Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang14/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   130
1 Phàm sự oán cừu đều từ chỗ thân ái sinh khởi, hiểu như vậy rồi thì không muốn thực hành sự quán chiếu lẽ bình đẳng oán thân cũng không thể được.
HÓA RỒNG TẠI CUNG TRÌ

Đế Quân kể rằng: Ta từ sau khi gặp cái họa Hậu, trong lòng luôn nghĩ đến chuyện trả thù báo hận, không nhớ đến quá khứ đã từng tu tập chánh đạo. Tuy nhà họ sau khi chết đã phải chịu sự trừng phạt khổ sở nơi âm ti, nhưng mối oan nghiệt với ta vẫn chưa dứt hết, nên lại thác sinh gặp nhau một bến sông vùng Đông Hải, thuộc huyện Cung Trì.

Con ngựa của quan huyện lệnh chính Hậu tái sinh. Mẹ ta Thích ngày trước, cũng sinh ra tại huyện này, vẫn mang họ Thích, nhưng do đời trước thụ hưởng phước báo quá đáng nên đời này phải chịu cảnh nghèo cùng, tiều tụy. lấy chồng họ Trương, lớn tuổi rồi vẫn chưa con, vợ chồng nương nhau



1 Hiểu được nguyên này, cũng chính cái học “cách vật” của nhà Nho. (Chú giải của soạn giả)

làm nghề cắt cỏ mà sống.

Một hôm, ra cắt cỏ ngoài đồng trống, chợt nghĩ đến việc mình tuổi tác đã cao vẫn chưa con, trong lòng hết sức bi thương, rơi lệ khóc than, cầu nguyện với trời cao, lại cắt tay lấy máu nhỏ lên một hòn đá trong ao nơi đó rồi khấn rằng: “Nếu như dưới hòn đá này con vật nào đang sinh sống, xin hãy về làm con ta.” Ta lúc ấy xúc động tấm lòng thành, bất giác thần thức lập tức chuyển nhập vào chỗ máu tươi. Hôm sau trở lại nhìn nơi hòn đá thì thấy vết máu đã hóa thành một con rắn thân dài một tấc, màu vàng lấp lánh, chính là ta đã thác sinh.

Mẹ ta mang ta về nuôi dưỡng, qua một năm thì trên đầu rắn bỗng mọc ra sừng, dưới bụng mọc chân, lại khả năng biến hóa. Mỗi khi trời muốn mưa, ta lại dùng sức biến hóa cùng hỗ trợ. Thân ta ngày càng dài to, bụng càng lớn, mỗi khi gặp các loài dê, ngựa, chó, lợn... liền ăn nuốt cả.



Quan huyện một con ngựa hay, chính Hậu tái sinh, ta bắt được cắn chết. Quan huyện liền bắt cha mẹ ta giam vào ngục, kỳ hạn trong 3 ngày nếu chưa bắt được ta sẽ xử 2 người tội chết. Hôm sau, ta liền hóa thành một nho sinh tìm đến xin gặp quan huyện, khuyên ông ta thả người. Quan huyện nói: “Vợ chồng lão họ Trương nuôi dưỡng con yêu xà, ăn nuốt gia súc dân làng đã lâu, nay lại ăn cả ngựa của ta. Ta muốn dân trừ hại, nhưng họ không chịu giao ra. Đó họ tự làm yêu nghiệt, phải xử tội chết.” Ta nói với quan huyện: “Vật mạng bồi thường cho nhau, đều do nghiệp đời trước thành. Nay ông muốn súc vật giết mạng người, như vậy được chăng?” Quan huyện quát đuổi ta ra. Ta nói: “Trên mặt ông đã hiện tử khí, hãy khéo tự lo cho mình đi.” Nói rồi biến mất. Quân hầu đứng quanh đó đều cho là yêu ma.

Ta liền trình lên Ngọc Đế kêu oan, kể lại việc đời trước mẹ con ta tội bị người nhà họ hại chết, nay muốn báo thù rửa hận. Sự việc trình lên chưa được Ngọc Đế trả lời, nhưng ta

khí hận ngút ngàn không kiềm chế được, liền biến hóa làm mưa gió, kéo mây đen vần mịt, lại mượn nước biển lớn đổ vào thành ấp, trong vòng bốn mươi dặm đều ngập chìm mênh mông. Trước đó ta đã hóa hiện vào trong ngục thất, đưa cha mẹ ta thoát ra. Việc này xảy ra vào thời Hiếu Tuyên Đế1 của triều Tây Hán, trong sử sách ghi lại trận lụt Hãm (陷河) chính là việc này.



Lời bàn

Đế Quân tuy nhiều đời làm người hiếu thuận với cha mẹ, thương yêu anh em, chuyên cần làm thiện, nhưng rốt lại cũng chỉ những phước báu nhỏ nhoi trong cõi trời người, chưa tu tập được Chánh pháp xuất thế. Chính vậy tuy thác sinh vào hoàng tộc cũng không được an ổn vững vàng. May mắn về sau được gặp Phật pháp, hướng về giải thoát. Nếu không thì việc oán cừu vay trả qua lại sẽ nối nhau còn mãi, chẳng bao giờ dứt! Cho nên, Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh thì trước hết phải tự mình ngồi trên thuyền Bát-nhã, tu tập trí tuệ giải thoát, sau đó mới có thể vào biển sinh tử.


GẶP PHẬT ĐƯỢC CỨU ĐỘ

Đế Quân kể rằng: Ta mang việc oán cừu với Hậu trình lên Ngọc Đế, chưa nhận được ý trời đã tự hành động, tuy nhất thời rất thích ý, nhưng ngay sau đó bình tâm nghĩ lại liền hối hận. Hôm sau, Ngọc Đế hạ thánh chỉ, nhân hải thần Triều Hoành tâu lên việc ta tự ý sử dụng nước biển, hại chết hơn 500 hộ dân thường, tính ra đến hơn hai ngàn mạng người, trừ ra trong đó 80 người thù oán với ta, còn lại bao nhiêu đều là chết oan uổng cả.

Ngọc Đế trách phạt, bắt ta làm con rồng Cung Trì, giam hãm trong một vùng nước đọng. Do hạn hán nhiều năm, sông

1 Hán Tuyên Đế trị từ năm 74 đến năm 49 trước Công nguyên.

ngòi cạn kiệt, nước hóa thành bùn. Thân ta khi ấy to lớn, không hang lỗ nào chui lọt. Mặt trời từ trên không ngày ngày chiếu xuống thiêu đốt thân ta, nóng bức khổ não; trên thân thì tám mươi bốn ngàn cái vảy đều loài trùng nhỏ sinh ra trong đó, cắn rứt không thôi. Ta khốn khổ cùng cực như vậy, không còn biết đến ngày qua tháng lại.1

Một buổi sáng sớm kia, ta nghe khí trời chuyển sang mát dịu, như gió lành thổi đến, rồi bỗng nhiên ánh trời tỏ rạng, mây lành năm sắc hiện ra trôi qua bầu trời, trong mây hiện các điềm lành, tỏa chiếu những quầng sáng màu tía, màu vàng, lại hiện nhiều tướng trạng vi diệu, hào quang rực rỡ xưa nay chưa từng thấy. Lại thấy các vị sơn thần, thủy thần, cho đến tất cả thần thánh đều tề tựu đến khấu đầu lễ bái, hoan hỷ tán thán. Lại hương thơm cõi trời lan tỏa, hoa trời rơi xuống khắp nơi, những chỗ hoa rơi chạm đất đều hóa thành cảnh sắc tươi tốt như mùa xuân.

Khi ấy ta bỗng nghe thân hình thay đổi, mắt sáng tai thính, các giác quan đều trở nên tinh tường, tâm được thanh thản, miệng lưỡi tươi nhuận, thể phát được thanh âm. Ta lập tức ngẩng đầu kêu khóc, cầu xin được cứu độ. Các vị thần thánh đều bảo ta rằng: “Đó bậc Đại Giác Thế Tôn Tây Thiên Trúc, đức Phật Thích-ca Mâu-ni.2 Nay mang giáo pháp lưu hành về phương đông này. Ông đã được gặp Phật, nghiệp xấu trước đây có thể được hóa giải.”



Ta liền tung người nhảy vọt lên, bay vào giữa ánh hào quang, mang hết những sự việc nhân quả báo ứng đã qua bạch lên đức Phật. Thế Tôn liền dạy: “Lành thay! Ông xưa nay thường là con hiếu tôi trung, làm lợi lạc cho rất nhiều người, chỉ chấp tướng nhân ngã buông thả tự thân làm việc tàn hại. Nay


  1. câu rằng: Địa ngục nhất trú dạ, nhân gian ngũ bách niên (Một ngày đêm trong địa ngục bằng năm

trăm năm cõi nhân gian), chính chỉ những trường hợp như thế này. (Chú giải của soạn giả)

  1. Đấng Điều ngự Trượng phu tất nhiên phải hiện thân như thế.

còn ôm giữ sự phân biệt kẻ oán người thân, khởi sinh tâm niệm ngu si sân hận nữa chăng?”



Ta nghe lời Phật dạy chí lý, tâm địa tức thời khai thông sáng suốt, không còn phân biệt nhân ngã, hết thảy vọng niệm nhất thời dứt sạch. Tự nhìn lại thân mình, hốt nhiên đã theo các vọng niệm cùng lúc mất đi,1 trở lại thân nam nhi ngày trước, đạt được trí quán đảnh, liền quy y Phật.

Lời bàn

Rồng đủ bốn loài: sinh ra từ thai bào (thai sinh), sinh ra từ chỗ ẩm ướt (thấp sinh), sinh ra từ trứng (noãn sinh) sinh ra do biến hóa (hóa sinh); trong các loài đó, chỗ khổ vui sâu cạn đều khác biệt. thế, Sa-kiệt-la Long vương nói: “Cùng trong loài rồng, khi được hưởng phước báo như các vị thiên thần, khi chịu khổ não như địa ngục, cũng khi đồng như loài người hoặc súc sinh, ngạ quỷ, mỗi mỗi đều tùy theo nghiệp đời trước mà thọ báo ứng.”



Xưa kia, đức Thế Tôn lần đang thuyết pháp với số vị Bồ Tát, bỗng một con rồng sống trong vùng nước nóng bức, khắp trên thân các vảy rồng đều loài trùng nhỏ sống trong đó cắn rứt thân rồng ăn, rồng đau đớn kêu khóc cầu xin cứu độ. Lại số những con rồng đói, nước mắt như mưa, đều thưa hỏi về nghiệp duyên của mình đời trước. Đức Phật tất cả khai mở tâm đạo, khiến cho đều nhận thọ Tam quy, Ngũ giới. Sau đó, những con rồng ấy thảy đều được thoát khổ.2
Chẳng phải đúng thật vậy sao? Đức Phật bậc đạo trong


  1. Đây quả thật là: Tội tùng tâm khởi tương tâm sám, tâm nhược diệt thời tội diệc vong. Tội vong tâm diệt

lưỡng câu không, thị tắc danh vi chân sám hối -罪從心起將心懺, 心若滅時罪亦亡。罪亡心滅兩俱空, 是則 名為真懺悔. (Tội từ tâm khởi, đem tâm sám; tâm đã diệt rồi tội cũng tiêu. Tội tiêu tâm diệt không không cả, đó mới thật chân sám hối. )

  1. Xin xem chi tiết chuyện này trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, tập 13, kinh số 397, Đại phương đẳng

Đại tập kinh, quyển 44 (大方等大集經 - 卷第四十四), phẩm thứ 12 - Nhật tạng phần trung tam quy tế long phẩm - 日藏分中三歸濟龍品第十二. (Chú thích của soạn giả, bổ sung)

ba cõi,1 là đấng cha lành của bốn loài,2 là bó đuốc sáng soi thấu vô minh, có thể khiến cho kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, người què được đi, người câm được nói. Đế Quân trước đây từng nghe lời ca hàm chứa Phật pháp xúc cảm, phải dừng xe xuống lễ bái cầu đạo, đủ biết đã sẵn trí tuệ căn lành trồng sâu từ đời trước. Do đó mà vừa được gặp Phật đã nhất thời dứt sạch ác nghiệp đời trước.


HAI CÕI ÂM DƯƠNG GIAO NHAU

Đế Quân kể rằng: Ta nhiều đời trước thường làm lành lánh dữ, nên trải qua ngàn năm lại tái sinh vào đời Thuận Đế, niên hiệu Vĩnh Hòa.3 Trong sách Hậu Hán thư đề cập đến tên Trương Hiếu Trọng, chính ta. Ấy cũng ta không quên hẳn danh xưng trong đời trước.



Trong đời ấy, ta tuy không ra làm quan, nhưng thừa mệnh Ngọc Đế nên ngày lo việc dương gian, đêm đêm lại phụ trách công việc nơi âm ti địa phủ. Người đời những việc ẩn khuất tinh tế, khéo che giấu không ai biết, ta cũng đều biết ghi chép tường tận, cho đến những việc của bọn yêu ma đạo cũng không ngoài vòng soát xét của ta.

Lời bàn

Huyện Thái Thương Giang một người, từng bị bắt làm sai dịch nơi địa phủ. Cứ vào lúc giữa đêm thì thân thể cứng đờ, lạnh ngắt, liền tự thấy mình được âm ti giao cho một tấm thẻ bài một cây gậy. Trên thẻ bài ghi tên những người bị âm ti tróc nã. Người ấy một khi vừa cầm gậy vào tay, chớp mắt đã thấy mình khả năng xuyên núi vượt biển, đến ngay nơi người bị tróc nã, bắt lấy người đó treo lên đầu gậy. Mỗi lần như vậy thường

  1. Ba cõi (tam giới), tức Dục giới, Sắc giới sắc giới. Tất cả chúng sinh trong luân hồi, tùy nghiệp lực lưu chuyển đều tái sinh lên xuống qua lại trong 3 cõi này.

  2. Bốn loài, tức các loài thai sinh, thấp sinh, noãn sinh hóa sinh. Tất cả chúng sinh tùy theo nghiệp lực

đều sinh ra bởi một trong bốn cách này.

  1. Niên hiệu Vĩnh Hòa rơi vào các năm từ 136 - 141 theo Tây lịch.



bắt đến mười người, nhưng quảy lên đầu gậy chỉ thấy nhẹ như lông hồng. Đến khi trời sáng liền trở lại như người thường không khác.

Người ấy sợ lắm, tìm đủ mọi cách nhưng vẫn không sao trốn tránh được việc ấy. vị tăng khuyên ông xuất gia. Ông nghe lời, từ đó về sau không còn bị âm ti sai khiến như trước nữa.
MƯA TÊN XUYÊN THÂN

Đế Quân kể rằng: Ta nhờ tu thiện tích đức trong nhiều đời, dần dần được phục hồi thần chức, nhưng những mối oan trái xưa kia vẫn chưa trả dứt nên chưa được yên. lẽ đó lại tái sinh tại vùng Sóc phía bắc sông Hoàng Hà.1

Vào lúc tướng Đặng Ngãi mang quân đánh Thục, ta trong quân đội giữ chức Hành quân mã. Ta khuyên Đặng Ngãi theo đường nhỏ trong núi đi để tránh gặp địch. Khi vào sâu đất Thục rồi, gặp tướng Thục Gia Cát Chiêm. Đặng Ngãi dụ hàng Gia Cát Chiêm, hứa sẽ phong cho tước vương đất Lang Gia. Chiêm không nghe theo, quân hai bên giao chiến. Gia Cát Chiêm hết sức trung kiên, chống cự cùng quân ta, bắn tên như mưa khiến ta trúng tên toàn thân. Gia Cát Chiêm cuối cùng cũng bị bắt giam lại. Ta ý tìm cách cứu Chiêm, nhưng thân thể bị thương quá nặng [nên không làm được]. Ấy chính là món nợ trước kia ở Cung Trì, nay phải chịu báo ứng vậy.



Lời bàn

Kinh Lăng nghiêm dạy rằng: “Báo ứng của nghiệp giết hại, ví như trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi nhỏ, vẫn cứ qua lại ăn giết lẫn nhau, như bánh xe xoay tròn không lúc nào ngừng.”2 Xét theo




1 Trong kinh dạy rằng: “Bao nhiêu kiếp đã qua của mỗi người chúng ta, nếu gom xương cốt lại thành

đống ắt lớn hơn núi Tu-di, sữa mẹ đã uống hẳn nhiều như nước trong đại dương.” (Chú giải của soạn giả) 2 Đoạn này trích từ kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經), được xếp vào Đại Chánh tân tu Đại tạng

đó nói thì báo ứng của sự việc Cung Trì quả nhanh như chớp mắt thôi. Nếu như nhận hiểu được điều này, thể từ nay về sau biết sợ báo ứng không còn dám phạm vào nghiệp giết hại nữa.


CHẤP CHƯỞNG VIỆC KHOA BẢNG

Đế Quân kể rằng: Ngọc Đế thấy ta nhiều đời học đạo Nho, chuyên tâm tận ý nghiên cứu tam phần ngũ điển,1 liền giao phó cho ta chấp chưởng quản sổ bộ của thiên đình ghi chép việc khoa bảng ở nhân gian.



Hết thảy mọi việc liên quan đến tử, từ các khoa thi nơi quận huyện, cho đến những việc lớn lao như quy chế thi cử, quan phục, bổng lộc, ngạch trật, phong thưởng... đều phải trình lên ta, cho đến việc bổ nhiệm hay bãi chức các vị thừa tướng, ngự sử cũng đều do ta chưởng quản.

Lời bàn

Người thế gian nghe biết ai đó được làm quan khảo thí, liền tìm đủ mọi cách để mua chuộc, cầu cạnh, mong được chiếu cố. Nhưng vị quan ấy cũng chỉ nắm được một phần quyền hạn, không quyền quyết định tất cả, cũng chỉ giữ quyền trong một lần bổ nhiệm, không thể kéo dài quá 3 năm. Lại như quan chủ khảo cấp dưới cũng không quyền can dự vào các kỳ thi cấp trên; quan coi về quy chế khoa cử cũng không thể can dự vào phần việc của quan khảo tuyển. Như vậy, việc thành tựu hay thất bại trong khoa cử vẫn do chính mình quyết định trước nhất, tuy rằng cũng lúc không được như mong muốn. Do nhiều quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, nên việc mua chuộc đút lót quả thật rất khó.


kinh, tập 19, kinh số 945, do ngài Bát-thích-mật-đế dịch vào đời Đường. Kinh gồm 10 quyển, xem quyển thứ 8, từ dòng thứ 14, trang 145, tờ b.

1 Tam phần ngũ điển: các thư tịch cổ phổ biến được xem mẫu mực để trau dồi kiến thức. Tam phần

các sách của 3 vua cổ đại: Phục Hy, Thần Nông Hoàng Đế. Ngũ điển các sách của 5 vị: Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân, Nghiêu Thuấn. Vào thời cổ, người thông thạo cả tam phần ngũ điển thể xem uyên bác.

Giả sử như một vị quan khảo thí hết sức sáng suốt, chí công tư, không bệnh không già, không những việc tang chế trong nhà khiến phải tạm nghỉ việc, không thiên lệch cất nhắc học trò của riêng mình, không tham muốn tiêu pha tiền bạc, không phải theo ý muốn người khác hành xử, lại đảm trách từ việc thi cử nơi quận huyện cho đến tại kinh đô, từ quan viên lớn nhỏ cho đến tể tướng, đại thần, hết thảy đều giao cho vị ấy quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi chức. Nếu người muốn mua chuộc cầu cạnh, vị ấy cũng không nghe theo. như kẻ noi gương người như vậy, thể gọi sáng suốt chăng? Bằng cách nào thể noi gương người như vậy? Xin thưa, chỉ cần cung kính học làm theo như đức hạnh của Đế Quân, góp sức lưu hành những lời răn dạy quý báu của Đế Quân là được.


NGÀY SAU CHỨNG QUẢ

Đế Quân kể rằng: Ta học theo lời Phật dạy, tức thời chứng đắc pháp phân biệt, sống trên núi cao an ổn thanh tịnh, nghĩ thương nhân dân tật bệnh khổ não. Bấy giờ, đất Thục gặp nạn lụt lớn, dân chúng nhiều người phải trôi giạt ly tán, lại khổ vì dịch bệnh truyền nhiễm, cho đến ung nhọt, lao sái đủ các loại bệnh. Ta biến hóa thành thường dân, làm một người lái thuyền, cứu thoát cả ngàn người bị đuối nước; lại hóa làm thầy thuốc, đích thân chẩn bệnh cứu sống rất nhiều người. Tại pháp hội trên đỉnh Linh Thứu, đức Phật Thích-ca thọ cho ta rằng: “Ông ngày sau sẽ thành Phật, hiệu An Lạc Bất Động Địa, Du Hý Tam-muội Định Tuệ Vương Bồ Tát, Thích-ca Phạm Chứng Như Lai.1



Lời bàn

Trong bản văn dùng “Thứu phong Cổ Phật” (鷲峰古佛), đó chỉ đức Thích-ca Như Lai trên đỉnh Linh Thứu. Đức Thích-


1 Như biết rằng Đế Quân trong tương lai chắc chắn thành Phật, thì cũng biết rằng tất cả chúng ta tương lai

rồi sẽ thành Phật. (Chú giải của soạn giả)

ca vị Tôn Phật thứ 4 trong ngàn vị Phật của Hiền kiếp hiện tại, nhưng dùng chữ “Cổ Phật” ý nói ngài đã nhập Niết-bàn. Thánh hiệu An Lạc Bất Động hiệu của Đế Quân trong tương lai khi thành Phật, chỉ không biết còn phải trải qua bao nhiêu hằng sa số kiếp, cúng dường phụng sự bao nhiêu đức Phật, rồi mới chứng đắc được quả vị Phật ấy. Đâu phải nói rằng hiện nay đã đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trang nghiêm, ngồi dưới cội bồ- đề thành tựu Chánh giác được ngay? Xét vị trí của Đế Quân trong hiện tại còn dưới Ngọc Đế, chính như Ngọc Đế muốn hướng đến quả vị Bồ Tát đã rất xa xôi khó được, huống Đế Quân hướng đến quả Phật? Nếu như nói rằng Đế Quân hiện nay đã thành Chánh giác, ấy tưởng như muốn tôn trọng Đế Quân, hóa ra lại vu khống bịa đặt cho ngài.






Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương