổng Nhĩ Trung đến thăm bệnh, nhìn thấy Kiến An hốt nhiên khỏe mạnh thì hết sức kinh hãi. Sau đó, Kiến An lại ngồi kiệu đến nhà em gái để dự đám tang, cùng ngồi vào bàn thù tạc với quan khách, bằng hữu. Trên đường đi phải trải qua nhiều nơi vất vả nhưng ông không một chút tỏ ra mệt mỏi, việc ăn uống cũng hoàn toàn bình thường như trước đây. Những người biết chuyện, ai nấy đều cho một chuyện tốt đẹp lạ lùng đáng nói.

Đến năm 77 tuổi, Hoàng Kiến An dứt bỏ hết mọi việc thế tục, chuyên tâm ăn chay niệm Phật, học hỏi kinh điển trong nhiều năm nữa. Về sau không bệnh, an nhiên qua đời.



Lời bàn

Đọc qua bản cáo sắc của Đế Quân, đại ý dạy rằng: “Xét trường hợp của Hoàng Lập Đức, bất quá chỉ một kẻ thứ dân đơn độc, lại đang lúc tuổi già bóng xế, nhưng phát tâm muốn giải cứu mối nguy khốn đã tích lũy từ 300 năm qua, thề nguyện mong cầu sự lợi lạc cho hàng vạn hộ dân cùng khổ, khác nào như đem sức con phù du muốn lay động núi cao,1 như chim tinh vệ muốn lấp đầy biển lớn?2



“Tuy nhiên, muốn đắp thành cao muôn trượng cũng phải dựa vào từng sọt đất nhỏ, kiên trì quyết sẽ thành công. Đạo lớn của trời đất quan trọng sự chí thành không gián đoạn, ắt làm nên công hạnh của bậc thánh hiền, chỉ tiến lên không thối chí. Phải nên gắng sức kiên trì, đừng để thối thất chỗ phát tâm ban đầu.”



  1. Nguyên bản dùng Thái Hoa (泰華) để chỉ Thái sơn Hoa sơn, hai ngọn núi lớn.

  2. Theo truyền thuyết thì con gái vua Viêm Đế bị chết đuối biển Đông, hóa thành loài chim tinh vệ ngày

ngày bay đến núi Tây ngậm đá tha về muốn lấp cho đầy biển.

Xét kỹ thì hiểu rằng, việc sưu thuế nặng nề thể giảm được hay không cũng do sức người tác động, nhưng giống như việc leo núi, muốn thành tựu thì mỗi người đều phải tự nỗ lực, chẳng ai có thể thay cho người khác được.






Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   33   34   35   36   37   38   39   40   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương