Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang32/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   28   29   30   31   32   33   34   35   ...   130

27 loại quả báo thiện ác khác biệt

Sinh làm người

do

1. Tôn quý, được kính ngưỡng

Lễ kính, phụng sự Tam bảo

2. Giàu sang vô hạn

Thực hành bố thí

3. Tuổi thọ dài lâu

Thực hành trì giới

4. Dung mạo đoan chánh

Thực hành nhẫn nhục

5. Chuyên cần tu tập

Thực hành tinh tấn

6. Thấu suốt nghĩa lý

Thực hành trí tuệ

7. Tiếng nói trong trẻo

Xưng tán Tam bảo

8. Trong sạch thanh khiết

Tu tập tâm từ mẫn

9. Dơ nhớp, không thanh khiết

Tái sinh từ loài lợn

10. Keo lận, bủn xỉn

Tái sinh từ loài chó

11. Ương ngạnh, bạo ngược

Tái sinh từ loài dê

12. Nhanh lẹ, nóng nảy

Tái sinh từ loài khỉ

13. Nhạy cảm với mùi vị

Tái sinh từ loài cá, rùa...

14. Độc ác, thường hại người

Tái sinh từ loài rắn

15. Không có tâm từ mẫn

Tái sinh từ hổ báo, lang sói

16. Ngu ngốc, đần độn

Không dạy bảo người khác

17. Câm điếc

Phỉ báng, làm nhục người

18. Thấp hèn, bị sai khiến

Thiếu nợ không trả

19. Xấu xí, đen đúa

Ngăn cản Phật pháp

20. Sinh vào loài hươu nai

Khủng bố, đe dọa người

21. Sinh vào loài rồng

Thường pha trò, chọc cười

22. Thân thể sinh ung nhọt độc

Đánh đập, hành hạ người

23. Người được gặp vui mừng

Niềm nở, tiếp đón người

24. Thường bị kiện thưa

Giam nhốt, buộc trói người

25. Thân thể thấp bé

Khinh miệt người khác

26. Mặt mũi xấu xí khó coi

Thường sân hận, nóng nảy

27. Ngu si, thiếu trí

Không ham học hỏi





LUẬN GIẢI VỀ TÂM ĐỊA
quả báo tốt đẹp nhưng không thể thụ hưởng

Một số người tuy lụa gấm vóc chất đầy trong rương, nhưng trên thân thể chẳng qua chỉ khoác lên đôi ba mảnh vải thô xấu; vàng ngọc châu báu chứa đầy trong tủ, nhưng miếng ăn hằng ngày chẳng qua cũng chỉ dùng những món hơn kẻ bần hàn đôi chút, cho rằng như thế an nhàn; lại ưa thích những việc làm lụng cực nhọc, cho đó thích thú, khoái lạc. Những người như thế, chỉ thấy họ suốt ngày ưu phiền muộn, ràng có được phước báo tốt đẹp nhưng không thể hưởng dụng như người khác. Đó do đời trước tuy làm việc bố thí nhưng không phát tâm chí thành, hoan hỷ, chỉ do người khuyến khích, khuyên bảo nên mới miễn cưỡng bố thí. Hoặc nếu không phải thế thì sau khi bố thí lại sinh tâm tiếc nuối, hối tiếc việc đã làm.1


Được thụ hưởng nhưng không quả báo tốt đẹp

những người gia cảnh bần hàn, nhưng thường được sống trong nhà cao cửa rộng của người khác; bữa ăn nhà mình thì canh rau qua bữa, nhưng lại thường được dùng những món sơn hào hải vị do người khác chiêu đãi. Người như thế tuy được hưởng thụ nhưng không gọi phước báo. Đó do đời trước không tự mình làm việc bố thí, chỉ biết khuyên bảo, khuyến khích người khác làm việc phước thiện; hoặc do khi nhìn thấy người khác làm việc bố thí liền sinh tâm hoan hỷ, ngợi khen tán thán.



Trước giàu sau nghèo

Kinh Nghiệp báo sai biệt2 dạy rằng: “Nếu chúng sinh nào,




  1. Đoạn này lấy ý trong kinh Di-lặc sở vấn - 彌勒所問經. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tên kinh đầy đủ là Phật vị Thủ Ca Trưởng giả thuyết Nghiệp báo sai biệt kinh - 佛為首迦長者說業報差別 , do ngài Đàm Pháp Trí dịch vào đời Tùy. Phần trích dẫn này lược ý, không phải nguyên văn kinh.

trước nghe theo lời khuyên của người khác làm việc bố thí, sau lại sinh tâm hối tiếc; do nhân duyên như thế, người ấy đời sau sẽ được giàu một thời gian, nhưng sau đó lại phải chịu cảnh bần hàn.”


Trước nghèo sau giàu

Kinh văn cũng dạy rằng: “Lại nữa, nếu chúng sinh nào, do nghe lời khuyên của người khác làm việc bố thí nhỏ nhoi, nhưng sau khi bố thí rồi sinh tâm hoan hỷ. Người ấy đời sau sinh ra làm người, trước chịu nghèo khổ nhưng sau được giàu có.”1


Giàu nhưng phải lao nhọc

Giàu nhờ gieo nhân giàu có; nhưng phải lao lực khổ nhọc cũng do gieo nhân lao khổ. Như trong kinh dạy rằng: “Người cúng dường trai tăng2 ắt sẽ được giàu hạn, ấy lẽ tất nhiên. Tuy nhiên, nếu người thỉnh chư tăng đến nhà mình để cúng dường, khiến cho chư tăng phải nhọc sức đi lại vất vả, rồi sau mới dâng cúng thức ăn, người ấy đời sau tuy vẫn được giàu có vô hạn, nhưng lại phải lao nhọc cần khổ.”


Nhàn hạ được giàu

Nếu người phát tâm cúng dường chư tăng, mang thức ăn đến tận am viện, chùa chiền, khiến cho chúng tăng thể an nhàn thọ dụng, người ấy sẽ được phước báo đời sau sinh ra trong hai cõi trời người, tự nhiên được thụ hưởng mọi điều khoái lạc.




Nội dung trích dẫn được bắt đầu từ dòng thứ 22, trang 893, tờ c, thuộc kinh số 80, được xếp vào tập 1 của Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh.

  1. Trong nguyên bản không chú giải riêng cho đoạn này, nhưng chúng tôi đối chiếu thấy nội dung

cũng được trích từ kinh Nghiệp báo sai biệt.

  1. Trai tăng: nghi lễ cung thỉnh chư tăng để cúng dường đầy đủ các món nhu yếu như thuốc men, y phục,

thức ăn uống...

Nghèo khổ nhưng thể bố thí

Kinh văn cũng dạy rằng: “Nếu chúng sinh nào,1 trước đây từng làm việc bố thí nhưng không gặp được những bậc là ruộng phước của thế gian,2 mãi lưu chuyển trong luân hồi sinh tử. Những chúng sinh ấy khi được sinh ra làm người, do không được gặp bậc phước điền nên việc bố thí chỉ mang lại phước báo rất nhỏ nhoi, thoạt thoạt không chẳng lâu bền. Tuy nhiên, do đã từng tu tập quen theo hạnh bố thí, nên khi sinh ra sống trong cảnh nghèo khó vẫn thường có thể làm việc bố thí.”3


Giàu nhưng không bố thí

“Lại những chúng sinh vốn không thường làm việc bố thí, nhân gặp bậc thiện tri thức khuyên bảo nên nhất thời cũng bố thí được một lần, may mắn lại gặp được bậc phước điền đức cao đạo trọng. Nhờ công đức cúng dường bậc phước điền cao trọng, nên đời sau sinh ra được giàu sung túc. Tuy nhiên, bởi không tập quen hạnh bố thí, nên sống trong cảnh giàu sang tâm thường keo lận, không làm việc bố thí.”4


Bố thí nhiều, được phước ít

Kinh Bồ Tát bản hạnh dạy rằng:5 “Nếu chúng sinh làm việc bố thí nhưng không hết lòng, hoặc cúng dường không có lòng cung kính; hoặc khi bố thí, cúng dường tâm không hoan hỷ; hoặc khi bố thí lại khởi tâm kiêu mạn, tự cao tự đại;




  1. đây nói chúng sinh, không chỉ riêng loài người. Dùng chữ chúng sinh để chỉ cho khắp hết muôn loài

trong sáu đường (trời, người, a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ súc sinh).

  1. Ruộng phước của thế gian: chỉ những bậc đạo cao đức trọng, nơi cho mọi người cung kính, quy

ngưỡng, nếu ai cúng dường các bậc như thế sẽ được phước báo lớn lao, như người gieo thóc giống vào đám ruộng tốt sẽ thu hoạch được rất nhiều; do đó gọi các ngài ruộng phước của thế gian (phước điền).

  1. Đoạn này trích từ kinh văn đã dẫn trên, bắt đầu từ dòng 5, trang 894, tờ a.

  2. Đoạn này trích từ kinh văn đã dẫn trên, bắt đầu từ dòng 8, trang 894, tờ a.

5 Đoạn này không trích nguyên vănchỉ ghi lại ý từ kinh Bồ Tát bản hạnh - 菩薩本行經, quyển 2, thuộc kinh số 155, được xếp vào tập 3 của Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh. Nội dung này bắt đầu từ dòng 7, trang 114, tờ a.

hoặc bố thí cúng dường cho những kẻ theo kiến điên đảo. Bố thí cúng dường như thế cũng giống như người gặp phải mảnh ruộng cằn cỗi bạc màu, tuy gieo giống xuống rất nhiều thu hoạch chẳng được bao nhiêu.”


Bố thí ít, được phước nhiều

Trong kinh này lại cũng dạy rằng: “Nếu vào lúc thực hành bố thí thể khởi tâm hoan hỷ, tâm cung kính, tâm thanh tịnh, chẳng mong cầu được phước báo, hoặc được cúng dường cho các bậc Bồ Tát, thánh tăng. Bố thí cúng dường được như thế cũng giống như người gặp đám ruộng tốt, tuy gieo giống ít cũng thu hoạch được rất nhiều.”1
Buồn phiền như nhau, thọ báo khác nhau

Sách Pháp uyển châu lâm2 nói rằng: “Ví như hai người, một người nghèo khổ, một người giàu có. kẻ đến cầu xin được giúp đỡ, cả hai người này đều sinh tâm buồn phiền. Người giàu có nhiều của cải buồn phiền sợ người kia nài nỉ xin xỏ, hao tốn tiền bạc của mình. Người nghèo khổ lại buồn phiền rất muốn giúp người không tiền bạc để giúp. Về sau, người nghèo khổ ấy được sinh lên cõi trời, còn người giàu kia phải đọa vào cảnh giới ngạ quỷ. Tuy cả hai người đều sinh tâm buồn phiền nhưng lại thọ quả báo khác nhau.”


Tuổi thọ khác nhau, quả phước giống nhau

như một người sống vào thời tuổi thọ lên đến ngàn năm, suốt đời thọ trì Năm giới, thực hành Mười điều lành, so với một





  1. Đoạn này vẫn trích ý từ kinh Bồ Tát bản hạnh như đã dẫn trên. Nội dung bắt đầu từ dòng 10, trang 114,

tờ a.

  1. Sách Pháp uyển châu lâm (法苑珠林) - do ngài Đạo Thế soạn vào đời Đường, được xếp vào tập 53 của

Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, kinh số 2122, cả thảy 100 quyển. Nội dung đoạn này không trích nguyên văn lấy ý từ trong quyển 81 của sách, bắt đầu từ dòng 10, trang 888, tờ c.

người sống vào thời tuổi thọ chỉ được mười năm, cũng suốt đời thọ trì Năm giới, thực hành Mười điều lành, thì phước báo của cả hai người này đều giống như nhau, không khác.


Làm việc ác cuối đời được kết quả tốt đẹp

như người làm việc ác nhưng cuối đời lại được hưởng kết quả tốt đẹp, ấy nghiệp quả của việc ác đã làm trong đời này còn chưa chín muồi, nghiệp quả của những việc thiện đã làm trong đời trước lại chín muồi trước. Xưa một người trong 7 đời đều làm việc giết dê, không đọa vào ba đường dữ. Nhưng sau đó rồi thì tất cả những tội giết hại đã tạo ấy đều dần dần phải chịu quả báo thường bồi, không sót một trường hợp nào.1

Thông thường, khi thấy những người làm việc ác được hưởng phước báo thì nên hiểu là như vậy.
Làm việc thiện cuối đời chịu kết quả xấu ác

người suốt đời thường làm việc thiện, nhưng cuối đời phải gánh chịu những kết cục bi thảm, ấy nghiệp quả của những việc thiện đã làm trong đời này còn chưa chín muồi, mà nghiệp quả của những việc ác đã làm trong đời trước lại chín muồi. Hơn nữa, tuy thấy vẻ như đang chịu quả xấu thật ra chẳng phải quả xấu. Như xưa kia chú chăn trâu, một hôm hái hoa dâng cúng Phật, trở về giữa đường bị trâu húc chết, thần thức lập tức sinh lên cảnh trời Đao-lợi.2 Lại một con khỉ nhìn thấy vị tăng, sinh tâm hoan hỷ, liền đến gần mượn lấy áo cà-sa thử khoác lên thân, ngay lúc ấy bất ngờ sẩy chân ngã xuống vực sâu mà chết, thần thức lập tức sinh lên cõi trời.3





  1. Xem trong Đại tạng nhất lãm - 大藏一覽. (Chú giải của soạn giả)

  2. Trích từ kinh Thí dụ - 譬喻經. (Chú giải của soạn giả)

  3. Xem trong sách Kinh luật dị tướng - 經律異相. (Chú giải của soạn giả)



Nói tóm lại, nếu do làm việc thiện phải bỏ mạng, chưa hẳn đã không được quả báo tốt lành, chỉ trong nhất thời mắt thịt của người phàm không thể thấy biết thôi.
Thân an vui, tâm không vui

Người phàm tục tu phước, trong đời này mọi việc đều được như ý, thể gọi thân được an vui. Tuy nhiên, không học pháp xuất thế, chưa thoát khỏi luân hồi, rốt lại trong tâm vẫn không tránh khỏi mối lo rơi vào ba đường dữ.


Tâm an vui, thân không vui

Bậc chứng quả A-la-hán đã chấm dứt không còn phải tái sinh, thể xem như vĩnh viễn thoát ba đường dữ, ra khỏi sáu cõi luân hồi, thể gọi tâm được an vui. Tuy vậy, như trước đây không thường tu phước thì sẽ không nhận được sự cúng dường như ý muốn.


Bố thí lớn lao, phước báo nhỏ

Kinh Bát-nhã dạy rằng: “Nếu vị Bồ Tát chỉ buông xả tài bảo trân quý nhưng không phát tâm cầu quả Phật để cứu độ tất cả chúng sinh, thì tu tập trải qua số kiếp nhiều như cát sông Hằng cũng chỉ được phước báo rất ít.”1


Bố thí nhỏ nhoi, phước báo lớn lao

Kinh Bát-nhã cũng dạy rằng: “Nếu vị Bồ Tát trong khi thực hành bố thí thể hồi hướng cầu quả thượng Bồ-đề để cứu độ tất cả chúng sinh trong mười phương, thì cho việc bố thí có nhỏ nhoi cũng vẫn được phước đức lượng.”2 Đối với vị Bồ





  1. đây phước báo thật ra không phải ít, nhưng ý muốn nói rằng nếu so với vị Bồ Tát đã phát tâm Bồ-đề

(cầu quả Phật để cứu độ tất cả chúng sinh) thì phước báo của vị này ít. (Chú giải của soạn giả)

  1. Hai đoạn trên đây hàm ý tương đồng với các đoạn “Bố thí nhiều được phước ít”

Tát này, từ lúc phát tâm cho đến khi thành tựu quả Phật, tâm địa không tăng thêm, ruộng phước cũng không gì tăng thêm, vì vốn đã viên mãn.


Gặp hoàn cảnh thuận lợi, chính lúc nên tu phước

Khi gặp hoàn cảnh thuận lợi, nên tự suy nghĩ như thế này: “Nhà ta nay được giàu có, nhất định đời trước đã thường tu hạnh bố thí, nên đời này lại càng phải cứu người giúp vật nhiều hơn nữa. Thân thể ta không bệnh tật, nhất định đời trước đã thường tu tập từ bi, nên đời này lại càng phải tránh sự giết hại phóng sinh nhiều hơn nữa.” Cũng giống như khi đã thắp lên một ngọn đèn sáng, cần phải tiếp tục châm thêm dầu thì mới có thể duy trì ánh sáng.


Gặp hoàn cảnh trái nghịch vẫn thể tu phước

Khi gặp hoàn cảnh trái nghịch, nên tự suy nghĩ như thế này: “Ta nay gặp cảnh khốn khổ tai ách này, đều do nghiệp đời trước chiêu cảm có, nếu vui lòng nhận chịu ắt đền trả hết được nợ nần xưa kia.” Cũng chẳng riêng việc ấy, nếu mình gặp cảnh nghèo túng khốn cùng, thường cầu mong cho tất cả mọi người đều được giàu sang sung túc; nếu mình phải chịu nhiều bệnh khổ, thường cầu mong cho tất cả mọi người đều được khỏe mạnh an ổn; nếu mình thường gặp cảnh đấu tranh giành giật, thường cầu mong cho tất cả mọi người đều được hòa hợp an vui; nếu tự mình ngu si hôn ám, thường nguyện cho tất cả mọi người đều được trí tuệ sáng suốt; nếu tự mình không được trọn đủ các giác quan, thường cầu mong cho tất cả mọi người đều được thân tướng tốt đẹp.

Mỗi khi gặp một hoàn cảnh hoạn nạn nào đó, liền nguyện trong đời vị lai sẽ cứu độ cho người gặp hoạn nạn như thế. Như vậy chẳng phải ngay nơi phiền não tức hiện Bồ-đề, độc dược hóa thành cam lộ đó sao? Nếu người không biết tu phước thì ắt ngược lại.

Người khác làm việc thiện, ta thể được phước

Khi người khác làm việc thiện chưa thành tựu mình tùy theo để khuyến khích, thúc đẩy, đó gọi khuyến khích được phước. Khi người khác làm việc thiện đã thành tựu, mình cũng tùy theo vui mừng hoan hỷ, đó gọi tùy hỷ được phước. Thường ngợi khen xưng tán điều thiện, khiến người khác bắt chước làm theo, đó gọi tán thán được phước. Suy cho cùng thì khắp cả trên trời dưới đất, từ xưa đến nay, hết thảy các điều thiện trong thiên hạ đều thể tạo phước cho ta.

Cho nên, Bồ Tát Phổ Hiền phát khởi 10 nguyện lớn thì nguyện thứ 5 chính “tùy hỷ công đức”. Trên từ lượng phước báo nhiều đời nhiều kiếp của chư Phật, Bồ Tát; dưới cho đến chỉ một việc thiện nhỏ nhoi của bất kỳ chúng sinh nào trong sáu cõi luân hồi, khi mình biết được thì đối với tất cả đều phát tâm tán thán, tùy hỷ. Làm được như thế rồi thì bao nhiêu phước báo trong tận cùng không, rộng khắp pháp giới, đâu đâu cũng thể trở thành phước báo của mình, tự thân mình cũng được như Bồ Tát Phổ Hiền không khác.
Người khác làm việc xấu ác, ta thể được phước

Khi người khác làm việc ác chưa thành mình gắng sức khuyên bảo, khiến người ấy ngưng lại, ắt mình sẽ được phước. Khi người khác làm việc ác đã xong, mình thấy vậy sinh tâm buồn lo, không vui, ắt cũng sẽ được phước. Khi việc ác chưa truyền rộng, mình cố gắng tìm mọi phương cách để chặn đứng, ngăn cản, ắt sẽ được phước. Nếu việc ác đã lan truyền, nên lấy đó làm bài học để răn ngừa, cảnh giác không phạm vào, ắt cũng sẽ được phước.

Nếu việc xấu ác làm hại đến mình thể nhẫn nhục chịu đựng, ắt sẽ được phước. Nếu việc xấu ác làm hại đến người khác mình thể khuyên người nhẫn nhục chịu đựng, ắt

cũng sẽ được phước.


Trưng dẫn sự tích


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   28   29   30   31   32   33   34   35   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương