ĐƠn kêu cứU (Bổ sung Ms phản ánh: 20251 )



tải về 39.79 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu19.01.2019
Kích39.79 Kb.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc

Phan Thiết; ngày 03 tháng 10 năm 2017
ĐƠN KÊU CỨU

(Bổ sung Ms phản ánh: 20251 )

Tỉnh Bình Thuận: Ông Đỗ Xuân Cẩm “Vì nước quên thân vì dân quên mình” để rồi 38 năm (1979 – 2017) kể từ ngày bị thương và 34 năm kể từ Gíam định thương tật (1983 – 2017) vẫn chưa được xác nhận là thương binh Rất cần câu trả lời tử Bộ Quốc phòng.



Kính gửi: Văn phòng Chính phủ
Họ và tên: Nguyễn Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: KI, Lên Văn Hưu, Phú Thủy, Phan Thiết, Bình Thuận.



ĐT: 0908180646, email: vinhphuc1953@gmail.com.

Đứng tên kêu cứu cho ông Đỗ Xuân Cẩm ở xã Thuận Hòa, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận có quá trình công tác như sau: Nhập ngũ 25/08/1978 thuộc đơn vị C17, E 157, F 339, Quân khu 9; trong thời gian ở Quân đội Ông được sang giúp bạn CămPuChia và đã bị thương trong khi làm nhiệm vụ tại Núi Đất, tỉnh Tà Keo CămPuChia với các vết thương thực thể: Miếng pháo trên đầu bên trái, Miếng pháo vai bên trái, Miếng pháo mong bên trái và đùi trái, Miếng pháo trước bụng và được điều trị tại Đội điều trị 6 Tiền phương, sau đó vết thương của Ông bị tái phát, được điều trị tại Bệnh viện 121 Quân khu 9 từ 08/06 đến ngày 01/07/1983.


Và được Hội đồng Y khoa Bệnh viện 121 giám định thương tật tại biên bản giám định số 1207/TT-MS, ngày 05/08/1983 với tỷ lệ 53%; nhưng chưa được công nhận là thương binh.

Tháng 10/1984 Ông được đơn vị giải quyết phục viên và cũng là lúc cha bị bệnh nặng, nên Ông phải về quê để thăm cha vì vậy không kịp giải quyết chế độ thương binh, khi về quê hoàn cảnh gia đình khó khăn Ông không thể vào đơn vị để liên hệ việc xác nhận và hưởng chế độ thương binh.

Sau đó. Ông đã nhiều lần gửi hồ sơ gửi tới Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Thuận để được công nhận là thương binh nhưng vẫn chưa được giải quyết; khi mà hồ sơ của Ông đều đảm bảo theo qui định của pháp luật. Trong khi đó. Chỉ vì Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bính Thuận – Quân khu 7 – Bệnh viện 121 – Quân khu 9 không quan tâm đến quân nhân Đỗ Xuân Cẩm “Vì nước quên thân vì dân quên mình” để rồi 38 năm (1979 – 2017) kể từ ngày bị thương và 34 năm kể từ Gíam định thương tật (1983 – 2017) vẫn chưa được xác nhận là thương binh. Theo đó.

Lần thứ nhất vào năm 2010. Ông Đỗ Xuân Cảm làm hồ sơ để được giải quyết chế độ thương binh. Bởi vì.

Căn cứ vào Mục II - Công văn số 118/HD-CS, ngày 26/03/2008 của Cục Chính sách – Tổng Cục Chính trị hướng dẫn một số nội dung xác nhận liệt sĩ, thương binh đối với quân nhân, CNVQP hy sinh, bị thương trước ngày 01/10/2005 (Phần thuộc quân đội giải quyết) qui định.

II. XÁC NHẬN THƯƠNG BINH, NGƯỜI HƯỞNG CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH

1. Đối tượng, điều kiện áp dụng

1.1. Quân nhân, CNVCQP bị thương trước ngày 01 tháng 10 năm 2005 thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định số 54/2006/NĐ-CP chưa được xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh (gọi tắt là thương binh).

1.2. Điều kiện lập hồ sơ xác nhận thương binh thực hiện như quy định tại điểm 2, Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH, cụ thể: Quân nhân, CNVCQP bị thương có vết thương được ghi nhận trong các giấy tờ gốc như: Lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, lý lịch quân nhân được lập trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; phiếu chuyển thương, chuyển viện lúc bị thương; bệnh án điều trị khi bị thương; giấy ra viện khi bị thương; giấy chứng nhận bị thương.

2. Hồ sơ

2.1. Bản khai cá nhân của đối tượng kèm theo giấy tờ gốc nêu tại tiết 1.2 điểm 1, Mục II (mẫu số 5-TB7, đính kèm theo hướng dẫn này);

Đối tượng đã chuyển ra ngoài quân đội kèm theo một trong các giấy tờ như: Quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc, chuyển ngành, hưu trí (bản sao). Đối tượng đang công tác trong quân đội kèm theo lý lịch cán bộ, lý lịch quân nhân hoặc lý lịch đảng viên (bản sao) để đối chiếu quá trình công tác.

2.2. Biên bản đề nghị xác nhận thương binh của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với đối tượng đã chuyển ra ngoài quân đội; của cấp Trung đoàn và tương đương trở lên đối với đối tượng đang tại ngũ (mẫu số 5-TB8, đính kèm theo hướng dẫn này).

2.3. Giấy chứng nhận bị thương do Bộ CHQS tỉnh, thành phố ký đối với đối tượng đã chuyển ra ngoài quân đội; cấp Sư đoàn và tương đương trở lên ký đối với đối tượng đang công tác (mẫu số 5-TB1, đính kèm theo Thông tư số 166/2006/TT-BQP).

2.4. Biên bản giám định thương tật của Hội đồng giám định y khoa cấp có thẩm quyền (mẫu số 5-TB2a, đính kèm theo Thông tư số 166/2006/TT-BQP).

2.5. Quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp thương tật của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu hoặc Cục trưởng Cục Chính sách ký (mẫu số 5 – TB3c, đính kèm theo Thông tư số 166/2006/TT-BQP).

2.6. Phiếu trợ cấp thương tật (mẫu số 5 – TB4a, đính kèm theo Thông tư số 166/2006/TT-BQP).

Hồ sơ được lập thành 4 bộ: Đơn vị cấp giấy chứng nhận bị thương, Hội đồng giám định y khoa, đơn vị ký Giấy chứng nhận thương binh mỗi nơi lưu 1 bộ, bàn giao cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố 1 bộ.

Thế nhưng. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Thuận và Quân khu 7 “Vô hiệu hóa” Công văn số 118/HD-CS, ngày 26/03/2008 của Cục Chính sách – Tổng Cục Chính trị; theo đó, yêu cầu Bệnh viện 121/QK 9 cung cấp biên bản Gíam định thương tật (Hồ sơ đã có biên bản Gíam định).

từ đó tới nay là 07 năm (2010 – 2017) không được Bệnh viện 121/QK 9 trả lời, còn Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Thuận và Quân khu 7 bất lực và chờ đợi từ đó cho tới nay để rồi không công nhận thương binh cho Ông theo qui định.

Lần thứ hai vào năm 2017. Ông Đỗ Xuân Cảm lại tiếp tục làm hồ sơ để được giải quyết chế độ thương binh. Bởi vì.

Căn cứ qui định tại Điều 27. Điều 28. Điều 29. Nghị định Số: 31/2013/NĐ-CP, ngày 09 tháng 04 năm 2013 của Chính phủ về việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng qui định.



Điều 29. Hồ sơ hưởng chế độ thương binh

1. Giấy chứng nhận bị thương.

2. Biên bản giám định thương tật của Hội đồng giám định y khoa.

3. Quyết định cấp Giấy chứng nhận thương binh, Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh và trợ cấp, phụ cấp thương tật.

Có nghĩa Ông Đỗ Xuân Cẩm đã được cấp Giấy chứng nhận bị thương (1) và Biên bản giám định thương tật của Hội đồng giám định y khoa (2).

Cơ quan nhà nước có trách nhiệm: Quyết định cấp Giấy chứng nhận thương binh, Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh và trợ cấp, phụ cấp thương tật (3).

Trong khi đó. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Thuận lại thực hiện qui định tại Điều 14. Thủ tục cấp lại hồ sơ và giải quyết truy lĩnh trợ cấp thương tật đối với thương binh bị ngừng hưởng do khách quan hoặc bị thất lạc hồ sơ tại Thông tư Số: 202/2013/TT-BQP, ngày 07/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục xác nhận; tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng thuộc trách nhiệm của Bộ Quốc phòng như sau:



a) Thương binh được xác nhận từ ngày 30/4/1975 trở về trước, gửi sổ thương binh ở miền Bắc trước khi đi chiến đấu ở chiến trường B, C, K;

b) Thương binh đã được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng trong Quân đội, nhưng khi chuyển ra ngoài Quân đội, bị thất lạc hồ sơ;

c) Thương binh đã được giám định thương tật và đã có quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp thương tật hoặc đã có sổ thương binh hoặc giấy chứng nhận thương binh nhưng khi chuyển về địa phương bị thất lạc;

d) Trường hợp đã được giám định, đủ tỷ lệ xếp hạng thương tật, nhưng khi đối tượng chuyển ra ngoài Quân đội, đơn vị chưa ra quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp thương tật, sổ thương binh hoặc giấy chứng nhận thương binh.

Để rồi tiếp tục đề nghị Cục Chính trị/Quân khu 9 cung cấp biên bản giám định thương tật từ năm 1983 (Hồ sơ đã có Biên bản).

Nhiều lần Tôi trực tiếp vào Cục Chính trị/Quân khu 9 (Cán bộ có số ĐT: 0939540990) trả lời việc xác nhận trên do bệnh vện 121 còn Quân khu 9 chỉ cấp cho đối tượng đã được công nhận và được hưởng chế độ thương binh rồi và chưa chụi trả lời bằng văn bản cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Thuận (Văn bản ban hành của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Thuận ban hành từ ngày 02/08/2017).

Nói tóm lại: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Thuận, bệnh viện 121, Quân khu 7, Quân khu 9 chỉ một việc rất đơn giản là nhận đơn, kiểm tra xem xét nếu thấy đủ điều kiện là cấp ngay chế độ cho họ. Nhưng không làm. Trong khi đó các đơn vị đùn đẩy cho nhau và thật sự vô trách nhiệm, không suy nghĩ và đặt mình vào người khác để giải quyết (hoặc trả lời cho công dân).
Kính đề nghị Văn phòng Chính phủ xem xét và chỉ đạo Bộ quốc phòng yêu cầu bệnh viện 121, Quân khu 7, Quân khu 9 và Bộ chỉ huy quân sự Bình Thuận cần quan tâm đến Quân nhân Đỗ Xuân Cẩm “Vì nước quên thân vì dân quên mình” để rồi sau 38 năm (1979 – 2017) kể từ ngày bị thương và sau 34 năm kể từ Gíam định thương tật (1983 – 2017) vẫn chưa được xác nhận là thương binh - Rất cần câu trả lời tử Bộ Quốc phòng.

Trân trọng cảm ơn./.

Kèm theo:

1. Giấy chứng nhận bị thương, giấy ra viện, Biên bản giám định y khoa, đơn xin giải quyết chế độ của Ông Cẩm;

2. Công văn của BCHQS tỉnh Bình Thuận gửi Bệnh viện 121/QK năm 2010;

3. Công văn của BCHQS tỉnh Bình Thuận gửi Cục Chính trị QK 9 năm 2017;

4. Công văn số 118/HD-CS, ngày 26 tháng 03 năm 2008 của Cục Chính sách – Tổng Cục Chính trị.

5. Nghị định Số: 31/2013/NĐ-CP, ngày 09/04/2013 của Chính phủ;

6. Thông tư Số: 202/2013/TT-BQP, ngày 07 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục xác nhận; tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng thuộc trách nhiệm của Bộ Quốc phòng.



Nguyễn Vĩnh Phúc
Каталог: documents -> 10701


Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương