Nguyên tác


Luận giải về sự phát nguyện



tải về 32.39 Mb.
trang34/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   30   31   32   33   34   35   36   37   ...   130

Luận giải về sự phát nguyện


Nguyện lành của thế tục

Nếu chốn quan quyền điều hành chính sự, nguyện cho mọi chính sách tốt đẹp đều được đến với người dân khắp nước; nếu ở chốn thôn quê, nguyện cho người người đều được mãi mãi an hưởng thái bình. Đối với tình cha con của người, nguyện cho được cha lành con thảo; đối với tình anh em của người, nguyện cho luôn giữ được sự thân ái, lễ độ. Khi bản thân mình có được miếng ăn, nguyện cho những kẻ đói thiếu trong thiên hạ đều được no đủ. Khi bản thân mình được y phục, nguyện cho những kẻ đang chịu cảnh rách rưới lạnh lẽo đều được ấm áp với đầy đủ chăn mền quần áo. Đi qua nơi phố chợ, nguyện cho khắp thảy mọi nhà đều được dật no đủ; đi qua đường đê lối ruộng, nguyện cho năm nào cũng được mưa thuận gió hòa. Thấy người qua sông vượt biển, nguyện cho đừng gặp phải sóng to gió lớn; thấy người đi vào núi rừng hiểm trở, nguyện cho không gặp phải rắn rết hổ báo làm hại. Nhìn thấy kẻ nghèo cùng khốn khó, nguyện cho người ấy được giàu sang phú quý; nghe biết người bệnh tật khổ đau, nguyện cho người ấy được mạnh mẽ an ổn. Thấy người được thành tựu cũng tỷ như chính mình thành tựu; thấy người bị thất bại cũng xem như chính mình thất bại. Như thể trong mỗi một niệm tưởng đều thường nhớ nghĩ đến những tâm nguyện như thế, không để dứt mất, thì việc mở rộng lòng thương yêu người trong bốn biển như anh em một nhà, hòa hợp vạn vật với chính mình như đồng một thể cũng đâu có gì là khó?

Lời bàn

Đây chỉ những nguyện lành của thế tục thôi. sao vậy? tuy biết nghĩ suy việc thiện trong một đời sống này, nhưng không biết còn nhiều kiếp sống khác; chỉ lo đời



này không đủ sức giúp người, nhưng không biết rằng chỉ cần giữ vững tâm nguyện thì trong những kiếp về sau ắt sẽ ngày thành tựu. Hơn nữa, những nguyện như trên chỉ giới hạn trong phạm vi cõi người, không rộng mở đến các cõi trời, cho đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Những tâm nguyện như thế, dầu tất cả được thành tựu như ý, chúng sinh trong sáu cõi đều được hưởng nhờ ơn đức, thì bất quá cũng chỉ tạo được những quả báo để thụ hưởng trong phạm vi hai cõi trời người, không thể có khả năng giúp người nhổ bật cội rễ của sinh tử luân hồi. Chính vì thế người trí tuệ lớn lao thì không thể không phát khởi tâm nguyện xuất thế rộng sâu.
Bốn tâm nguyện xuất thế rộng sâu

Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ khắp. Phiền não vô tận, thệ nguyện dứt sạch.

Pháp môn vô lượng, thệ nguyện tu học. Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành tựu.

Lời bàn

Đây bốn tâm nguyện rộng sâu của hàng Bồ Tát, trong mỗi câu đều hàm chứa số ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm. Người nào khả năng thể hội được bốn câu này, sao cho trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi đều không lúc nào dứt mất, thì ngay nơi đó đã chính Bồ-đề rồi. Trong kinh dạy rằng: “Tu hành không phát tâm Bồ-đề, khác nào như cày ruộng không dẫn nước vào, cố công gắng sức để phát khởi nguyện lành của thế gian, trải qua số kiếp như cát sông Hằng, chẳng bằng như người chỉ tạm thời phát khởi được tâm Bồ-đề.”

Dẫn chứng
BA NGƯỜI CÙNG PHÁT NGUYỆN1

Vào thời quá khứ cách đây số kiếp, đức Phật ra đời hiệu Nhất Thiết Độ Như Lai. Bấy giờ, một gia đình quý tộc giàu sang ba đứa con nhỏ. Một hôm, cả ba em mang ba hạt châu đến cúng dường Phật. Một em nói: “Con muốn sau này được như vị tỳ-kheo đứng bên phải đức Phật.” Một em khác lại nói: “Con muốn sau này được như vị tỳ-kheo đứng bên trái đức Phật.” Em thứ ba nói: “Con muốn sau này được như đức Phật ngồi giữa đại chúng.”

Đức Phật Thích-ca kể lại chuyện này rồi dạy rằng: “Em bé phát nguyện làm Phật, chính là ta ngày nay. Em bé muốn được như vị tỳ-kheo đứng bên trái Phật, nay Xá-lợi-phất. Em bé muốn được như vị tỳ-kheo đứng bên phải Phật, nay Mục- kiền-liên.”
ĐỒNG HIỆU VỚI CỔ PHẬT2

Đức Thế Tôn thuở xưa, từ số kiếp về trước nhiều như số cát sông Hằng, nghe biết vị Phật thuở ấy hiệu Thích-ca Văn Phật đang thuyết giảng kinh Niết-bàn, liền tự bán thân mình để tiền sắm sửa hương hoa đến dâng lên cúng dường Phật. Nhân được nghe một bài kệ trong kinh Niết-bàn mà phát nguyện rằng: “Nguyện trong đời vị lai ta sẽ thành Phật, cũng đồng một hiệu như đức Phật này.” Do phát nguyện như thế nên ngày nay đức Thế Tôn có hiệu là Thích-ca Văn Phật.


PHÁT NGUYỆN ĐỘ NGƯỜI TRƯỚC HẾT3

Trong số kiếp về trước, đức Thế Tôn lần sinh ra làm


  1. Trích từ kinh A-xà-thế - 阿闍世經. (Chú giải của soạn giả)

  2. Trích từ kinh Niết-bàn - 涅槃經. (Chú giải của soạn giả)

  3. Trích từ sách Kim cang kinh giải - 金剛經解. (Chú giải của soạn giả)

một vị tiên nhân nhẫn nhục. Một hôm, tiên nhân đang ngồi trong núi sâu, bỗng gặp lúc đức vua đi săn đến đó, đuổi một con thú chạy ngang qua chỗ tiên nhân. Vua thấy ngài ngồi đó liền hỏi xem con thú chạy hướng nào. Tiên nhân suy nghĩ: “Nếu nói thật hại chết con thú, nếu không nói thật tức phạm lỗi nói dối.” Trầm ngâm như vậy hồi lâu không đáp. Vua nổi giận, chặt đứt một cánh tay ngài. Lại hỏi lần nữa, vẫn trầm ngâm không đáp, vua lại chặt luôn cánh tay còn lại. Ngay khi ấy, tiên nhân liền phát nguyện: “Người này độc ác, sau này khi ta thành Phật, nguyện trước tiên sẽ hóa độ ông ta, không để người đời lại bắt chước theo ông ta làm việc ác.” Quả nhiên, khi đức Phật Thích- ca vừa thành đạo, trước hết thuyết pháp hóa độ cho Kiều-trần- như, chính là vị vua ngày trước.


BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN1

Đức Phật A-di-đà trong số kiếp về trước một tiền thân là tỳ-kheo Pháp Tạng, từng phát khởi 48 đại nguyện, trong đó có lời nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, nguyện cho cõi nước ấy thanh tịnh quý báu, đẹp đẽ trang nghiêm. Chúng sinh trong mười phương, nếu ai nguyện sinh về cõi nước ta, chỉ cần trì niệm danh hiệu ta thì đến khi lâm chung ta sẽ hóa hiện thân Phật, Bồ Tát đến tiếp độ, khiến cho người ấy được hóa sinh nơi cõi nước ta, sinh ra từ hoa sen, chứng được quả vị không còn thối chuyển.”

thế, ngày nay bất kỳ ai thể nhất tâm niệm Phật A-di-đà đều sẽ được vãng sinh về thế giới Cực Lạc của ngài.
NHỜ CÓ NGUYỆN NÊN DỄ HÓA ĐỘ2

Vào thời đức Phật còn tại thế, một xóm làng kia toàn những người buông thả theo kiến, không tin lời Phật dạy. Đức Phật




  1. Trích từ kinh Đại A-di-đà - 大阿彌陀經. (Chú giải của soạn giả)

  2. Trích từ sách Kinh luật dị tướng - 經律異相. (Chú giải của soạn giả)

bảo ngài Mục-kiền-liên đến giáo hóa, cả làng lập tức nghe theo lời dạy của ngài, thay đổi tâm niệm hướng về Phật pháp.

Nhân đó, đức Phật dạy: “Những người làng ấy với Mục- kiền-liên vốn nhân duyên. Thuở xưa Mục-kiền-liên từng là một người tiều phu lên núi kiếm củi. Một hôm gặp phải tổ ong, cả bầy ong cùng bay ra hăm hở muốn chích. Người tiều phu khi ấy liền dạy rằng: ‘Tất cả chúng bay đều sẵn tánh Phật, đừng nên làm việc độc hại. Ngày sau khi ta thành đạo, sẽ hóa độ tất cả bọn bay.’ Bầy ong nghe lời ấy đều bay đi tứ tán, không làm hại người tiều phu. Dân làng ngày nay chính bầy ong ngày trước, nhân nơi việc Mục-kiền-liên đã từng phát nguyện hóa độ họ, nên nay chỉ cần một lần đến dạy dỗ họ liền nghe theo.”
VỪA PHÁT TÂM ĐÃ VƯỢT TRÊN NHỊ THỪA1

một vị A-la-hán đã chứng Lục thần thông, một hôm dẫn chú sa-di mang túi đựng y bát của ngài đi theo sau. Khi ấy, chú sa-di trong lòng khởi lên tâm nguyện rằng: “Ta phải chuyên cần nỗ lực tu tập tinh tấn để cầu được quả Phật.” Vị A-la-hán ngay khi ấy liền quay lại nhận lấy túi đựng y bát để tự mình mang đi, lại bảo chú sa-di đi lên phía trước.



Chỉ trong chốc lát sau, chú sa-di lại khởi lên ý niệm rằng: “Cầu quả Phật thật xa xôi khó được, chẳng bằng ta nên cầu quả Thanh văn, sẽ sớm được tự giải thoát.” Vị A-la-hán khi ấy liền đặt túi đựng y bát lên vai chú sa-di, bảo chú đi ra phía sau.

Cứ như vậy lặp lại đến 3 lần, chú sa-di liền nói: “Hòa thượng già quá lẫn rồi, cớ sao lại bảo con khi thì đi trước, lúc lại đi sau?”

Vị A-la-hán đáp: “Ta không hề lẫn, chỉ lúc trước con phát tâm cầu quả Phật, tức đứng vào hàng Bồ Tát, vị thế ắt cao hơn ta, nên ta phải đi sau tự mang túi xách, không dám để


1 Trích từ luận Trí độ - 智度論. (Chú giải của soạn giả)

con mang. Ngay sau đó con lại khởi tâm ưa thích quả Thanh văn, không còn tâm niệm cứu độ chúng sinh, vị thế đã thấp hơn ta, tất nhiên phải đi theo sau mang túi xách cho ta.”

Chú sa-di nghe thầy nói đúng tâm ý mình, trong lòng kinh hãi, từ đó tâm ý kiên định, hết lòng chuyên cần tinh tấn cầu quả Phật.

Lời bàn

Kinh Ưu-bà-tắc giới (優婆塞戒經) dạy rằng: “Khi một người phát tâm Bồ-đề,1 tất cả chư thiên đều cùng kinh ngạc vui mừng, cho rằng nay đã được một bậc thầy trong hai cõi trời, người.”2

Chỉ nói rằng vừa mới phát tâm, tất nhiên thể hiểu chưa từng trải qua sự tu tập chứng đắc, như vậy đã vượt trên quả vị A-la-hán.3 Đó đã phát tâm nguyện, ắt ngày sau sẽ được thành tựu. Cũng giống như vị thái tử vừa mới sinh ra, tuy hãy còn nằm trong nôi nhưng tất cả các vị lão thần quan chức trong triều đình đều phải cung kính lễ bái.
LỢI NGƯỜI LỢI VẬT

Giảng rộng

Nói “lợi vật”, đó công đức đủ để làm lợi lạc cho muôn vật; nói “lợi người”, đó công đức đủ để làm lợi lạc cho mọi người. Có thể làm lợi ích cho muôn người muôn vật, ấy đã sống một đời không uổng phí.

Chữ “lợi” mang hàm nghĩa cực xấu, lại cũng mang hàm nghĩa



  1. Phát tâm Bồ-đề, tức phát tâm cầu quả Phật để cứu độ tất cả chúng sinh.

  2. Kinh Ưu-bà-tắc giới (優婆塞戒經), thuộc Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, tập 24, kinh số 1488, tổng cộng 7

quyển, do ngài Đàm Sấm dịch sang Hán ngữ vào đời Bắc Lương. Đoạn trích này thuộc quyển 1, trang 1035, tờ b, bắt đầu từ dòng thứ 14.

  1. đây phải hiểu quả vị A-la-hán của Thanh văn thừa, không phải A-la-hán trong Thập hiệu của chư Phật.

cực tốt, nhưng không phải cùng lúc mang hai nghĩa ấy. Nếu kẻ tự thân mình cầu được lợi, đó ý riêng, ắt không tốt. Nếu kẻ cứu giúp muôn người cầu lợi, đó công tâm, ắt là rất tốt.


Trưng dẫn sự tích
KẺ PHÁ BIA NGƯỜI KHẮC BIA1

Đời nhà Đường vị danh y Tôn Mạc, học được 30 bài thuốc hay của Long cung, mang ra sử dụng bao giờ cũng hiệu nghiệm, liền ghi chép thành sách Thiên kim phương (千金方), lại khắc thành bia đá để truyền lại đời sau.

người kia in ra được rất nhiều bản sách này rồi, liền phá nát bia đá để mong bán sách trục lợi. Sau đó liền bị sét đánh chết.

Lại một người khác y theo sách ấy khắc lại vào bia đá, liền nằm mộng thấy Tôn Mạc bảo rằng: “Số ông vốn không có con, nay nhờ công đức khắc sách Thiên kim phương vào bia đá, ắt sẽ sinh được quý tử.”

Sau người ấy quả nhiên sinh con quý hiển.

Lời bàn

Người phá nát bia đá kia chỉ biết cầu lợi cho riêng mình, còn người khắc lại bia đá chỉ nghĩ đến lợi lạc cho muôn người. Nhưng rốt lại thì kẻ cầu lợi cho riêng mình chẳng bao giờ được lợi, người làm lợi lạc cho muôn người bao giờ cũng được lợi.


HỦY BỎ CHÍNH SÁCH TỆ HẠI2

Trong khoảng niên hiệu Tuyên Đức triều Minh,3 triều đình



  1. Trích từ sách Cảm ứng thiên chú - 感應篇註 (Chú giải của soạn giả)

  2. Trích từ sách Hoàng minh thông giám -皇明通鑒. (Chú giải của soạn giả)

  3. Niên hiệu Tuyên Đức thời hoàng đế Minh Tuyên Tông, kéo dài từ năm 1425 đến năm 1435.



thường sai thái giám đưa người sang phương Tây tìm châu báu, tiêu tốn tiền bạc nhiều kể, lại khiến cho số người phải bỏ mạng trên đường. Đến thời vua Anh Tông niên hiệu Thiên Thuận,1 người tâu lên vua xin lặp lại. Hoàng đế liền hạ lệnh cho Binh bộ Thượng thư Hạng Trung tìm lại quyển sách ghi việc ấy để thực hiện. Bấy giờ, Lưu Đại Hạ đang giữ chức Lang trung, liền lẻn vào thư khố trước giấu sách đi, các quan lại đến sau không tìm được gì, việc ấy cuối cùng phải bãi bỏ. Về sau, Thượng thư Hạng Trung đem việc sách bị mất ra khiển trách các quan thuộc cấp, Lưu Đại Hạ liền cười nói rằng: “Ấy chính sách tệ hại. như sách ấy hiện còn cũng nên hủy đi để trừ bỏ cho tận gốc, huống chi lại còn truy hỏi sách còn hay mất để làm gì?”

Hạng Trung nghe nói hoảng sợ, tạ lỗi rồi nói rằng: “Âm đức của ông quả cảm động thấu trời. Chức quan của tôi nên thuộc về ông mới đúng.”

Quả nhiên về sau Lưu Đại Hạ làm đến chức quan Thái Bảo Đại Mã, con cháu nhiều đời cũng đều được vinh hiển phú quý.

Lời bàn

Cứ theo như việc làm của Lưu Đại Hạ suy rộng ra cho đầy đủ thì những sách vở thế gian hại cho người đều nên hủy đi, mà trong đó nguy hại nhất là những tiểu thuyết khiêu dâm, những sách hủy báng Phật pháp.


THƯỜNG BÌNH ỔN GIÁ LƯƠNG THỰC2

Lúc Trương Quai Nhai làm quan tri phủ tại đất Thành Đô, một m nằm mộng thấy T Ph Chân quân mời đến gặp mặt. Đến nơi chưa được bao lâu chợt nghe tiếng báo rằng: “Có Hoàng Kiêm Tế cửa thành phía tây đến.” Liền


1

Niên hiệu Thiên Thuận kéo dài từ năm 1457 đến năm 1464.

2 Trích từ sách Khuyến trừng lục - 勸懲錄. (Chú giải của soạn giả)

thấy một đạo nhân chít khăn trên đầu bước vào, T Phủ Chân quân dùng lễ tiếp đón người ấy hết sức cung kính.

Sáng hôm sau, Trương Quai Nhai sai người đến cửa thành phía tây, quả thật một đạo nhân tên Hoàng Kiêm Tế, liền mời vào gặp mặt, hóa ra ràng giống hệt như người đã gặp trong mộng. Trương Quai Nhai liền gạn hỏi đạo nhân xem bình sinh thường làm những việc thiện gì. Đạo nhân đáp rằng: “Tôi thật cũng chẳng làm được nhiều, chỉ mỗi năm vào mùa lúa chín đều bỏ ra 300 quan tiền mua lúa trữ lại, đến năm sau khi còn chưa đến mùa lúa chín, dân nghèo phần đông rất khó kiếm đủ miếng ăn, tôi liền bán số lúa ấy ra vẫn nguyên giá cũ. Như vậy phần tôi cũng chẳng mất mát gì, đối với dân nghèo lại được cứu giúp qua cơn nguy cấp. Tôi chỉ làm được mỗi một việc như thế mà thôi.”



Trương Quai Nhai nghe xong hết sức cảm phục tán thán, sai người thỉnh đạo nhân ngồi lên tòa cao rồi tự mình cung kính thi lễ.

Lời bàn

Việc giữ bình ổn giá lương thực như thế, nơi nào cũng thể làm theo. Chỉ cần một nơi dân chúng được hưởng ân huệ, bốn phương đều nên noi theo đó làm.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   30   31   32   33   34   35   36   37   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương