Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang2/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   130

LỜI TỰA NHÂN VIỆC KHẮC BẢN IN LẠI SÁCH AN SỸ TOÀN THƯ


(Lời tựa này do Đại sư Ấn Quang viết vào năm Mậu Ngọ - 1918)

Đi với tất c chúng sinh, hai nghiệp m dục và giết hại

căn bản của vòng luân hồi sinh tử. Khó dứt trừ nhất chính

dâm dục, dễ phạm vào nhất chính giết hại. Trong hai việc ấy, đối với dâm dục thì ngườichút trí tuệ đềuthể tự xét kiềm chế không phạm vào. Tuy nhiên, muốn cho tâm ý thanh tịnh, hoàn toàn dứt sạch đến tận ngọn nguồn vi tế của dâm dục, thì chỉ bậc A-la-hán đã trừ hết lậu hoặc, chứng đắc thể tánh chân thật thôi. Những ai chưa được như thế, hẳn đều đeo mang tập khí ái dục, cho phần nặng nhẹ, nhiều ít khác nhau. Do đó ngày lại ngày qua tham dục càng kiên cố hơn trong tâm thức, đời này nối sang đời khác, không thể đạt đến sự giải thoát.

Đối với sự giết hại, người đời đều xem việc tất nhiên, lấy mạnh hiếp yếu, dùng máu thịt chúng sinh làm đầy bụng mình, chỉ biết được sự ngon miệng nhất thời chẳng ai tin chuyện phải đền trả trong muôn kiếp. Kinh Lăng nghiêm dạy rằng: “Người ăn thịt dê, chết lại sinh làm người, người chết lại sinh làm dê, cho đến hết thảy các loài chúng sinh cũng đều sinh tử xoay vòng như thế, ăn nuốt lẫn nhau, cùng tạo ác nghiệp mãi mãi không thôi!”1



Bậc cổ đức dạy rằng:

Muốn cho thiên hạ thái bình,



1 Thật ra đoạn này trích lại gián tiếp từ Thủ Lăng Nghiêm nghĩa sớ chú kinh (首楞嚴義疏注經), được xếp vào

Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, tập 39, kinh số 1799, do ngài Tử Tuyền soạn vào đời Tống. Sách này có 20 quyển. Đoạn trích này thuộc quyển 7, bắt đầu từ dòng thứ 21, trang 877, tờ b.

Phải ngưng ăn thịt chúng sinh các loài. Lại cũng dạy rằng:

Muốn biết vì sao thế gian,

Triền miên binh lửa, ngút ngàn nạn tai, Hãy nghe vang vọng đêm dài,

Tiếng kêu thảm thiết vạn loài sinh linh. Kìa trong lò mổ sát sinh,

Muôn loài bỏ mạng vì mình đó thôi!


Cho nên, đã tạo nhân như thế nào, ắt phải chịu quả như thế ấy. Nếu không suy nghĩ thì còn thể phạm vào, bằng như đã sự suy ngẫm, hẳn phải lấy làm kinh sợ không dám giết hại nữa!

Tiên sinh An Sỹ1 cung kính vâng theo lời Phật dạy, khởi tâm thương xót muôn người, soạn ra sách Dục hải hồi cuồng ( 欲海回狂) để khuyên ngăn sự tham dâm, sách Vạn thiện tiên (萬善先資) để khuyên ngăn việc giết hại. Trong đó dẫn chứng những sự việc thật, chỉ lẽ nhân quả, mong sao cho hết thảy người đời đều đối đãi với nhau như anh em một nhà cùng do trời đất sinh ra; người với muôn loài cũng một chân tâm, mãi mãi dứt trừ tâm xấu ác gây ra những chuyện tổn hại đạo lý, trái nghịch luân thường, mạnh hiếp yếu. Lại cũng muốn cùng với tất cả mọi người đều không phạm điều ác, siêng làm việc lành, nên lấy bài văn Âm chất (陰騭文) của Văn Xương Đế Quân mà thêm vào chú thích tường tận, gọi Âm chất văn quảng nghĩa ( 陰騭文廣義), khiến người đời thể noi theo đây trong hết thảy mọi việc làm hằng ngày đều giữ lòng lành khi ứng xử,

1 Tức Chu An Sỹ (周安士), sinh năm 1656, mất năm 1739, bậc danh vào đầu triều Thanh Trung

Hoa, tên thật Chu Mộng Nhan (周梦顏), tên khác Nhân (思仁). Ông tin sâu pháp môn Tịnh độ cầu sinh Tây phương nên tự lấy biệt hiệu Hoài Tây (怀西居士).

như tầm vóc lớn lao thì thể trị nước an dân, trong phạm vi nhỏ nhặt thì mỗi một lời nói, mỗi một ý nghĩ cũng đều sự thận trọng suy xét, tương hợp với đạo lý.

Đối với những lời dạy của các bậc hiền thánh xưa như thế, phải hết sức cung kính thận trọng, đọc qua suy ngẫm với tâm chân chánh, với ý chí thành, chẳng phải những kẻ chỉ bàn luận suông mà có thể hiểu được.

Cả ba tập sách nói trên, văn chương ý thú đều thông suốt việc xưa nay, ích đời lợi người, đó là nhờ tiên sinh đã vận dụng tài năng trác tuyệt, kết hợp với sự thấu triệt sâu mầu, nắm hiểu được tâm pháp của chư Phật Tổ, Thánh hiền rồi dùng bút mực mà truyền đạt chân thật đến người đời, phát huy được những điều đã hiểu.



Tuy nhiên, cho thể tiết chế sự dâm dục, từ bỏ nghiệp giết hại, điều ác không phạm, lại siêng làm việc thiện, nhưng nếu chưa đạt đến sự giải thoát rốt ráo khỏi vòng sinh tử thì làm sao tránh khỏi phải tái sinh đời đời kiếp kiếp? Chỉ thể cố gắng giữ gìn không buông thả, ắt sẽ thường được sinh vào những cảnh giới tốt lành, rộng tu trí huệ, không rơi vào những cảnh giới xấu ác. Được như thế cũng đã chẳng mấy người, nói gì đến chuyện thấu triệt lẽ tử sinh, vượt thoát luân hồi, phải đâu chuyện dễ nói được sao? Nhất thiết phải nhờ vào sức tu định tuệ, dứt trừ lậu hoặc, chứng đắc chân tánh mới thể đạt đến sự tự do, giải thoát rốt ráo. Hết thảy những ai chưa được như thế, chỉ nhờ phước báu thể sinh làm vua các cõi trời, cao tột đến như cõi trời Phi phi tưởng, được hưởng phước báu và sống thọ đến 80.000 đại kiếp,1 nhưng vậy cũng vẫn còn bị trói buộc trong vòng nghiệp lực, tùy theo các nghiệp thiện ác

1 Đại kiếp: khoảng thời gian lâu xa không thể hình dung tính đếm. Trong kinh Phật năm dụ về quãng

thời gian của đại kiếp, gọi đại kiếp ngũ dụ (大劫五喻), bao gồm thảo mộc dụ (ví như số lượng cây cỏ), sa tế dụ (ví như số lượng hạt cát mịn), giới tử dụ (ví như số lượng hạt cải), toái trần dụ (ví như số lượng hạt bụi) phất thạch dụ (ví như thời gian lau mòn tảng đá lớn). Cả năm dụ này đều nhằm cho thấy thời gian của một đại kiếp rất dài, vượt ngoài khả năng hình dung tính đếm của chúng ta.

mà phải mãi mãi thọ sanh lưu chuyển trong luân hồi.

Do vậy, y theo pháp môn đức Như Lai đã dạy, rằng nương sức từ bi của Phật thì dẫu nghiệp lực chưa dứt vẫn có thể được vãng sanh, tiên sinh An Sỹ liền rút lấy những ý nghĩa cốt yếu trong các kinh, luận về Tịnh độ kết hợp soạn thành một bộ sách, lấy tên Tây quy trực chỉ (西歸直指). Như ai thể một lần đọc qua sách ấy ắt khởi lòng tin sâu vững, dứt sạch nghi ngờ. Nếu khởi tâm tin tưởng, phát nguyện cầu sinh về cõi Tây phương, cho căn lanh lợi hay chậm lụt, tội nghiệp đã tạo nặng hay nhẹ, công phu tu tập sâu hay cạn, chỉ cần đủ lòng tin, phát nguyện thật chân thành chí thiết, trì niệm danh hiệu Phật, thì chắc chắn đến lúc lâm chung sẽ nương sức từ bi tiếp dẫn của đức Phật mà được vãng sanh.

Khi được vãng sanh rồi, tất nhiên đã bỏ phàm lên thánh, thấu triệt lẽ tử sinh, giải thoát luân hồi, ngay trong một niệm tỏ ngộ tự tâm, việc chứng quả Chánh giác ắt sắp đến. Những ý nghĩa lợi ích như thế, chỉ ai đã thực sự chứng đắc rồi mới biết, không thể miêu tả hình dung bằng văn chương ngôn ngữ.



Yếu chỉ của pháp môn này dùng sự tin sâu phát nguyện của tự thân hành giả cảm ứng giao hòa với tâm từ bi của đức Phật, nhờ đó được sự lợi ích lớn lao cùng như thế. Nếu so với việc tự dùng sức mình để dứt trừ lậu hoặc, chứng đắc chân tánh, thấu triệt lẽ sinh tử, vượt thoát luân hồi, thì mức độ khó dễ quả thật chênh nhau như trời với đất!

Hiện nay1 trên thế giới những quốc gia chiến tranh kéo dài liên miên, người trong nước [Trung Hoa] thì khởi sinh từ sự bất đồng ý kiến phân chia thành nam bắc, công kích lẫn nhau. Lại thêm trong nhiều năm gần đây thường xảy ra thiên tai bão lụt, hạn hán, động đất, giặc cướp, dịch bệnh... Thường nghe những tin tức thống số thương vong trong ngoài không dưới

1 Tức năm 1918, khi viết bài tựa này.

vạn vạn người, khiến trong lòng đau đớn khôn cùng chẳng biết làm sao, hận mình bất tài kém trí, lạm đứng vào hàng tăng chúng chưa chứng đắc đạo quả, chỉ tấm lòng thương đời thương người, thật không chút sức lực để ra tay cứu vớt.

người đồng hương Cần Phố tiên sinh Lưu Tại Tiêu, vốn kẻ trong hàng thanh bạch, gia thế nhiều đời nối truyền đạo đức, lại tin sâu Phật pháp. Mùa năm nay, tiên sinh tìm lên núi xin gặp mặt hỏi đạo. Khi cùng nhau bàn luận đến tình cảnh hiện nay trong nước cũng như ngoài nước, tiên sinh bỗng lo lắng hỏi: “Bạch thầy, liệu phương pháp nhiệm mầu nào thể cứu giúp được chăng?”



Tôi đáp: “Đó nghiệp quả khổ đau, quả khổ đau ấy ắt phải có nguyên nhân. Nếu muốn cứu khổ thì phải dứt trừ nhân của khổ. Nhân đã dứt trừ thì quả sẽ không do đâu sinh ra. Cho nên kinh Phật dạy rằng: ‘Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả.’”

Nhân đó liền đưa sách An Sỹ toàn thư cho tiên sinh xem, mong được khắc bản lưu truyền rộng rãi, khiến cho người người xem qua đều được vượt thoát luân hồi, thẳng đến bến bờ giác ngộ. Tiên sinh không kiềm được nỗi vui mừng, lập tức gọi người cháu Triệu Bộ Vân lấy ra 700 đồng tiền, mong tôi lo giúp việc khắc in. Tôi nhớ lại hồi năm Mậu Thân (1908) đã từng khuyên Thiên Quế khắc in sách này đất Thục,1 ông ấy liền nhờ tôi viết cho lời tựa, nhưng rồi sau không đủ nhân duyên nên cuối cùng việc lại không thành.

Nay nhờ Lưu tiên sinh quyết lòng giúp vào, thật thuận duyên lớn lao, tôi liền thêm vào các bản văn sau để cùng khắc in:



- Sách Liễu Phàm tứ huấn (了凡四訓) của Viên Liễu Phàm, những lời hay ý đẹp khuyên việc bỏ ác làm lành.


1 Tức vùng Tứ Xuyên (四川).


  • Một quyển thuật của Du Tịnh Ý,1 lời lẽ hết sức chí thành, thấu suốt chỗ sâu xa tốt đẹp trong trời đất, phát huy nghĩa mọi việc, khuyên người kiên trì nỗ lực công phu, chính chỗ trang nghiêm đẹp đẽ thuần khiết bậc nhất, tỏ tường tận.

Hai quyển này được thêm vào sau quyển hạ của phần Âm chất văn quảng nghĩa.

  • Bài văn Giới sát phóng sinh (戒殺放生文) của Đại Liên Trì, thể xem bậc chủ từ bi diệt trừ ma quân tàn độc, nay thêm vào sau sách Vạn thiện tiên .

  • Các bài tụng trong tập Bất tịnh quán (不淨觀) của Pháp Tỉnh Am, thể xem vị dũng tướng tịnh hạnh diệt trừ ma quân tham dục, nay thêm vào sau sách Dục hải hồi cuồng.

  • Bài văn Khuyên phát tâm Bồ-đề (勸發菩提心文) cũng của ngài Tỉnh Am, thể xem con thuyền từ cứu vớt chúng sinh trong biển khổ luân hồi, nay thêm vào sau sách Tây quy trực chỉ.

Ba tập sách của tiên sinh An Sỹ lại được thêm vào các phần như thế, thật chẳng khác nào như trên gấm đẹp lại thêu hoa, như đèn sáng đặt cạnh gương soi, ánh sáng màu hoa càng thêm rực rỡ xán lạn, khiến lòng người thảy đều hoan hỷ. Quả thật, với người khéo đọc sách này ắt những tâm niệm gian dối tàn độc sẽ tức thời tan biến, những tâm nguyện tự lợi lợi tha sẽ tự nhiên mạnh mẽ sinh khởi, từ chỗ suy ngẫm từng bước dần dần hướng thiện, ngày càng tiến bộ sâu xa hơn, dẫu không lưu tâm đến mà tự nhiên tâm trần tục cũng chuyển dần thành trí tuệ thánh nhân, gần như thể đạt đến chỗ thấu triệt lẽ sinh tử, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, được đối diện kính lễ đức Phật A-di-đà, tự mình được Phật ban lời thọ ký.

Kính cẩn đọc qua sách này rồi, hân hoan có lời tụng rằng:

Từ lâu chìm trong biển nghiệp, Bỗng nhiên gặp chiếc thuyền từ. Xin vâng theo đạo từ bi,



1 Tức quyển Du Tịnh Ý công ngộ táo thần (俞净意公遇灶神記).

Quay về nương Đấng Giác ngộ. Lòng tin sâu, nguyện chí thiết, Tham chấp, luyến ái đều buông, Giao hòa cảm ứng đạo mầu, Phật A-di-đà kề cận.

Ngoài ra xin đọc thêm bài tựa viết năm Mậu Thân (1908), nay không chép lại rườm rà.

Năm Dân quốc thứ 7 (1918),

Mậu Ngọ, ngày 19 tháng 6.

Cổ Tân Thích Ấn Quang kính cẩn ghi.1




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương