Nghiên cứu thể LỰc nam thanh niên tỉnh tt huế tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự NĂM 2008



tải về 112.77 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu17.02.2019
Kích112.77 Kb.


NGHIÊN CỨU THỂ LỰC NAM THANH NIÊN TỈNH TT HUẾ THAM GIA KHÁM TUYỂN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ NĂM 2008
Đối với thể lực của con người, các chỉ tiêu nhân trắc có một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quần thể người nói chung hoặc của từng cá thể. Trong số các số đo nhân trắc, chiều cao đứng, độ tuổi và cân nặng là các chỉ tiêu cơ bản nói lên tầm vóc thể lực cũng như tình trạng dinh dưỡng chung. Chỉ số khối cơ thể (BMI: Body mass index) được tính từ cân nặng và chiều cao là một chỉ số rất cơ bản trong đánh giá tình trạng thể lực. Tuy nhiên, chỉ số khối cơ thể không thể đánh giá thể lực hay độ béo gầy một cách chính xác. Vì vậy hiện nay để nhận định một cách chính xác hơn người ta đánh giá thêm khối mỡ cơ thể hay tỷ lệ chất béo [1].

Khối mỡ cơ thể được quan tâm đến rất nhiều vì những nghiên cứu lâm sàng mới đây cho thấy sự gia tăng quá mức của khối mỡ có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái tháo đường thể không phụ thuộc insulin, tăng lipid máu, bệnh phổi tắc nghẽn…[4][5].

            Một trong những vấn đề khó khăn ở nước ta là vấn đề chẩn đoán chỉ số khối cơ thể (chỉ số béo) hay béo phì.  Chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ chất béo, phần trăm mỡ cơ thể có phải là chuẩn vàng (golden standard) hay không?. Trong nghiên cứu chúng tôi sẽ trình bày rõ thêm về vấn đề này.

Ở TT Huế việc đánh giá thể lực thanh niên tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự (NVQS) là vấn đề cần thiết, qua đó có thể tìm hiểu tỷ lệ chất béo cũng như ước tính chiều cao của nam thanh niên TT Huế nói riêng và ước tính chiều cao nam thanh niên người Việt nói chung là một mong ước của các nhà làm công tác y tế. Do vậy chúng tôi có nguyện vọng:



Nghiên cứu thể lực nam thanh niên tỉnh Thừa Thiên Huế

tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2008

Mục tiêu đề tài

- Xác định chỉ số khối cơ thể thanh niên tham gia khám tuyển NVQS.

- Tìm hiểu tỷ lệ chất béo thanh niên tham gia khám tuyển NVQS.

NGHIÊN CỨU THỂ LỰC NAM THANH NIÊN TỈNH TT HUẾ THAM GIA KHÁM TUYỂN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ NĂM 2008
Hoàng Thị Tâm - Nguyễn Quang Hiền và cộng sự
I. Mục đích: Đánh giá thể lực, chiều cao, tỷ lệ chất béo của nam thanh niên tỉnh TT Huế.

II. Phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nam thanh niên có độ tuổi 18 đến 26 tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Không có dị dạng về hình thái.

- Phương pháp nghiên cứu: Đánh giá các chỉ số.

- Chỉ số khối cơ thể (chỉ số béo): Bằng cân nặng chia bình phương chiều cao đứng: BMI = Cân nặng/(Chiều cao đứng)2.

- Tỷ lệ chất béo: Bằng phương trình Gallagher dựa vào 2 con số: độ tuổi và chỉ số BMI.  Theo phương trình này, tỷ lệ chất béo có thể ước tính như sau:

            Đối với đàn ông: TLCB = 51,6 – 735/BMI + 0,029*Age

(dấu “/” có nghĩa là “chia cho”, và dấu “*” có nghĩa là “nhân cho”.

Theo “tiêu chuẩn vàng”, Tỷ lệ chất béo trong đàn ông cao hơn 25%, thì người đó được chẩn đoán là “béo phì”. Trong khoảng 10% đến dưới 25% là bình thường. Dưới 10 % là thấp [4][11].



- Đo trọng lượng cơ thể, Đo chiều cao: Theo quy định nhân trắc học.

III. Kết quả: Trong số 2.018 thanh niên có

- Thanh niên TP Huế đông nhất 939 - Thanh niên Nam Đông ít nhất 117. Thanh niên Phú Vang: 790 – Thanh niên A Lưới: 172. Số lượng thanh niên khác nhau do phụ thuộc dân số của Huyện và Thành phố Huế.

- Các chỉ số trung bình về tuổi, chiều cao, trọng lượng, BMI, TLCB của thanh niên: Tuổi trung bình 20.3 ± 1.88, Chiều cao trung bình 164.6 ± 5.20, Trọng lượng trung bình 53.0 ± 6.30, BMI trung bình 19.7 ± 2.19, Tỷ lệ chất béo trung bình (%) 14.4 ± 3.80.

- Tình trạng thiếu, trung bình, quá cân ở 2.018 thanh niên: Thiếu cân 4.7%, Bình thường 93.9%, Quá cân 1.4%.



IV. Kết luận

1. BMI của 2.018 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi từ 18 đến 26)

- BMI trung bình là: 19.7 ± 2.19 - Tỷ lệ BMI dưới 18.5 (thiếu cân): 28.98%.

- Tỷ lệ BMI từ 18.5 đến dưới 25 (trung bình): 69.62% - Tỷ lệ BMI từ 25 đến 33 (quá cân): 1.4%.

2. Tỷ lệ chất béo (%) của 2.018 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi 18 đến 26)

- Tỷ lệ chất béo trung bình là 14.4 ± 3.80.

- Tỷ lệ chất béo dưới 10% (gầy): 4.7% - Tỷ lệ chất béo trên 25% (béo phì): 1.4%.

- Tỷ lệ chất béo trong khoảng 10% đến 25% (trung bình): 93.9%.



3. Chiều cao (cm) của 2.018 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi 18 đến 26)

Chiều cao trung bình là 164.6 ± 5.20.




ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với thể lực của con người, các chỉ tiêu nhân trắc có một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quần thể người nói chung hoặc của từng cá thể. Trong số các số đo nhân trắc, chiều cao đứng, độ tuổi và cân nặng là các chỉ tiêu cơ bản nói lên tầm vóc thể lực cũng như tình trạng dinh dưỡng chung. Chỉ số khối cơ thể (BMI: Body mass index) được tính từ cân nặng và chiều cao là một chỉ số rất cơ bản trong đánh giá tình trạng thể lực. Tuy nhiên, chỉ số khối cơ thể không thể đánh giá thể lực hay độ béo gầy một cách chính xác. Vì vậy hiện nay để nhận định một cách chính xác hơn người ta đánh giá thêm khối mỡ cơ thể hay tỷ lệ chất béo [1].

Khối mỡ cơ thể được quan tâm đến rất nhiều vì những nghiên cứu lâm sàng mới đây cho thấy sự gia tăng quá mức của khối mỡ có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái tháo đường thể không phụ thuộc insulin, tăng lipid máu, bệnh phổi tắc nghẽn…[4][5].

            Một trong những vấn đề khó khăn ở nước ta là vấn đề chẩn đoán chỉ số khối cơ thể (chỉ số béo) hay béo phì.  Chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ chất béo, phần trăm mỡ cơ thể có phải là chuẩn vàng (golden standard) hay không?. Trong nghiên cứu chúng tôi sẽ trình bày rõ thêm về vấn đề này.

Ở TT Huế việc đánh giá thể lực thanh niên tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự (NVQS) là vấn đề cần thiết, qua đó có thể tìm hiểu tỷ lệ chất béo cũng như ước tính chiều cao của nam thanh niên TT Huế nói riêng và ước tính chiều cao nam thanh niên người Việt nói chung là một mong ước của các nhà làm công tác y tế. Do vậy chúng tôi có nguyện vọng:



Nghiên cứu thể lực nam thanh niên tỉnh Thừa Thiên Huế

tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2008

Mục tiêu đề tài

- Xác định chỉ số khối cơ thể thanh niên tham gia khám tuyển NVQS.

- Tìm hiểu tỷ lệ chất béo thanh niên tham gia khám tuyển NVQS.
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
Trọng lượng cơ thể con người gồm 4 phần: chất nạc, chất béo, xương và các mô liên kết, và nước.  Các nhà khoa học đã thống nhất khuynh hướng chung là trọng lượng con người tăng theo tỉ số thuận với chiều cao: người càng cao càng có trọng lượng cao.

Qua nhiều nghiên cứu, như chiều cao và trọng lượng, các nhà nghiên cứu đi đến một công thức đơn giàn: lấy trọng lượng chia cho chiều cao bình phương và tỉ số này gọi là body mass index (BMI), hay chỉ số khối cơ thể hoặc chỉ số béo, qua đó người ta đánh giá thiếu cân, đủ cân hay quá cân. Đánh giá thể lực nói cách khác có thể dùng chỉ số khối cơ thể hay đánh giá độ béo gầy thông qua tỷ lệ chất béo [1][11][12].

           Béo phì là một tình trạng cơ thể có quá nhiều lượng béo có thể gây tác hại đến sức khỏe.  Bởi vì chất béo là một đặc điểm chính của béo phì cho nên cái chuẩn vàng để xác định ai là béo phì và ai không phải là béo phì phải dựa vào chỉ số đo lường chất béo trong cơ thể. 

            Có nhiều phương pháp đo lường (hay nói đúng là ước tính) lượng béo, nhưng phương pháp chuẩn là dùng máy X quang có tên là Dual-energy X-ray Absorptiometry (DXA).

Tỷ lệ chất béo (TLCB) trong người Âu Mĩ có thể biến đổi từ 15% đến 60%, và giá trị trung bình từ 20% đến 30%. TLCB dưới 10% được xem là “dưới trung bình”, hay “không lành mạnh”. Các nhà nghiên cứu đề ra tiêu chuẩn để chẩn đoán béo phì. Theo tiêu chuẩn này, bất cứ người đàn ông nào có TLCB cao hơn 25% được xem là “béo phì”.  Có thể nói đây là tiêu chuẩn vàng (golden criteria) để chẩn đoán béo phì vì giới y khoa thế giới nói chung đều nhất trí, không ai tranh cãi thêm về giá trị và sự hợp lí của nó. Dùng máy DXA thường rất đắt (Chụp cắt lớp chất béo của cơ thể). Vấn đề đặt ra là tìm cách dùng các chỉ số nhân trắc như chỉ số khối cơ thể để ước tính TLCB mà không cần đến máy DXA.

Theo phân loại này, bất cứ một người Âu Mĩ nào, nam hay nữ, có chỉ số BMI cao hơn 30 kg/m2 sẽ được xem là “béo phì”, chỉ số BMI dưới 18.5 sẽ được xem là “thiếu cân” [4][8].

            Hiện nay BMI được dùng khá rộng rãi, nhưng BMI không thể là một chỉ số vàng để chẩn đoán béo phì, vì nó không phản ảnh chính xác tình trạng béo phì.  Hai người A và B có thể có cùng BMI, nhưng tỉ lệ chất béo hoàn toàn khác nhau, vì có thể A có nhiều chất nạc, trong khi đó B có nhiều chất béo, và BMI không phân biệt nạc hay béo [7][8][9] [11].

Hình 1: Đánh giá béo phì dựa vào BMI và tỷ lệ chất béo



            Do vậy, để đánh giá thể lực, thiếu cân, quá cân hay béo phì các nhà nghiên cứu đã phát triển một phương trình đánh giá TLCB khá chính xác do Gallagher chỉ dựa vào 2 con số: độ tuổi và chỉ số BMI. Theo phương trình này, TLCB cho người Á châu có thể ước tính như sau:

            Đối với đàn ông: TLCB = 51,6 – 735/BMI + 0,029*Age

      (dấu “/” có nghĩa là “chia cho”, và dấu “*” có nghĩa là “nhân cho”.[15].

Liên quan đến thể lực là chiều cao, có nhiều công trình nghiên cứu chiều cao của thế giới và Việt Nam. Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng chiều cao của con người phụ thuộc vào các yếu tố di truyền và phụ thuộc các điều kiện môi trường, nhất là dinh dưỡng và vệ sinh

Năm 1975, Bộ Y tế xuất bản cuốn "Hằng số sinh học của người Việt Nam" cho thấy chiều cao trung bình ở nam là 160 cm. Năm 1985, Viện Dinh dưỡng điều tra trên phạm vi cả nước cho thấy kết quả chiều cao trung bình của nam là 159,8 cm.

Năm 2003, Bộ Y tế xuất bản cuốn "Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX" cho biết kích thước trung bình ở nam trưởng hành (20- 24 tuổi) là 163,7 cm và ở nữ trưởng thành là 153 cm.

Ở Thừa Thiên Huế, hằng năm các huyện và thành phố đều tổ chức khám tuyển NVQS, lựa chọn những thanh niên đủ thể lực, không có bệnh tật, đủ các tiêu chuẩn để tuyển quân làm nhiệm vụ bảo vệ quê hương đất nước. Do vậy việc khám tuyển hết sức chi tiết và đầy đủ, đặt biệt là các chỉ số đo nhân trắc và ngày tháng năm sinh hết sức quan trọng theo thông tư hướng dẫn liên bộ Quốc Phòng và Y Tế [6].

Qua đề tài này, chúng tôi đánh giá chiều cao nam thanh niên tỉnh TT Huế, nhưng không có dữ liệu để đánh giá nữ thanh niên TT Huế, đây là một khiếm khuyết nên khó so sánh giới cũng như so sánh toàn quốc nam nữ thanh niên nói chung.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành thông qua hồi cứu các số liệu từ khám tuyển NVQS ở 9 Trung Tâm Y Tế huyện thuộc tỉnh TT Huế. Thời gian từ năm 2009.



1. Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn chọn đối tượng

- Các nam thanh niên đều trong tình trạng có sức khỏe, không có các dị dạng về hình thái, được chọn ngẫu nhiên từ các huyện và thành phố Huế thuộc tỉnh TT Huế.

- Độ tuổi từ 18 đến 26.

- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho một chỉ số trung bình: 720 người.



- Tiêu chuẩn loại đối tượng

Nam thanh niên không thường trú tỉnh TT Huế. Không mắc các bệnh dị dạng về hình thái



2. Phương pháp nghiên cứu. Đánh giá các chỉ số

- Chỉ số khối cơ thể (chỉ số béo): Bằng cân nặng chia bình phương chiều cao đứng: BMI = Cân nặng/(Chiều cao đứng)2.

- Tỷ lệ chất béo: Bằng phương trình Gallagher dựa vào 2 con số: độ tuổi và chỉ số BMI.  Theo phương trình này, tỷ lệ chất béo có thể ước tính như sau:

            Đối với đàn ông: TLCB = 51,6 – 735/BMI + 0,029*Age

(dấu “/” có nghĩa là “chia cho”, và dấu “*” có nghĩa là “nhân cho”.

Theo “tiêu chuẩn vàng”, Tỷ lệ chất béo trong đàn ông cao hơn 25%, thì người đó được chẩn đoán là “béo phì”. Trong khoảng 10% đến dưới 25% là bình thường. Dưới 10 % là thấp [4][11].



- Đo trọng lượng cơ thể, Đo chiều cao: Theo quy định nhân trắc học.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Số lượng thanh niên tham gia nghiên cứu giữa các địa bàn

Bảng 1. Số lượng thanh niên tham gia nghiên cứu phân theo địa bàn




TP Huế

Phú Vang

Nam Đông

A Lưới

Tổng cộng

939

790

117

172

2.018

- Thanh niên TP Huế đông nhất 939. - Thanh niên Nam Đông ít nhất 117.

- Số lượng thanh niên khác nhau do phụ thuộc dân số.

2. So sánh trung bình Độ tuổi, Chiều cao, Trọng lượng, BMI, TLCB của thanh niên tham gia nghiên cứu phân theo địa bàn

Bảng 2. So sánh trung bình các chỉ số của đối tượng nghiên cứu phân theo địa bàn




Địa bàn

Tuổi

Chiều cao

Trọng lượng

BMI

TLCB (%)

Thành phố Huế

20.0 ± 2.04

165.5 ± 4.90

53.4 ± 6.20

19.5 ± 2.08

14.1 ± 3.82

Phú Vang

20.7 ± 1.64

164.2 ± 5.42

53.1 ± 6.88

19.7 ± 2.44

14.4 ± 3.95

Nam Đông

20.0 ± 1.40

163.6 ± 5.00

54.0 ± 4.80

20.0 ± 1.70

15.7 ± 3.20

A Lưới

20.6 ± 1.95

162.6 ± 4.10

54.0 ± 4.60

20.0 ± 1.60

15.8 ± 2.67

Tổng 4 đơn vị

20.3 ± 1.88

164.6 ± 5.20

53.0 ± 6.30

19.7 ± 2.19

14.4 ± 3.80

- Độ tuổi Phú Vang lớn nhất 20.7 tuổi - Độ tuổi A Lưới là 20.6.

- Độ tuổi TP Huế và Nam Đông như nhau và thấp nhất 20.0.

- Chiều cao trung bình TP Huế là 166cm - Chiều cao A Lưới trung bình là 163cm.

- Chiều cao Phú Vang và Nam Đông như nhau 164cm.

- Trọng lượng trung bình của Nam Đông, A Lưới là 54kg.

- Trọng lượng trung bình của TP Huế và nam Đông là gần tương đương nhau.

- BMI trung bình của A Lưới và Nam Đông là 20kg/m2.

- BMI trung bình của TP Huế và Nam là 19.5kg/m2 và 19.7kg/m2.

- TLCB trung bình của A Lưới là 15.8%, của Nam Đông là 15.7%.

- TLCB trung bình của Phú Vàn là 14.4%, của TP Huế là 14.1%.

3. Tình trạng thiếu cân, bình thường, quá cân ở 2.018 thanh niên

Bảng 3. Đánh giá tình trạng thiếu, trung bình, quá cân ở 2.018 thanh niên




Đối tượng

Thiếu cân

Bình thường

Quá cân

2.018

94

1895

29

100%

4.7%

93.9%

1.4%

- Thiếu cân (gầy) 28.98%.

- Quá cân (béo) 1.4%.


BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi “Đánh giá thể lực nam thanh niên TT Huế tham gia khám tuyển NVQS năm 2008”, nghĩa là đánh giá các chỉ số BMI, Tỷ lệ chất béo và chiều cao

1. Chỉ số khối cơ thể nam thanh niên tỉnh TT Huế khám tuyển NVQS năm 2008

Toàn tỉnh có 2.018 thanh niên tham gia nghiên cứu.

- Theo nghiên cứu của chúng tôi, BMI trung bình của 2.018 nam thanh niên là: 19.7 ± 2.19. So sánh với chỉ số BMI bình thường của người Châu Á [16] là 18.5 – 24. Như vậy BMI của thanh niên TT Huế trong khoảng bình thường. Trong đó thanh niên của các Huyện và thành phố trong khoảng giới hạn bình thường. Không thiếu cân hay quá cân.

- Theo nghiên cứu của Nguyễn Trường An trong số 2.050 nam thanh niên tỉnh TT Huế năm 2008 có độ tuổi từ 18 đến 24. BMI dao động từ 19.2 đến 19.6 [2]. So sánh nghiên cứu của chúng tôi có kết quả gần tương đương. Kết quả của chúng tôi cao 19.7. Tỷ lệ nam thanh niên toàn quốc độ tuổi 15 đến 24 là 19.3% [2], không khác với nghiên cứu của chúng tôi.

- Có 29 thanh niên có BMI từ 25 đến 33 (quá cân hoặc béo phì). Tỷ lệ quá cân là 29/2.018 là 1.4%.

- Có 279 thanh niên (độ tuổi 20 trở lên) có BMI dưới 18.5. Tỷ lệ thiếu cân là 279/1170 là 23.8%. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trường An năm 2008 ở 2.643 nam thanh niên độ tuổi 18 đến 24 ở TT Huế có tỷ lệ thiếu cân là: 260/1097 là 23.7% [2]. Kết quả thiếu cân của toàn quốc ở 1097 nam thanh niên là 23.7%. Không khác so nghiên cứu chúng tôi.



2. Tỷ lệ chất béo nam thanh niên tỉnh TT Huế tham gia khám tuyên NVQS năm 2008

Theo nghiên cứu của chúng tôi, Tỷ lệ chất béo trung bình của 2.018 nam thanh niên độ tuổi 18 đến 26 tham gia khám tuyển NVQS là 14.4 ± 3.80. So sánh với “tiêu chuẩn vàng” về Tỷ lệ chất béo bình thường trong khoảng 10% đến dưới 25% [11]. Như vậy Tỷ lệ chất béo của nam thanh niên theo nghiên cứu của chúng tôi trong khoảng bình thường. Trong đó Tỷ lệ chất béo của các Huyện và Thành phố dao động trong khoảng trên 14% và dưới 16%, như vậy khá lý tưởng về Tỷ lệ chất béo của nam thanh niên tỉnh TT Huế.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Trường An năm 2008 về khối mỡ cơ thể ở 292 thanh niên ở độ tuổi 19 đến 25 của tỉnh TT Huế có khối mỡ cơ thể là 11.04% [1]. Nghiên cứu của chúng tôi Tỷ lệ chất béo cao hơn 14.4%.

Trong nghiên cứu 2.018 nam thanh niên có 29 thanh niên có Tỷ lệ chất béo dưới 10% là 4.7% (94/2.018). Tỷ lệ chất béo trên 25% là 1.4% (29/2.018). Tỷ lệ chất béo trong khoảng 10% đến 25% là 93.9% (1895/2.018). Với kết quả này thanh niên có tỷ lệ chất béo thấp và cao không đáng kể. Trong khi đại đa số nam thanh niên có Tỷ lệ chất béo trong diện bình thường Theo nghiên cứu của chúng tôi khi so sánh Tỷ lệ chất béo ở Thành phố Huế, Phú Vang, Nam Đông, A Lưới chúng tôi nhận thấy. Tỷ lệ chất béo ở nam thanh niên ở Nam Đông, A Lưới (Đa số nam thanh niên là vùng dân tộc thiểu số, thuộc vùng xa, vùng có kinh tế kém phát triển) nhưng Tỷ lệ chất béo là 15.7 đến 15.8 trong khi đó, TP Huế và Phú Vang (Vùng thành phố, đồng bằng), Tỷ lệ chất béo là 14.1 đến 14.4. Rõ ràng có sự khác biệt có thể do thanh niên TP Huế, Phú Vang cao hơn Nam Đông, A Lưới dẫn đến Tỷ lệ chất béo thấp hơn trong khi trọng lượng không thay đổi.



3. Chiều cao nam thanh niên (cm) tỉnh TT Huế tham gia khám tuyên NVQS năm 2008

Theo nghiên cứu của chúng tôi, Chiều cao trung bình của 2.018 nam thanh niên độ tuổi 18 đến 26 tham gia khám tuyển NVQS là 164.6 ± 5.20. Theo nghiên cứu của Nguyễn Trường An năm 2008 ở 2050 thanh niên tỉnh TT Huế có độ tuổi từ 18 đến 24 thì chiều cao trung bình là 162.5cm [2]. Trong khi chiều cao của toàn quốc nam thanh niên có chiều cao là 163.7cm [2]. Như vậy chiều cao của nam thanh nhiên có độ tuổi từ 19 đến 25 có chiều cao khá lý tưởng trong giai đoạn hiện nay là 164.6cm.

Trong nghiên cứu năm 2003 của Thuy VT, et al và Nguyễn Văn Tuân ở 700 đàn ông Việt Nam có chiều cao trung bình là 164.3cm, chiều cao người Nhật là 164.5cm [12][21]. Năm 2001, Woo J, et al nghiên cứu chiều cao của đàn ông Trung Quốc là 164cm [12][22], Năm 2005 Pongchaiyakul C et al nghiên cứu chiều cao đàn ông Thái Lan là 165cm [12] [19].
Bảng 4. So sánh chiều cao giữa các nước và nghiên cứu của chúng tôi


Huế (08)

Việt Nam (03)

Nhật (03)

Trung Quốc (01)

Thái Lan (05)

164.6cm

164.3cm

164.5cm

164cm

165cm

- Chiều cao trung bình của nam thanh niên TT Huế là 164.6cm.

- Chiều cao của các nước Nhật, Trung Quốc, Thái Lan lần lượt là 164.5cm, 164cm, 165cm. Tuy nhiên chiều cao khi thực hiện nghiên cứu có khác nhau về thời gian năm.

- Chiều cao của nam thanh niên TT Huế và toàn quốc không các với các nước trong khu vực đáng kể.

Biều đồ 1. So sánh chiều cao giữa các nước và nghiên cứu của chúng tôi

Như vậy nam thanh niên tỉnh TT Huế có chiều cao không thua kém Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản. Năm 2003 chiều cao người Việt Nam là 164.3cm, năm 2008 chiều cao nam thanh niên TT Huế 164.4cm. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là thời gian cách nhau trong khoảng 5-8 năm.

Tuy nhiên trong nghiên cứu Tỷ lệ chất béo ở trên, chúng tôi nhận thấy Tỷ lệ chất béo thanh niên Nam Đông, A Lưới cao hơn TP Huế, Phú Vang. Ngược lại khi nghiên cứu chiều cao chúng tôi thấy thanh niên TP Huế có chiều cao 165.5cm, Phú Vang 164.2cm hơn chiều cao Nam Đông 163.6cm và A Lưới 162.6cm.

Theo nghiên cứu của chúng tôi khi tính chiều cao 1.170 nam thanh niên tỉnh TT Huế có độ tuổi từ 20 đến 26, có kết quả chiều cao trung bình là 164.4cm. Độ tuổi 18 đến 19 ở 848 nam thanh niên có chiều cao trung bình là 164.9cm. Nhìn chung độ tuổi nhỏ hơn vẫn có thể có chiều cao lớn hơn dù ít. Do đó khi nghiên cứu chiều cao trung bình của nam thanh niên chúng tôi có thể lấy độ tuổi từ 18 đến 26 để so sánh toàn quốc, với các nước bạn.

Bảng 5. Chiều cao giữa hai nhóm tuổi 18 đến 19 và 20 đến 26


Nhóm tuổi

Số đối tượng

Chiều cao (cm)

18 - 19

848

164.9

20 - 26

1.170

164.4

- Chiều cao của nhóm tuổi 18 đến 19 là 164.9cm.

- Chiều cao của nhóm 20 đến 26 tuổi là 164.4cm.

Qua các tư liệu, trước đây người Việt Nam vóc người thấp nhỏ (cao từ 1m 57 đến 1m 59), mặt xương, mắt đen, dáng đi nhẹ nhàng và chắc chắn (Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược 1921, Đào Duy Anh - Việt nam văn hoá sử cương 1938). Các nghiên cứu trước năm 1975 như của Mondière (1875); Huard (1938); Đỗ Xuân Hợp (1943); Nguyễn Lân Giác (1965) đều cho thấy chiều cao trung bình ở nam trưởng thành là 160 cm (160-161 cm).

Tuy nhiên, qua nghiên cứu của chúng tôi vẫn có khiếm khuyết là không thực hiện ngẫu nhiên ở các thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 26 rải rác ở các địa bàn tỉnh TT Huế, mà tập trung vào đối tượng tham gia khám tuyển NVQS (mặc dù ở các phường xã đã có sơ tuyển 20 tiêu chuẩn bằng mắt để loại trừ các bệnh liên quan đến hình dáng cơ thể như gù vẹo cột sống, khiếm khuyết các bộ tay chân mắt...). Do vậy nghiên cứu này có thể góp phần hoặc tham khảo trong đánh giá nam thanh niên tỉnh TT Huế.

Tuy vậy, theo chúng tôi, nghiên cứu này vẫn có thể có giá trị trong việc tham mưu cho Ngành Y Tế TT Huế, tham mưu cho lãnh đạo các cấp trong việc đánh giá thể lực nam thanh niên TT Huế năm 2008 là có thể lực đáng khích lệ.


KẾT LUẬN

1. Chỉ số khối cơ thể của 2.018 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi từ 18 đến 26) tham gia khám tuyển NVQS năm 2008

- BMI trung bình là: 19.7 ± 2.19.

- Tỷ lệ BMI từ 18.5 đến dưới 25 (trung bình): 69.62%

- Tỷ lệ BMI từ 25 đến 33 (quá cân): 1.4%.

- Tỷ lệ BMI dưới 18.5 (thiếu cân): 28.98%.

Chỉ số khối cơ thể (BMI: kg/cm2) của 1.170 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi từ 20 đến 26) tham gia khám tuyển NVQS năm 2008

- BMI trung bình là: 19.9 ± 2.12.

- BMI từ 18.5 đến dưới 25 (trung bình): 73.76%.

- BMI dưới 18.5 (thiếu cân): 23.84%.

- BMI từ 25 đến 33 (quá cân): 28/1170 = 2.4%.

2. Tỷ lệ chất béo (%) của 2.018 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi 18 đến 26) tham gia khám tuyên NVQS năm 2008

- Tỷ lệ chất béo trung bình là 14.4 ± 3.80.

- Tỷ lệ chất béo dưới 10% (gầy): 4.7%.

- Tỷ lệ chất béo trên 25% (béo phì): 1.4%.

- Tỷ lệ chất béo trong khoảng 10% đến 25% (trung bình): 93.9%.

3. Chiều cao (cm) của 2.018 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi 18 đến 26) tham gia khám tuyên NVQS năm 2008

Chiều cao trung bình là 164.6 ± 5.20.



Chiều cao (cm) của 1170 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi 20 đến 26) tham gia khám tuyên NVQS năm 2008

Chiều cao trung bình là 164.4 ± 5.10.



Chiều cao (cm) của 848 nam thanh niên tỉnh TT Huế (độ tuổi 18 đến 19) tham gia khám tuyên NVQS năm 2008

Chiều cao trung bình là 164.9 ± 5.31.


KIẾN NGHỊ

- Tỷ lệ BMI dưới 18.5kg/cm2 của nam thanh niên tỉnh TT Huế còn khá cao 28.98%. Có thể nói nam thanh niên suy dinh dưỡng 28.98%. Điều này liên quan đến việc làm và thấp nghiệp.

- Hiện nay, chiều cao của nam thanh niên tham gia khám tuyển NVQS tại tỉnh TT Huế đáng khích lệ. Trong tương lai, chiều cao của thanh niên có thể tăng thêm hay không liên quan đến kế hoạch lâu dài trong việc phòng suy dinh dưỡng trẻ em hiện nay. Như vậy, có nên chăng lãnh đạo các cấp cần tăng cường hơn nữa trong việc phòng chống suy dinh ở trẻ em. Tuy rằng, chúng ta không kỳ vọng, chiều cao người Việt Nam nói chung đạt chiều cao gần bằng chiều cao của người Tây Phương do cấu trúc di truyền của chúng ta khác họ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Trường An (2008), Nghiên cứu khối mỡ cơ thể thanh niên 19-25 tuổi, Trường Đại Học Y Dược Huế, http://www.huemed-univ.edu.vn.

2. Nguyễn Trường An (2008), Chiều cao đứng, cân nặng và chỉ số khối cơ thể của thanh thiếu niên 15 đến 24 tuổi ở Thừa Thiên Huế, Trường Đại Học Y Dược Huế, http://www.huemed-univ.edu.vn, 20/08/2008.

3. Nguyễn Trường An (2008), Đánh giá chỉ số khối cơ thể và sự phân bố mỡ cơ thể trên bệnh nhân sỏi túi mật, Trường ĐH Y Dược Huế, http://www.huemed-univ.edu.vn.

4. Lê Văn Bàng (2003), Béo phì và tăng huyết áp, Thông tin nội khoa, Bệnh viện trường Đại học y khoa Huế, tr. 6.

5. Lê Văn Bàng (2005), Tình hình béo phì ở đối tượng trên 15 tuổi tại Thành phố Huế Việt nam, Hội nghị nội tiết và đái tháo đường quốc gia lần 3 tại Huế, tháng 4, 2005, tr. 367-373.

6. Bộ Y Tế - Bộ Quốc Phòng (2006), Thông tư liên tịch số 14/2006/TTLT-BYT-BQP, hướng dẫn việc khám sức khỏe thực hiện NVQS, ngày 20/11/2006.

7. Nguyễn Quang Hiền (2005), Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể ở bệnh mạch vành bằng phương pháp đo trở kháng điện sinh học, Luận án tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa II tim mạch năm 2005 trường Đại học y khoa Huế.

8. Nguyễn Quang Hiền, Huỳnh Văn Minh (2005), Phối hợp công thức Gallagher và phương pháp trở kháng sinh học để đánh giá các chỉ số mỡ ở bệnh nhân mạch vành, Kỷ yếu hội nghị khoa học y dược tỉnh Kon Tum lần thứ II, 2005.

9. Nguyễn Qung Hiền (2007), Nghiên cứu sự tương quan giữa chỉ số khối cơ thể và tỷ lệ chất béo ở học sinh cấp 2 thuộc địa bàn thành phố Huế, Tạp chí y học thực hành tim mạch toàn quốc.

10. Hà Huy Khôi (2008), Tầm vóc của người Việt Nam đang được cải thiện, http://viendinhduong.vnn.vn.

11. Nguyễn Văn Tuấn (2007), Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì cho người Việt, http://ykhoanet.com, Bình luận y khoa.

12. Nguyễn Văn Tuấn (2007), chiều cao của người Việt, http://ykhoanet.com, Bình luận y khoa.

13. Nguyễn Văn Tuấn (2006), Thiết kế nghiên cứu, Phân tích số liệu và biểu đồ bằng R, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.

14. Chang CJ, Wu CH, Yao WJ, Yang YC, Wu JS, Lu FH (2003).  Low body mass index but high percent body fat in Taiwanese subjects: implications of obesity cutoffs.  International Journal of Obesity and Related Metabolic Disorders 2003; 27:253-9.

15. Gallagher D, Heymsfield SB, Heo M, Jebb SA, Murgatroyd PR, Sakamoto Y (2000).  Healthy percentage body ranges: an approach for developing guidelines based on body mass index.  American Journal of Clinical Nutrition 2000; 72:694-791.

16. Health Check systems (1999), Body Fat Percentage,

http://www.runnersweb.com/running/bodyfat.html, 1/21/1999.

17. Hitoshi Kobayashi, MD; Tadashi Nakamura, MD (2001); Visceral fat Accumulation Contributes to Insulin resistance, small sized low density lipoprotein, and progression of coronary artery disease in middle aged non obese Japanese men, Japanese Circulation Jounal, 2001.

18. Omron healthcare (2003) , Health Management by Checking the Body Fat, Co. LTD. Japan.

19. Pongchaiyakul C et al (2005). Contribution of lean tissue mass to the urban-rural difference in bone mineral density. Osteoporos Int. 2005;16:1761-8.

20. Thuy VT, Chau TT, Cong ND, De DV, Nguyen TV. Assessment of low bone mass in Vietnamese: comparison of QUS calcaneal ultrasonometer and data-derived T-scores. Journal of Bone and Mineral Metabolism 2003; 21: 114-9.

21. Thuy VT, et al (2003). Assessment of low bone mass in Vietnamese: comparison of QUS calcaneal ultrasonometer and data-derived T-scores. J Bone Miner Metab 2003;21(2):114-9.

22. Woo J, et al. Population bone mineral density measurements for Chinese women and men in Hong Kong. Osteoporos Int 2001; 12:289-295.






Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương