Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang22/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   130

NẾU AI THỂ GIỮ TÂM HIỀN THIỆN NHƯ TA



Giảng rộng

Trước phải hiểu ý nghĩa của hai chữ “giữ tâm”, sau đó mới giảng đến ý nghĩa “có thể như ta”. Hơn nữa, trước hết cần hiểu được “tâm” gì, sau đó mới xét lại ý nghĩa của việc “giữ tâm” với “không giữ tâm”. Cũng như dạy người giữ gìn vật báu thì trước hết phải chỉ rõ vật báu đó ở đâu.

Sự phân biệt giữa “lòng người” với “tâm đạo”, từ xưa đến nay trong đạo Nho được các bậc hiền thánh truyền nối cho nhau, xem đó mạng mạch chân chính. Nhà Nho nói rằng: “Đạo cội nguồn lớn lao phát xuất từ trời”,1 nhưng bất quá đó cũng chỉ một cách nói rất hồ, trừu tượng, lại cũng không phải tông chỉ của cái gọi “đạo” theo như từ Khổng, Nhan2





  1. Khái niệm này được Đổng Trọng Thư, một nhà Nho danh tiếng vào thời Tây Hán đưa ra.

  2. Khổng, Nhan, tức Khổng tử Nhan Hồi, được xem như những vị tiên thánh của đạo Nho.

truyền lại. Thế các nhà Nho lại ý báng bổ đạo Phật, hoàn toàn cớ tự đưa ra thuyết “Phật gốc tâm, Nho gốc trời”, đâu biết rằng như vậy đã tự hủy hoại đi chính cái “tâm học” rất uyên áo sâu sắc ban đầu của Nho giáo, tự nguyện mang bảo vật quý giá nhất của đạo Nho quy về cho đạo Phật, thật hết sức đáng tiếc. Lại những kẻ hậu học mịt không hiểu biết, lại hùa theo thuyết ấy phụ họa. Biết bao giờ mới được bậc đại thánh hiền đủ sức chấn chỉnh sự sai lầm như thế?

Học vấn thánh hiền truyền dạy, không ngoài việc giúp ta được tâm tự do tự tại, thoát khỏi mọi sự ràng buộc. Tâm đã thoát khỏi mọi ràng buộc, ai còn trở lại cầu điều chi nữa? Một tâm cầu, một tâm thoát, dường như hai tâm riêng biệt. Nếu không hai tâm riêng biệt, sao lại phân biệt gọi cầu với thoát? Chính chỗ này phải tận lực nghiên cứu nghiền ngẫm, không thể chỉ xem xét qua loa mà được.

Nho giáo luận về tâm, đạt đến thuyết “rỗng rang sáng suốt không mờ, trọn đủ lẽ, ứng hóa thành vạn sự”, thể xem tinh vi thuần khiết đến mức cùng cực. Thế nhưng, ý tưởng đó vốn xuất xứ từ những giảng giải trong các kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm của đạo Phật. Xét từ sau thời Khổng tử, Mạnh tử cho đến trước thời Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di1 thì trong Nho giáo không hề thuyết này. Chu Hy2 phát khởi thuyết này,3 có thể xem là có công đóng góp cho Nho gia.



Năm 18 tuổi, Chu Hy tìm đến theo học với Lưu Bình Sơn. Lưu Bình Sơn ý cho rằng ông muốn theo đường khoa cử công danh, liền bảo mở rương sách của ông ra xem, chỉ thấy trong đó duy nhất một bộ Đại Huệ Thiền ngữ lục (大慧禪師


  1. Chu Đôn Di, cũng thường được gọi tiên sinh Liêm Khê (濂溪), nhà Nho nổi tiếng vào đời Tống, sinh

năm 1017mất năm 1073,người khởi xướng một học thuyết sau đó được Trình Hạo (1032-1085) Trình Di (1033-1107) tiếp tục phát triển. Cả ba người đã những đóng góp đáng kể vào học thuyết cũng như tưởng của Nho giáo.

  1. Chu Hy tên tự Nguyên Hối, tự Hối Am, sinh năm 1130, mất năm 1200, người kế thừa thuyết của Chu

Đôn Di nhưng đã phát huy đến mức hoàn chỉnh hơn nhiều.

  1. đây muốn nói đến những ý tưởng mới của Chu Hy trong sách Đại học chương (大学章句).

語錄), không còn khác.1 Chu Hy thường cùng Lữ Đông Lai Trương Nam Hiên tìm đến tham bái nhiều vị thiền lão thạc đức khắp nơi, riêng đối với thiền Đạo Khiêm quan hệ hết sức mật thiết. Ngài Đạo Khiêm nhiều lần khai thị, thường răn nhắc cảnh tỉnh ông trong sự tu tập.2 thế, trong những chú thích, giảng giải của Chu Hy về các sách Đại học, Trung dung, khi luận về tâm tánh thì phần cốt yếu đều rất gần với tưởng của nhà thiền. Chu Hy về già sống ẩn dật trong nhà tranh vách đất, thường tụng kinh Phật, sáng tác tập thơ “Trai tụng kinh” (齋居誦經詩). Nếu nói rằng Chu Hy hoàn toàn không biết đến kinh Phật thì quả sai lầm.3



LUẬN GIẢI VỀ TÂM



TÂM KHÔNG Ở TRONG

Những người muội thường cho rằng tâm trong thân này, đó chỉ do nhận lầm cái tâm thuộc về lục phủ ngũ tạng bên trong thể tâm, hay trái tim, lại cho đó chính thể rỗng rang linh diệu, không biết rằng một tâm hữu hình, hay trái tim, tùy thuộc thân xác này thường sinh thường tử, lại có một tâm hình, hay tâm thức, không tùy thuộc thân xác này nên không có sinh tử. 4



Tâm hữu hình, hay trái tim, trong thân thể, còn tâm vô hình, hay tâm thức, không trong thân thể. Nếu như nói hai


  1. Việc này thể xem Thượng trực biên (尚直編) Kim thang biên (金湯編). (Chú giải của soạn giả)

  2. Khi thiền Đạo Khiêm viên tịch, Chu Hy soạn một bài văn tế, được chép lại trong Hoành giáo tập ( 教集). (Chú giải của soạn giả)

  3. lần Lỗ công đàm luận cùng Khổng tử, nói ra nhiều điều hay. Khổng tử khen ngợi, Lỗ công nói: “Đó

không phải ý tôi nghĩ ra được, chỉ tôi nghe được từ thầy.” Khổng tử đáp rằng: “Đó vua đang làm theo đúng đạo. Tâm ngay thẳng chính trực đạo.” Xét theo như việc này thì những người yêu kính Chu Hy cũng không cần phải che giấu sự thật Chu Hy học hỏi theo kinh Phật. (Chú giải của soạn giả)

  1. Những biện luận như thế này dường như chỉ giá trị nhiều trong nguyên tác, bởi chữ Hán dùng cùng

một chữ tâm () cho trái timtâm thức. Trong tiếng Việt thì sự phân biệt giữa trái tim hữu hình với tâm thức hình quá ràng không thể gây nhầm lẫn.

tâm ấy chỉ một, ắt tâm nhân từ thương dân của Nghiêu, Thuấn với tâm bạo ngược ác độc của Kiệt, Trụ phải cách xa nhau như trời với đất. Lại sao cùng mắc phải tâm bệnh, mà có trường hợp phải chẩn đoán dùng thuốc men, trường hợp lại phải dùng các phương pháp điều trị tâm lý? Do đó biết là cái tâm cần phải dùng thuốc men với cái tâm thiện ác vốn rõ ràng là hai tâm khác nhau.


TÂM KHÔNG Ở NGOÀI

Lại người ngờ rằng, cái tâm hữu hình kia đã chẳng phải tâm thức, ắt hẳn cái khả năng thấy, khả năng biết của ta chính là tâm. Nhưng những đối tượng của sự thấy, biết đều bên ngoài, như vậy cho thấy cái tâm thể thấy, thể biết đó cũng ở bên ngoài. Những người này thường như việc nhắm mắt quay nhìn bên trong không thấy, chỉ khả năng nhìn thấy những vật đối diện mình, không thể từ những chỗ bên trong như chân mi, đáy mắt, da mặt tự thấy được hình thể. Lại ví như thân bên ngoài căn nhà, tất nhiên chỉ thể nhìn thấy được tường vách, cửa sổ... từ bên ngoài, không thể từ ngoài nhìn vào thấy được những chỗ ẩn khuất bên trong. Xin thưa, không đúng như thế. Cái khả năng biết khổ, biết đau, chính là tâm ta. Như người khác uống vị thuốc hoàng liên, ta không thể cảm thấy đắng miệng; như muỗi chích trên da thịt, ta liền kêu đau, vậy có thể nói rằng tâm ở bên ngoài được chăng?
TÂM KHÔNG Ở KHOẢNG GIỮA

Lại người ngờ rằng, tâm đã chẳng trong, cũng chẳng ngoài, vậy nhất định lúc vào trong, lúc ra ngoài, nên phải nơi khoảng giữa. Xin thưa, không đúng như thế. Nếu vào ra, tức chẳng phải khoảng giữa. Nếu xác định khoảng giữa, ắt không vào ra. Hơn nữa, biết dựa vào đâu gọi khoảng giữa? Nếu cho rằng khoảng giữa đó nằm bên trong da,

thì vẫn giống như thuyết tâm bên trong. Nếu cho rằng khoảng giữa đó nằm bên ngoài da, thì vẫn giống như thuyết tâm bên ngoài. Lại tiến xa hơn để tìm khoảng giữa, thì bất quá trong các nếp nhăn của da cũng chỉ những cáu ghét bẩn, đó lại tâm của ta được sao?
TÂM KHÔNG PHẢI VỪA HIỆN HỮU, VỪA KHÔNG HIỆN HỮU

Hoặc người nói rằng: “Nếu tâm không hiện hữu, ắt nhìn không thể thấy, nghe không thể nghe, ăn cũng chẳng biết mùi vị. Còn nếu như nhìn thể thấy, nghe thể nghe, ăn thể biết được mùi vị, đó tức tâm hiện hữu. Như vậy, tất nhiên tâm phải vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu?”

Đáp rằng: “Sáu thức đó1 chẳng phải tâm. như khi nhìn thấy người con gái đẹp, tâm liền khởi sinh ái nhiễm, đó do con mắt (nhãn căn) với hình sắc (sắc trần) tiếp xúc nhau mà thành nhận biết (nhãn thức). Nghe nói đến trái chua thì tự nhiên sinh nước dãi trong miệng, đó do lưỡi vị chua tương cảm với nhau thành thức. Từ nơi rất cao nhìn xuống thấp, hai chân tự nhiên run rẩy, đó do thân với cảm xúc thúc bách nhau mà thành thức. Nếu nhận những thức ấy là thể tánh rỗng rang linh diệu không muội của tâm, đó sai chỉ hào ly mà lệch đi ngàn dặm. Người xưa nói rằng:



Cội nguồn sinh tử trong muôn kiếp, Người mê không biết nhận chân tâm.

Chính là nói đến ý nghĩa này.


TÂM BAO TRÙM HƯ KHÔNG

Trong kinh Lăng nghiêm, đức Phật bảo ngài A-nan rằng: “Cả mười phương không sinh khởi trong tâm ông, chẳng qua cũng chỉ như đám mây nhỏ điểm giữa bầu trời mênh mông.”


1 Tức nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức ý thức.

Đức Phật bảo ngài A-nan bảy lần chỉ ra nơi chốn của tâm; bảy lần hỏi, bảy lần đáp, phá sạch tất cả những nhận thức sai lầm vọng, sau đó mới dần dần hiển lộ chân tâm nhiệm mầu sáng suốt, khiến cho ngài A-nan được nhất thời tỏ ngộ, thể nói là một cuộc hiển bày hết sức tường tận sâu xa uyên áo.



Lời bàn

Chữ “tâm” vốn đã mang nghĩa hồ không rệt, chữ “giữ” lại càng không xác định. Nếu vẫn quyết lòng phải nói ra cho cái ý nghĩa “giữ tâm”, hẳn chỉ càng thêm sai lệch, chỉ nên hướng đến những việc từ “chưa từng bạo ngược với dân” cũng như “cứu người lúc nguy nan” v.v... hiểu rằng đó chỗ “giữ tâm hiền thiện” của Đế Quân, liền cung kính nỗ lực làm theo như vậy là được.




ẮT ĐƯỢC TRỜI BAN PHƯỚC LÀNH



Giảng rộng

Câu trên nói “giữ tâm hiền thiện như ta”, đó nhân; câu này nói “trời ban phước lành”, đó quả. Chữ “ắt được” nghĩa xác quyết, như người trồng dưa ắt được hái dưa, trồng đậu ắt được hái đậu, nhất định không thể mảy may sai lệch. Hoàn toàn không phải như thuyết của những kẻ uổng đọc sách thánh hiền, rằng: “Ý trời tự muôn thuở thể biết; ý trời trong đời suy mạt này không thể biết.”

Chữ “trời” thể chỉ hình sắc thể chất nhìn thấy, tức bầu trời; cũng thể chỉ vị chủ tể của vạn vật. Khi dùng chỉ vị chủ tể của vạn vật, thì “trời” nghĩa thượng đế chí tôn, hay Ngọc Đế. Các nhà Nho về sau tránh không muốn dùng danh xưng “thượng đế”, nên dùng chữ “lý” () để thay thế, nhưng chữ ấy

thật chưa đủ nghĩa. Bởi người đời nói đến “thượng đế” đều có ý kính sợ, nếu chỉ dùng một chữ “lý” để thay, đâu ai kính sợ?



như người con gái xinh đẹp trong căn phòng kín. người bước vào phòng ấy, tâm ham muốn nhục dục bỗng dưng bùng phát. Chợt nghe người bảo rằng: “Trong phòng này thánh tượng của Ngọc Hoàng Thượng Đế, gái ấy đến đây để dâng hương.” Khi ấy, cho kẻ cực kỳ xấu ác ắt cũng phải sinh lòng kính sợ, chưa hẳn ngay trước tượng Ngọc Đế dám buông thả làm càn. Nhưng nếu thay thế lại nghe người bảo rằng: “Nếu ông làm việc càn rỡ như thế hoàn toàn không theo đúng lý. trái nghịch với lý, tức đắc tội với chính danh thánh giáo, không thể gọi người quân tử.” Thử hỏi người ấy trong lúc lòng ham muốn nhục dục đang bùng phát mạnh mẽ, thể nghe qua lời ấy đột nhiên dập tắt ngay chăng?

Cho nên biết rằng, việc dùng chữ “trời” để chỉ Ngọc Đế thể khuyên răn giáo hóa người học, thật công với Nho giáo. Nếu chỉ dùng một chữ “lý” nói, ấy mở tung cánh cửa buông thả không còn e sợ sệt cho người trong thiên hạ, nên không thể dùng đó mà dạy dỗ giáo huấn được. Nên người xưa có lời rằng: “Người người đều biết kính sợ vâng theo đạo lý, đó đầu mối để thiên hạ được an trị. Người người đều không biết e sợ sệt, đó đầu mối khiến thiên hạ đại loạn.”

Huống trong thế gian này, muôn sự muôn vật đều không chỗ nào ra ngoài chữ lý. Nếu nói “trời” lý,1 thì “tính” cũng là lý; các nhà Nho gọi mệnh trời “tính”, rốt lại thì “lý mệnh” cũng gọi lý. Suy xét ra như vậy thật không thể không bật cười.




1 Khái niệm về “lý” một trong những phát triển về nội dung triết học trong Nho giáo qua nỗ lực tiếp thu

hoàn chỉnh của các nhà Nho từ Trình Hạo, Trình Di trở về sau. Trình Hạo chủ trương: “Thiên tức dã”, qua đó xem cội nguồn, bản thể của trụ, nên đó tức trời. Trình Di lại nói: “Tính dã” hiểu khái niệm tính đây tức tính thiện của con người. Đoạn này tiên sinh An Sỹ đưa ra các lập luận đều để chỉ các khái niệm còn chưa nghĩa của các nhà Nho về “lý”, “tính” v.v. . .

Đời Tống, tiên sinh Lục Tượng Sơn1 năm lên 6 tuổi, một hôm bỗng khởi sinh thắc mắc không biết tận cùng của trụ trời đất này là nơi đâu. Suy nghĩ mãi về điều này đến nỗi suốt đêm không ngủ được. Đến khi đã thành một ông già tóc bạc, mỗi ngày vẫn luôn suy nghĩ không biết “ông trời” mình vẫn đội trên đầu đó thật ra gì, lại thể an bày sắp xếp hết thảy các loại hữu tình có sinh mạng như thế.



Tiên sinh Y Xuyên2 tham vấn Thiệu Khang Tiết,3 chỉ cái bàn ăn trước mặt hỏi: “Như cái bàn này nằm trên mặt đất; không biết cả trụ trời đất này thật ra nằm đâu?” Thiệu Khang Tiết hết lời luận giải lẽ về trời đất vạn vật cùng với lục hợp.4 Y Xuyên kinh hãi thán phục rằng: “Trong đời ta xưa nay chỉ được biết duy nhất Chu Mậu Thúc5 biện luận đến mức như thế này.”6

Than ôi, ai dám nói chắc rằng các bậc đại nho xưa không hề để tâm nghiên cứu về trụ trời đất? Con phù du tuy không biết đến sáng tối trong ngày,7 con ve sầu tuy chẳng biết được xuân thu trong năm,8 nhưng cái chu kỳ sáng tối với bốn mùa bao giờ lại thế mất đi chăng? Thế nên phải biết rằng, trong Ba cõi9 quả thật 28 cảnh trời, rất nên phụ đính vào đây sau các thuyết của Liêm Khê, 10 Khang Tiết, để giúp cho những ai sự thắc mắc cầu học



  1. Lục Tượng Sơn tức Lục Cửu Uyên, sinh vào năm 1139 mất năm 1192, người tiếp nối những tưởng

của Trình Di, Trình Hạo nhưng đưa ra rất nhiều phát kiến giúp cho hệ thống tưởng này được hoàn chỉnh hơn.

  1. Tiên sinh Y Xuyên (伊川), tức Trình Di (程頤).

  2. Thiệu Khang Tiết (邵康節) tên thật Thiệu Ung (邵雍), tự Nghiên Phu, hiệu Khang Tiết, sinh năm

1011, mất năm 1077.

  1. Lục hợp: chỉ trời đất bốn phương đông, tây, nam, bắc.

  2. Chu Mậu Thúc: chỉ Chu Đôn Di.

  3. Xem chuyện này trong sách Thánh học tông truyền (聖學宗傳). (Chú giải của soạn giả)

  4. Đời sống con phù du quá ngắn ngủi chỉ trong phút chốc nên không thể biết đến chu kỳ sáng tối của trọn

một ngày đêm.

  1. Con ve sầu sống trong mùa nên không biết đến mùa xuân trước đó mùa thu sau đó.

  2. Ba cõi (Tam giới): theo kinh Phật thì tất cả chúng sinh trong luân hồi đều không ra ngoài ba cõi cõi

Dục (Dục giới), cõi Sắc (Sắc giới) và cõi Vô sắc (Vô sắc giới).

  1. Liêm Khê: tức Chu Đôn Di.



giống như tiên sinh Y Xuyên cũng thể tìm được lời giải thích.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương