Nguyên tác


LỜI TỰA VIẾT NĂM MẬU THÂN (1908)



tải về 32.39 Mb.
trang3/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   130

LỜI TỰA VIẾT NĂM MẬU THÂN (1908)


(Viết theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ đất Thục là Lý Thiên Quế)
ớn lao thay! Bản tâm ta vốn đầy đủ chánh đạo! Mầu nhiệm thay! Bản tâm ta vốn sẵn có diệu pháp!
L

Xưa nay lặng lẽ chiếu soi không phân biệt; đường chân nẻo tục thảy viên dung. Lìa tất cả niệm, dứt hết thảy tình; không sinh cũng không diệt. Nói đó không phải ; nhưng không lại . Nói không đó chẳng phải không; tuy chẳng phải không lại không. Các vị Phật sống đều từ đó xuất sanh, bậc thánh kẻ phàm đều không thể gọi tên. Như gương sáng xưa nay không một vật, nhưng hiện ra muôn cảnh Hán,




1 Đại Ấn Quang sinh ngày 11 tháng 1 năm 1862, mất ngày 2 tháng 12 năm 1940, được tôn xưng Tổ

thứ 13 của Tịnh độ tông Trung Hoa, nhiều cống hiến quan trọng trong việc chấn hưng Phật giáo tại Trung Hoa nói chung pháp môn Tịnh độ nói riêng. Đại nhiều tác phẩm khác cũng thường tên Cổ Tân Thường Tàm Quý Tăng Thích Ấn Quang (古莘常惭愧僧释印光). Ngài biết trước ngày viên tịch, cho mời bốn chúng đệ tử cùng tụ tập hết lời khuyên dạy phải tin sâu pháp môn niệm Phật. Sau đó ngài

ngồi xuống trong thế kiết già, cùng đại chúng niệm Phật trong chốc lát rồi an nhiên viên tịch. Người đương thời tin rằng ngài hóa thân của Bồ Tát Đại Thế Chí.

Hồ. Như không mênh mông xa lìa mọi hình tướng, ngại gì lúc Mặt trời chiếu sáng hoặc mây che. Đó chính thực tại rốt ráo, không vướng một mảy bụi trần; ngay trong tâm chưa giác ngộ này đã trọn gồm đủ các pháp như chỗ chứng đắc giác ngộ vô thượng của chư Phật, cũng như chỗ muội không nhận biết chân tâm thường trụ của chúng sinh.



Các bậc thánh nhân trong Tam giáo đều y theo một tâm tánh này rủ lòng thương xót dạy dỗ, dẫn dắt bao chúng sinh mê muội. Do ý nghĩa này Khổng Phu tử1 đề xướng thuyết “thành minh”, chọn lấy sự chí thành sáng suốt làm chỗ uyên áo, từ đó đưa ra những giềng mối tu sửa trị an;2 Lão tử3 nói ra sách Đạo đức kinh, giảng dạy phép sống lâu an ổn. Đấng Đại giác Thế Tôn nêu tánh pháp giới, chỉ bày tâm chân như, dạy đạo chân thật buông bỏ phàm trần quay về Chánh giác, lập nên tông chỉ bất sanh bất diệt. Tuy chỗ cạn sâu lớn nhỏ không đồng, giữa thế gian với xuất thế gian điều khác biệt, nhưng thảy đều không ra ngoài lẽ chung ngay trong tâm này của chúng ta đã đủ đầy muôn pháp. Phát huy giảng rộng pháp này đến hết thảy chúng sinh hữu tình, từ nơi tự tánh khởi tu, chính là nhằm hiển lộ tự tánh, dứt sạch vọng niệm huyễn ảo, quay về tự tánh chân thật vốn có, vĩnh viễn ra khỏi đường mê, thẳng một đường lên bến giác.

Đức Văn Xương Đế Quân người trong nhiều đời thường giữ theo năm mối luân thường,4 cung kính vâng lời dạy trong Tam giáo, lấy công hạnh của chính mình để giáo hóa người khác, chỉ một lòng muốn vươn lên chí thiện; công cao đức sáng, chấp chưởng quyền hành, thường lo cho những kẻ ít học trí, mê muội không biết đến bản tánh xưa nay thường trụ, nên nhân





  1. Nguyên tác dùng địa danh Ni Sơn (尼山) để chỉ đức Khổng tử, đây nơi ngài sinh ra.

  2. Tức thuyết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, căn bản trong học thuyết trị an của đức Khổng tử.

  3. Nguyên tác dùng chữ Trụ Sử (柱史) để chỉ Lão tử, theo Cao truyện (高士傳), quyển thượng, phần Lão

tử Nhĩ, thì ngài từng giữ chức quan ngự sử trong triều đình nhà Chu.

  1. Tức ngũ thường của Nho giáo, bao gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí tín.

đó viết ra bài văn Âm chất (陰騭文), trong đó nói ngài đã “trải qua mười bảy đời sinh làm kẻ quyền thế”. Bài văn ấy nghĩa lý nhiệm mầu không cùng tận, liệu ai thể đo lường được chỗ cội nguồn uyên áo? Tuy qua nhiều năm đã rất nhiều người chú giải, nhưng vẫn chưa ai thấu được hết chỗ sâu xa thâm áo, khiến cho từ trước đến nay, kẻ dạy người học văn này đều còn có chỗ vướng mắc phân vân, không thể nào hài lòng thấu triệt.



Tiên sinh An Sỹ bậc nhiều đời trồng sâu cội phúc, theo nguyện lành tái sinh cõi này, thông hiểu đến chỗ tột cùng của sách vở thế gian, thâm nhập sâu xa vào Kinh tạng Phật giáo, đem chỗ sở học ấy dạy dỗ dắt dẫn người đời, khiến cho ai nấy đều tin nhận. Tiên sinh dấn thân vào chốn thế tục để làm khuôn mẫu tốt đẹp cho người đời, dùng chỗ học hiểu am tường, chứng đắc mầu nhiệm để nắm lấy tinh yếu trong Phật pháp cũng như trong Lão học,1 thuận theo bài văn giảng pháp tùy căn của Đế Quân, đưa vào những chú giải so sánh tường tận dễ hiểu cho tất cả mọi người, đạo căn bản chẳng lìa bản tâm văn từ đạt được chỗ tinh yếu, trưng dẫn những chuyện thật, xua tan mây đen ngờ vực phủ che tâm ý, nêu được tôn chỉ nghĩa lý, giương cao Mặt trời trí tuệ chiếu soi giữa bầu trời chân tánh, khiến người đọc qua rồi thì mỗi mỗi sự việc đều chỗ học theo, mỗi mỗi tâm niệm đều chỗ tự răn ngừa, cải hối; ấy trực tiếp tương giao với tấm lòng từ bi thương người của Đế Quân, giảng giải thấu triệt, bày ngọn nguồn, khiến cho hết thảy trong thiên hạ, kẻ dạy người học văn này ngày nay đều thể hiểu mọi điều, không còn một chút phân vân vướng mắc.

Nhưng tâm bi mẫn như thế dường chưa đủ, đại nguyện từ ái vẫn khôn cùng, tiên sinh còn muốn cho người người đều phát triển lòng chân thật khoan thứ, đối với nhau như anh em một nhà, dứt binh đao cùng an ổn hưởng trọn tuổi trời, dùng lễ nghĩa làm giềng mối luật tắc, yêu đức tốt xa lìa sắc dục, nên



1 Trong nguyên tác dùng các địa danh Linh Sơn (靈山) Tứ Thủy (泗水) để chỉ nơi phát tích của thiền tông

Phật giáo Lão giáo.

liền viết ra một quyển sách để ngăn việc sát sinh hại vật, lấy tên là “Vạn thiện tiên tư”, một quyển khác để ngăn việc đam dâm dục, lấy tên “Dục hải hồi cuồng”. Chỉ do người đời vốn tạo nghiệp giết hại quá nhiều, lại gặp chuyện dâm dục thì rất dễ phạm vào, nên tiên sinh mới thương xót chẳng ngại nhọc nhằn lao khổ, không ngớt lời răn dạy.

Thế nhưng, việc làm thiện của thế gian dẫu sao cũng chỉ được phước báu trong hai cõi trời, người. Hưởng tận phước rồi ắt phải đọa lạc vào những cõi thấp kém, khổ não độc hại biết làm sao dứt được? thế nên tiên sinh đã tìm đọc qua các Kinh luận của tông Tịnh độ, chọn lấy những lời thích hợp soạn thành một tập sách lấy tên là “Tây quy trực chỉ”, truyền rộng để giúp cho muôn người, hàng phú quý cũng như hạ tiện, dù già trẻ nam nữ, kẻ trí người ngu, xuất gia cũng như tại gia, hết thảy đều thể cùng niệm Phật A-di-đà, cầu sinh về thế giới Cực Lạc, vượt thoát luân hồi, thẳng lên địa vị không còn thối chuyển; dứt nỗi khổ vọng nghiệp huyễn, hưởng niềm vui bản tâm thường tại.

Ba pho sách được kể trước,1 tuy giảng pháp tu hành thiện nghiệp thế gian, nhưng đồng thời cũng đủ pháp thấu triệt sinh tử. Một quyển sau cùng2 tuy giảng pháp thấu triệt sinh tử, nhưng đồng thời cũng dạy phải tu tập thiện nghiệp thế gian. Cho đến những việc như “thuận đạo ắt hưởng quả lành, nghịch đạo lý ắt gặp tai ương”, mỗi mỗi đều phân tích chi ly, biện giải rành mạch, dứt điều nghi hoặc, làm chỗ vướng mắc, lẽ thật trọn vẹn thuyết phục, ngôn từ lại hay lạ tuyệt diệu, thể khai mở tâm người ngu độn hôn muội, lại đủ sức mạnh mẽ như vớt người chết đuối, cứu kẻ bị lửa thiêu. Chỗ chí thành có thể thấu suốt, hợp với lẽ trong trời đất; phân biện việc quỷ thần, thể dứt sạch sự hoài nghi, càng thêm thanh thế Lục




  1. Tức ba quyển Âm chất văn quảng nghĩa, Vạn thiện tiên Dục hải hồi cuồng.

  2. Tức sách Tây quy trực chỉ.

kinh,1 giúp định kỷ cương trên dưới, quả thật một quyển kỳ thư khuyến thiện bậc nhất trong thiên hạ, nếu so với những quyển sách khuyến thiện tầm thường khác, thể sánh cùng được sao? Lòng tôi vẫn tin chắc rằng tiên sinh hẳn bậc Bồ Tát theo bản nguyện mà hiện thân cư sĩ để thuyết pháp độ sinh.

Tôi vốn người kém trí, thuở thiếu thời tuy đọc sách Nho nhưng không được chỗ tinh yếu truyền lại của Khổng Mạnh. Lại theo học Phật pháp đã lâu nhưng vẫn chưa chứng ngộ được thể tánh Như Lai. Thời gian thấm thoát, nay sắp bước vào tuổi “tri thiên mệnh”2 nhưng kiến thức nông cạn, chỉ mỗi tấm lòng ưa thích việc lành, thật không chút sức lực làm lợi lạc người khác. Muốn đem quyển sách quý này khắc bản rộng truyền nhưng chẳng biết làm sao, phận nghèo không đất cắm dùi, lại thêm lười nhác trong việc hào quyên góp, nên trải qua nhiều năm vẫn chưa thành tựu tâm nguyện.

vị người đất Tây Thục Thiên Quế, vốn sẵn căn lành, siêng tu thiện hạnh, mong đạt được pháp Phật cao trổi, nhân tìm đến lễ bái nơi chùa Pháp trên núi Phổ Đà nên tình cờ gặp gỡ. Quả thật là:



Nếu không tiền định nhân duyên,

Cớ sao không hẹn, cửa thiền gặp nhau?

Vị ấy liền cung kính thưa hỏi, mong được chỉ bày chỗ tinh yếu của pháp môn vượt thoát luân hồi. Tôi nhân đó khuyên ông trước hết phải nỗ lực giữ theo giềng mối luân thường, chuyên cần tu tập tịnh nghiệp, thường làm những việc lợi mình lợi người, noi theo đó chỗ thiết yếu nhất. Nếu thể tự mình kiên trì thực hành như thế không gián đoạn, ắt rồi sẽ thể cảm hóa mọi người chung quanh. Bằng như chỗ thực hành của





  1. Lục kinh: 6 pho sách tinh yếu thời cổ của Nho gia, bao gồm kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Lễ, kinh

Nhạc kinh Xuân Thu. Khi nói Ngũ kinh thì không đề cập đến kinh Nhạc.

  1. Tức gần 50 tuổi, do câu nói của Khổng tử “ngũ thập tri thiên mệnh” (50 tuổi biết được mệnh trời) nên người

sau thường dùng thành ngữ này để chỉ độ tuổi ngũ tuần.

tự thân không phù hợp với lời nói ra, thì việc truyền pháp sẽ ngược lại hóa thành hủy hoại giáo pháp. Công đức thế gian nếu chẳng tu tập bồi đắp, thì thiện tâm chẳng do đâu được chuyển biến. Công đức không tu, thiện tâm không chuyển, ấy đều do không gặp được những bậc thầy hay bạn tốt để làm gương sáng cho mình noi theo.



Nhân đó tôi liền mang sách An Sỹ toàn thư này ra tặng cho một bản, khuyên vị ấy hãy đọc qua trọn vẹn, chú ý nơi nhất cử nhất động hằng ngày đều y theo những lời khuyên dạy trong sách, thảy thảy đều tương hợp, không chút sai lệch, hẳn thể xem thành tựu. Người ấy hân hoan như được báu vật, vui mừng không dứt, liền phát nguyện khắc bản in lại để rộng truyền khắp nơi, lại thỉnh cầu tôi viết cho lời tựa để công bố với mọi người.

thế, tôi không ngại chỗ học kém cỏi, lược viết ra đây nguyên do sự việc, lòng muốn đem sự lợi lạc đến cho muôn người, khiến cho ai nấy đều thể tu sửa tự thân, xây dựng gia đình, dạy dỗ cháu con theo gương các bậc thánh hiền, nhận biết chân tâm bản tánh, thấu triệt lẽ tử sinh. Nếu ai đọc kỹ rồi ra sức làm theo, ắt sẽ thấy đúng như lời tôi nói, không chút sai dối.
Thích Ấn Quang kính ghi





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương