Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang29/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   25   26   27   28   29   30   31   32   ...   130

TỐNG GIAO CỨU ĐÀN KIẾN, TRÚNG TUYỂN TRẠNG NGUYÊN



Giảng rộng

Chuyện của Tống Giao, nhiều người cho rằng chẳng qua chỉ một việc thiện nhỏ được báo ứng quá lớn lao nên sinh ra nghi ngờ. Thế nhưng, nghĩ như thế thật chẳng biết rằng, đó mới chỉ nêu việc trước mắt, thấy cứu đàn kiến thì nói cứu đàn kiến, thấy đỗ trạng nguyên thì nói đỗ trạng nguyên. Nếu luận việc này cho rốt ráo thì việc làm của Tống Giao đã cứu sống ít nhất hàng vạn sinh linh, nên đời sau ắt phải hàng vạn sinh linh cảm ơn cứu mạng ra sức báo đáp. Như thế thì chỉ riêng một việc đỗ trạng nguyên làm sao xứng tận được phước báo của việc làm ấy? Huống chi việc đỗ trạng nguyên bất quá cũng chỉ là một chút danh bên ngoài; ba tấc hơi vừa dứt, mạng sống không còn, liệu còn trạng nguyên nữa chăng? Cho nên, nếu ai nói việc báo ứng như vậy là quá lớn lao, quả thật đã sai lầm.

Đặt cành trúc làm cầu cứu đàn kiến, ấy chính cứu nạn lũ lụt. Nhưng mạng sống của loài kiến không chỉ riêng chết lũ lụt, nên việc cứu kiến cũng không chỉ giới hạn nơi việc đặt cành trúc làm cầu. như người giúp việc trong nhà mình muốn dùng nước sôi, lửa nóng để diệt tổ kiến, thì phương cách để cứu sống đàn kiến lúc ấy phải dùng đạo giảng giải cho người nghe, lại cũng dùng thế lực của mình để ngăn cấm không cho làm.

Chó, mèo trong nhà cũng thể giết hại loài kiến, khi thức ăn như thịt, cá... rơi vãi trên mặt đất làm cho kiến đánh hơi tụ tập bám vào rồi bị chó mèo ăn lẫn với thức ăn đó. thế, để cứu loài kiến không bị giết hại thì sau mỗi bữa ăn nên quét dọn sạch sẽ thức ăn rơi vãi trên mặt đất, chôn lấp đi để không trở thành mồi nhử kiến.

Đốt vàng mã, giấy... các thứ cũng thể làm chết loài kiến, phần lớn đốt vào sáng sớm không nhìn thấy rõ. Để cứu loài kiến không bị chết vì cách này, nên quét sạch mặt đất trước khi đốt, rải nhiều tro nguội lên trước làm nền rồi mới đốt bên trên nền tro ấy.

Khi uống trà thể làm chết loài kiến, phần lớn do đổ nước thừa lên mặt đất. Để cứu loài kiến không bị chết cách này, nên dùng bồn, chậu để chứa nước thừa không đổ lên mặt đất.

Gần bếp nấu ăn cũng thường nhiều tổ kiến, chúng ngửi thấy mùi thức ăn tụ tập đến rồi làm hang ổ. Để cứu loài kiến không bị chết cách này, khi làm bếp nấu ăn nên dùng đá vôi lót kín mặt đất chung quanh...

Chỉ đơn cử một vài trường hợp, thể từ đó suy rộng ra việc bảo vệ sinh mạng cho hết thảy các loài côn trùng, sâu kiến... cũng đều phải có lòng từ bi thương xót như thế.



Trưng dẫn sự tích
CỨU KIẾN ĐƯỢC TĂNG TUỔI THỌ1

Vào thời đức Phật còn tại thế, một vị tỳ-kheo đã chứng đắc lục thần thông,2 quán sát thấy trong số đệ tử mình một chú sa-di chỉ trong 7 ngày nữa ắt phải chết. lòng từ bi, ngài liền bảo chú sa-di ấy về quê thăm cha mẹ, đến ngày thứ 8 hãy trở lại chùa. Đó thầy muốn cho chú sa-di ấy được gặp cha mẹ trước khi chết cũng như được chết tại quê nhà. Không ngờ đúng ngày thứ 8 chú sa-di vẫn còn sống trở lại chùa.

Vị tỳ-kheo liền nhập định quán sát nguyên do, mới biết chú sa-di lúc đang trên đường về quê bỗng gặp một tổ kiến sắp bị nước dâng tràn vào, lập tức cởi áo cà-sa đắp chặn xung quanh để cứu, nhờ đó cả đàn kiến được thoát chết. Nhờ việc này mà chú sa-di chẳng những không chết yểu, về sau lại sống thọ đến 80 tuổi, chứng quả A-la-hán.

Lời bàn

Chuyện sống lâu hay yểu mạng của con người, thể yếu tố quyết định trước cũng thể không định trước. như Nhan Uyên, Ngưu đều chết sớm, đó những trường hợp mà thọ mạng đã quyết định do nghiệp quả. Văn Vương thọ trăm tuổi, Vương sống đến chín mươi, những trường hợp ấy nghiệp quả chưa định trước. Chư thiên cõi trời hiện năm dấu hiệu suy vi hoặc lớn hoặc nhỏ, cũng giống như vậy. Lại nói như trường hợp trong bốn cõi thiên hạ, phần lớn chúng sinh trong ba châu đều không nghiệp quả quyết định, chỉ riêng





  1. Trích từ Phước báo kinh - 福報經. (Chú giải của soạn giả)

  2. Lục thần thông: sáu khả năng phi thường của người tu tập đã chứng đắc, bao gồm: 1. Thần Túc Thông

- 神足通, tên gọi chung của các năng lực siêu nhiên như bay trên trời, hóa thân, v.v. . . 2. Thiên Nhãn Thông - 天眼通, năng lực biết được trạng thái chuyển sanh của chúng sanh. 3. Thiên Nhĩ Thông - 天耳通, năng lực nghe được tất cả các âm thanh. 4. Tha Tâm Thông - 他心通, năng lực biết được suy nghĩ của người khác. 5. Túc Mạng Thông - 宿命通, năng lực nhớ trạng thái sinh tồn trong đời quá khứ. 6. Lậu Tận Thông - 漏盡通, năng lực biết được phiền não của bản thân đã dứt sạch.

châu Bắc Câu-lô tất cả đều phải chịu nghiệp quả quyết định trước. Việc chú sa-di được tăng thêm tuổi thọ, tất nhiên thuộc trường hợp nghiệp quả không quyết định trước.


VUA KIẾN TRẢ ƠN1

Huyện Phú Dương thuộc đất Ngô người tên Đổng Chiêu Chi, một hôm đi thuyền qua sông Tiền Đường bỗng nhìn thấy dưới sông con kiến trên một thân cây lau trôi giữa dòng nước, muốn vớt thân cây lau lên thuyền để cứu con kiến nhưng người trên thuyền không chịu, ông liền dùng một sợi dây buộc vào cây lau để kéo đi theo thuyền, cuối cùng đưa được con kiến vào bờ.



Đêm đó, Đổng Chiêu Chi nằm mộng thấy một người mặc áo đen đến gặp mình để tạ ơn, nói rằng: “Ta vua kiến, do bất cẩn rơi xuống sông, hôm nay nhờ được ông cứu giúp. Sau này ông lúc nguy cấp, xin hãy đến báo cho ta biết.”

Trải qua hơn mười năm sau, Đổng Chiêu Chi bị người khác vu cáo ăn trộm, bị bắt giam vào ngục. Chiêu Chi nhớ lại lời vua kiến đã nói trước đây trong giấc mộng, trong lòng muốn báo tin nhưng chẳng biết cách nào. người biết chuyện liền bảo: “Sao ông không bắt lấy vài ba con kiến, đặt trong lòng bàn tay rồi nói chuyện này với chúng thử xem.” Đổng Chiêu Chi làm theo lời, quả nhiên đêm ấy mộng thấy người mặc áo đen đến bảo: “Ông hãy gấp rút trốn đi, tìm đến trốn trong núi Dư Hàng có thể thoát được nạn này.”

Đổng Chiêu Chi thức giấc, lập tức theo lời bỏ trốn, chạy đến núi Hàng. Quả nhiên trốn thoát được, rồi chẳng bao lâu sau có lệnh triều đình đại xá, nhờ đó được miễn tội.




1 Trích từ sách Cổ sử đàm uyển - 古史談苑. (Chú giải của soạn giả)

Lời bàn

Một con rùa khi còn sống vốn chẳng tự biết được chuyện sống chết của chính mình. Thế sau khi chết thịt da hoại, chỉ để lại riêng cái mai rùa lại khả năng dự đoán được những chuyện tốt xấu, lành dữ cho người đời. Bàn về lẽ của những chuyện như thế, dẫu đến thánh nhân cũng chỗ vẫn còn chưa biết, huống chi như chuyện vua kiến trả ơn thì có gì đáng ngờ?



THÚC NGAO CHÔN XÁC RẮN, SAU LÀM TỂ TƯỚNG



Giảng rộng

Loài rồng bốn tính độc làm chết người. khi do bị cắn mà chết; khi do chạm phải chết; cũng khi do nhìn thấy mà chết; hoặc khi do nghe âm thanh của chúng phát ra mà chết. Loài rắn cũng bốn tính độc tương tự như thế. Con rắn mà Thúc Ngao nhìn thấy đó ắt thuộc loại thể khiến người ta nhìn thấy mà chết.

Cứ theo lời của người nước Sở kể lại thì đến nay loài rắn hai đầu đó vẫn còn tồn tại. Rắn này thân hình màu vàng, dài chừng một thước, khi di chuyển thể tới hoặc lui đều được, rất giống với loài giun đất. Thoạt nhìn thấy cũng không hại, hẳn nay đã một loài khác đi rồi, bởi muôn loài đều theo thời gian biến hóa. Chẳng hạn như các loài cầm thú vào thời thượng cổ đều nói được tiếng người nhưng ngày nay chẳng loài nào biết nói. Trong tâm thức hàm chứa những sự ác độc thì đa phần sẽ biến hiện ra thành các loài rắn, rết, bò cạp... Người tâm từ bi lân mẫn, ắt không thể bị các loại độc làm hại. Nếu không được vậy, ắt khi bên ngoài điều độc hại, ta cũng dùng sự độc hại để đáp lại, đó một con rắn bên

ngoài lại thêm một con rắn trong tâm. Ta đã không khả năng cảm hóa rắn độc, lẽ nào lại để cho bản thân mình bị rắn độc đồng hóa, trở thành độc hại như rắn?



Rắn độc con vật hại người, thế Thúc Ngao chôn rắn đi để tránh cho người khác không nhìn thấy. như theo đó mà suy rộng ra, thì hết thảy những làm hại người khác đều có thể xem như rắn độc. Khi chúng ta làm được những việc trừ tàn diệt bạo, ấy chính chôn đi những con rắn độc biết đi bằng hai chân. Cố gắng sửa đổi những sai lầm đã phạm trong quá khứ, tu tập hướng đến những việc hiền thiện trong tương lai, đó chính là chôn đi con rắn độc trong tự tâm mình.

Kể từ câu “Vu Công xử án” cho đến câu này trong chính văn, Đế Quân lược nêu lên những trường hợp làm việc thiện được hưởng phước báo để chỉ dạy cho người đời. Một người làm thiện được hưởng phước báo, thì tất cả mọi người làm thiện cũng đều sẽ được hưởng phước báo. Cũng giống như nếm thử một quả trên cây thấy ngọt thì biết tất cả những quả trên cây ấy đều ngọt, đâu cần phải nếm thử tất cả quả trên mỗi cành cây?
Trưng dẫn sự tích
TÙY PHƯƠNG TIỆN PHẠM GIỚI SÁT1

Vào thời đức Phật Nhiên Đăng, 500 thương nhân ra biển tìm châu báu. Cùng đi với họ lại một kẻ xấu ác, rất giỏi võ nghệ, xưa nay vẫn thường làm những việc trộm cướp. Tên này có ý muốn giết 500 thương nhân để một mình lấy hết số châu báu đã được trên thuyền. Nhưng 500 thương nhân này đều là những vị Bồ Tát đã phát tâm Bồ-đề không còn thối chuyển,2




  1. Trích từ kinh Đại Bảo Tích - 大寶積經 (Chú giải của soạn giả) Câu chuyện này bắt đầu từ dòng thứ 24,

trang 604, tờ b, thuộc quyển 108 của kinh Đại Bảo Tích (kinh số 310, được xếp vào tập 11 trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh). đây không trích nguyên văn chỉ ghi lại đại ý.

  1. Nguyên tác ghi là: 五百人皆不退菩薩 (... ngũ bách nhân giai Bất thối Bồ Tát - ... năm trăm người này đều

nếu giết các vị thì tội ác sẽ cực kỳ lớn lao đến mức không thể đo lường, do đó mà phải đọa vào địa ngục rất lâu.1



Bấy giờ, trên thuyền người hoa tiêu dẫn đường2 tên Đại Bi, đoán biết được ý niệm của kẻ xấu ác kia, liền tự nghĩ rằng: “Nếu giết kẻ xấu ác này, ắt ta phải chịu quả báo đọa vào đường dữ.3 Nhưng nếu ta không giết ông ấy, ắt 500 người hiền lương này đều sẽ bị hại, tự thân ông ta rồi cũng sẽ đời đời bị đọa trong địa ngục. Bằng như ta nói việc này ra với mọi người, ắt sẽ khiến cho cả 500 thương nhân đều khởi lên tâm sân hận xấu ác, do đó rồi cũng sẽ phải thọ quả báo khổ não.” Suy tính như vậy rồi liền sinh tâm thương xót tất cả, quyết định tự mình nhận lấy tội lỗi để cứu vớt nhiều người. Liền đâm chết kẻ xấu ác kia.

Đức Phật Thích-ca kể chuyện này xong, dạy rằng: “Người hoa tiêu tên Đại Bi đó, chính tiền thân của ta; 500 thương nhân ngày ấy, chính 500 vị Bồ Tát trong Hiền kiếp này.”

Lời bàn

Việc này gọi tùy theo duyên phải phạm vào việc giết hại, nhưng điều quan trọng nhất trước hết đã khởi lên tâm niệm thà tự mình nhận lấy tội lỗi để có thể cứu vớt người khác, thì sau đó mới thể tùy phương tiện hành xử theo phương thức quan trọng này. Ngược lại, nếu như khởi tâm tham muốn công đức, lại muốn tránh không phải chịu quả báo tội lỗi, thì


các vị Bất thối Bồ Tát). Tuy nhiên, trong kinh văn đoạn này ghi là: 此五百人皆是向阿耨多羅三藐三菩提 不退轉菩薩 (Thử ngũ bách nhân giai thị hướng A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề bất thối chuyển Bồ Tát - Năm trăm người này đều những vị Bồ Tát đã phát tâm hướng đến quả vị thượng Bồ-đề. ) thế, xét ra thì đây những vị đã phát tâm Bồ-đề không thối chuyển, thuộc hàng Bồ Tát phát tâm, chứ không phải Bất thối Bồ Tát, vốn một quả vị đã gần đạt đến quả vị Phật.

  1. Trong kinh văn đoạn này ghi ràng hơn như sau: 若此惡人殺諸菩薩。以此業緣障礙罪故。一一菩薩從初

發心。乃至成阿耨多羅三藐三菩提。爾時惡人於其中間常在地獄。 (Nhược thử ác nhân sát chư Bồ Tát, thử nghiệp duyên chướng ngại tội cố, nhất nhất Bồ Tát tùng phát tâm, nãi chí thành A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề, nhĩ thời ác nhân ư kỳ trung gian thường tại địa ngục. - Nếu kẻ xấu ác kia giết hại các vị Bồ Tát, thì do nghiệp duyên cản trở các bậc tu đạo, nên trong suốt thời gian mà các vị Bồ Tát ấy tu tập, từ lúc phát tâm cho đến khi chứng đắc quả thượng Bồ-đề, thì kẻ xấu ác kia phải luôn trong địa ngục. ) Câu kinh này cũng làm rõ ý vừa nêu trên, rằng đây là các vị Bồ Tát sơ phát tâm chứ không phải đã đạt quả vị Bất thối chuyển.

  1. Nguyên văn đạo (導師) được dùng với nghĩa người dẫn đường hoặc lái tàu trên biển (hoa tiêu).

  2. đây chỉ 3 đường dữ địa ngục, ngạ quỷ súc sinh.

tâm niệm như thế vốn đã không thể chấp nhận, làm sao còn có được phước báo?


GIẾT RẮN PHẢI ĐỀN MẠNG1

quê tôi, trước đây một người làm quan Lễ bộ Thượng thư tên Cố Tích Trù, sống tại Ôn châu, bị viên phó tướng Hạ Quân Nghiêu giết hại. Không lâu sau, người ấy giáng nơi nhà của một gia nhân Trương Điều Đỉnh, nói rằng: “Trong đời trước ta lỡ tay giết chết một con rắn. Con rắn ấy nay chính là Hạ Quân Nghiêu, vào ngày 16 tháng 6 vừa qua đã hại chết ta ở giữa dòng sông. Việc nhân quả đời trước nay phải gánh chịu, hãy nói với 2 con ta đừng nghĩ đến việc báo thù.”

Họ Trương khi ấy chưa hề nghe tin Cố Tích Trù đã chết, nên lập tức cho người đến Ôn châu tìm hiểu tin tức. Khi ấy Ngô Quốc Kiệt là người huyện Thái Thương, đang ở tại Ôn châu, có mời Cố Tích Trù đến dự tiệc trên thuyền giữa sông. Sáng sớm nghe tin Cố Tích Trù đã bị hại chết, liền sai rất nhiều ngư dân lặn xuống tìm thi thể, nhưng không tìm được. Đêm ấy nằm mộng thấy Cố Tích Trù đứng thẳng trong nước nói rằng: “Ta ngày trước một vị tăng núi Thiên Đài, đánh chết một con rắn, nay phải đền mạng. Ông ý tốt với ta, trong đời trước vốn từng môn đồ của ta. Nay ông chỉ cần cho người đến tìm bên ngoài dòng nước xoáy chỗ này, chỗ này... thì sẽ tìm được.” Ngô Quốc Kiệt y theo lời chỉ dẫn trong mộng, quả nhiên tìm được xác, liền đưa linh cữu về Côn Sơn mai táng.

Lời bàn

Cố Tích Trù ngày trước một vị tăng núi Thiên Thai, nay tái sinh làm quan đến chức Lễ Bộ Thượng thư, tất nhiên văn chương tiết tháo, đức hạnh nghĩa khí đều phải trác tuyệt hơn người, đáng để lưu truyền hậu thế. Như thế còn khó tránh




1 Trích từ sách Hiện quả tùy lục - 現果隨錄. (Chú giải của soạn giả)

được quả báo của việc giết rắn ngày trước, huống chi những kẻ tầm thường, so ra còn kém xa họ Cố đến muôn vạn lần? Người đời khởi tâm xấu ác giết rắn, chớ nên đem chuyện Thúc Ngao ra mà biện hộ cho việc làm của mình.



MUỐN TẠO RUỘNG PHƯỚC


RỘNG SÂU, PHẢI DỰA VÀO MỘT TẤM LÒNG NÀY
Giảng rộng

Câu này chính nêu lên một cương lĩnh thiết yếu. Trước đó đã kể những sự kiện thật về nhân quả báo ứng, đến câu này mới làm sáng tỏ đạo nhân quả. Tâm địa, hay lòng người, đó chính nhân, ruộng phước kia chính quả. Các nhà nho đời chẳng tin nhân quả, chẳng qua chỉ chưa đủ khả năng nhận hiểu đúng sách vở của Nho gia. Chính thế khi nói đến những việc như “nhà làm việc thiện ắt niềm vui, nhà làm nhiều việc ác ắt gặp tai ương” thì thể tin nhận, nhưng khi bàn đến những chuyện nhân quả báo ứng thì lại không tin. Như thế có khác nào chỉ biết gọi “Mặt trời” không biết Mặt trời ấy cũng còn được gọi là vầng thái dương!



Người tin nhân quả thì tâm lo sợ quả báo của việc ác nên không dám phạm vào. Người không tin nhân quả thì tâm thường buông thả nên không kiêng sợ bất kỳ việc ác nào. Một người vì tin nhân quả, sợ quả báo nên làm một việc lành, vạn người đều như vậy thì thế giới này tăng thêm được vạn điều lành. Một người không tin nhân quả, buông thả phóng túng nên làm một việc xấu ác, vạn người như vậy thì thế giới này tăng thêm vạn điều xấu ác. Cho nên nói rằng: “Người người đều biết nhân quả, đó con đường an lành tốt đẹp cho hội. Người người đều không tin nhân quả, đó là con đường đại loạn của xã hội.”





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   25   26   27   28   29   30   31   32   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương