Nguyên tác


RỘNG LÀM NHỮNG VIỆC PHÚC THIỆN



tải về 32.39 Mb.
trang21/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   130

RỘNG LÀM NHỮNG VIỆC PHÚC THIỆN,


TÍCH ÂM ĐỨC, THẤU TẬN LÒNG TRỜI
Giảng rộng

Trong văn trước, từ chỗ “chưa từng bạo ngược với dân” đến đây 5 câu, đều nói những việc Đế Quân đã làm, tích tụ âm đức, nhưng thật ra không thể nào kể hết được, nên dùng hai chữ “rộng làm” là để nói khái quát hết thảy.

Nguyên bản dùng chữ “âm chất” (陰騭), nguyên xuất xứ từ thiên Hồng Phạm (洪范) trong sách Thượng Thư (尚書). Căn cứ theo chú thích của Sái Trầm (蔡沈) đời Tống thì đó những việc đã “mặc định” (默定), nghĩa trong chỗ u mặc âm thầm, con người không thấy không biết, nhưng đã sự âm thầm định đoạt quyết định sự việc phải như thế. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa ấy thì không thích hợp với câu văn đây, nên hiểu theo nghĩa “âm đức” (阴德) mới đúng.1

Nguyên bản dùng chữ “thương khung” (蒼穹), nghĩa “cao xanh”, để chỉ trời cao. Chữ “thương” (蒼) nói về màu sắc, chữ “khung” (穹) nói về sự cao rộng. Nếu nói theo màu sắc, như cung điện chư thiên ở, thì hợp với chữ “thương”, trong kinh nói màu lấp lánh như ngọc lưu ly xanh. Nếu nói theo hình thể đo lường cao rộng, thì hợp với chữ “khung”, như tầng trời Đao-lợi quả thật cách mặt đất chúng ta đến 84.000 do- tuần.




1 Chính theo ý này của tiên sinh An Sỹ mà khi Việt dịch chúng tôi cũng thường dịch theo nghĩa “âm đức”,

rất hạn chế dùng lại chữ “âm chất” như nguyên bản.

Trưng dẫn sự tích
LÀM VỊ QUAN TỐT THANH

Đế Quân kể rằng: Ta từ sau khi lìa bỏ đường ác,1 sinh ra tại nước Triệu làm con trai Trương Vũ, được đặt tên Trương Huân, sau trưởng thành làm huyện lệnh Thanh Hà.



Ta từ lúc làm quan luôn giữ tâm sáng suốt, khoan hậu nhân từ, không nỡ xem thường kẻ dưới. Đối với thuộc cấp như bạn hữu, đối với dân chúng như người thân trong gia đình. Thuộc cấp có điều sai trái lầm lạc, ta giúp sửa đổi cho chính đáng; đối với người lười nhác giải đãi thì dùng lời khích lệ, khuyên bảo; đối với người thô lỗ cộc cằn thì nhẫn nại dạy dỗ, khiến cho cải hối; đối với kẻ quỷ quyệt xảo trá thì tra xét tường tận, làm rõ tất cả; đối với kẻ so đo hơn thiệt chuyện bổng lộc thì đem đạo nghĩa ra dạy dỗ; đối với kẻ tranh biện chê bai chuyện lễ nghĩa pháp chế thì đem lẽ tình cảm hiểu dụ; đối với kẻ giặc loạn trộm cướp, ta liền làm bắt phải bồi hoàn tiền bạc đúng mực; đối với kẻ gây thương tổn cho người khác, ta bắt phải nhận lỗi bồi thường thiệt hại; đối với kẻ lần đầu phạm lỗi có thể khoan dung, ta khuyên răn rồi tha thứ; đối với kẻ phạm tội không xuất phát từ bản tâm thể dung thứ, ta cũng tha bổng; cạn hết lời lẽ, dốc hết sức lực dạy dỗ răn nhắc mọi người noi theo đạo lý, phép tắc. Nếu như xảy ra xuất trong việc xử án kết tội, người thế chê bai dung túng kẻ xấu, ta đều chấp nhận lắng nghe.

Ta giữ chức huyện lệnh trong 5 năm, mưa thuận gió hòa, dịch bệnh không phát sinh, dân chúng mỗi khi cúng tế trời đất đều xưng tán ngợi khen ta.

Lời bàn

Đời nhà Hán nhiều vị quan tốt, nhưng liệu ai được từ




1 Ý nói từ sau khi Đế Quân được gặp Phật, nghe Pháp.

hòa, thương yêu chia sẻ nỗi khổ của dân, đau xót với nỗi đau của dân như Đế Quân chăng? Khảo cứu trong thư tịch ghi chép về quan lại, chỉ thấy Trương ông quan vạy hỏng, không thấy nói đến người con Trương Huân làm quan đức độ, vậy thư tịch ghi chép liệu nên tin tưởng hoàn toàn được chăng?


ĐẠI TIÊN NÚI TUYẾT SƠN

Đế Quân kể rằng: Ta vào đời Chu U Vương,1 do thẳng thắn can gián bị bắt tội chết,2 hồn phách không chỗ về, lẩn quất nơi cung điện than khóc trong 3 ngày. Vua nghe tiếng khóc cho yêu quái, lệnh cho quan Đình thị cứ nghe theo tiếng kêu khóc bắn tên. Ta khi ấy mới bỏ nước của U Vương đi, một lòng hướng về phương tây.



Ta đi qua Mân sơn, Nga Mi sơn, rồi rời xa đất Thục, bay vượt qua nhiều ngọn núi cao vút, xa trông về hướng tây thấy một đỉnh núi, vừa cao vừa rộng ước đến hơn trăm dặm, tuyết phủ giá lạnh, thật không phải cảnh nơi trần thế.3 Sơn thần Bạch Huy nói với ta: “Núi ấy tên Tuyết Sơn. Xưa đức Đa Bảo Như Lai tu hành đó, qua 8 năm thì thành đạo,4 sao ông không lưu lại nơi núi ấy?”

Ta nghe theo lời sơn thần, lại núi ấy. Không lâu sau Ngọc



  1. Chu U Vương vị vua cuối cùng của nhà Tây Chu, trị từ năm 781 trước Công nguyên đến năm 771 trước Công nguyên. U Vương bạo ngược đạo, đắm Bao Tự, phế bỏ thái tử hoàng hậu, bị cha của hoàng hậuThân hầu khởi binh hợp với nước Tằngquân Khuyển, Nhung kéo về đánh, phải bỏ chạy rồi bị giết Ly Sơn. Sau lập con trưởng của ôngthái tử Nghi Cửu lên kế vị, tức Chu Bình Vương, mở đầu nhà Đông Chu, thiên đô về phương đông.

  2. Khi ấy U Vương giận Đế Quân thẳng thắn can ngăn, bắt phải uống rượu độc chết. (Chú giải của soạn

giả)

  1. Núi này nằm về biên giới với Thiên Trúc (Ấn Độ), gần nước tên Phạm-diễn-na. Pháp Huyền Trang

từng đến nơi này. (Chú giải của soạn giả)

  1. Đức Thích-ca Như Lai từng núi này tu hành khổ hạnh 6 năm. Nếu nói Đa Bảo Như Lai thì tức vị Cổ

Phật trước đây của Hiền kiếp này, sơn thần làm sao biết được? Hơn nữa, danh hiệu của chư Phật còn tùy theo mỗi nơi một khác, chẳng giống nhau. Trong kinh nói rằng: “Một danh hiệu số Phật, một vị Phật số danh hiệu.” Do đó, chắc hẳn đây sơn thần nói Đa Bảo Như Lai chỉ đến đức Thích-ca Như Lai. (Chú giải của soạn giả)

Đế có chỉ ban xuống phong ta làm Tuyết Sơn Đại tiên.



Lời bàn

Đế Quân chấp chưởng việc khoa bảng của nhân gian, ngang hàng với chư tiên, đều nhờ những việc làm phúc thiện thật sự thấu tận lòng trời, chỉ riêng một việc này khác biệt.

Những người được Ngọc Đế ban phong, đều phải nghe theo mệnh trời. Trời đã thể ban cho vinh hiển, thì cũng thể bắt phải bần tiện. Chỉ riêng bậc tu hành xuất thế, hoặc được vãng sinh về Tây phương Tịnh độ, hoặc tạm tái sinh nơi các cõi trời Tứ thiền thuộc Sắc giới, mới thể tự do tự tại, không phải nghe theo mệnh lệnh từ Ngọc Đế.







Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương