ĐÀn các nơi ra kinh



tải về 493.66 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu30.05.2018
Kích493.66 Kb.
  1   2   3   4

ĐÀN CÁC NƠI RA KINH

Hư Vô Chơn Nhứt  Như Ý Linh Đàn

Tam Tông Miếu  Chiếu Thanh Quang  Thanh Tịnh Đàn

Tam Thanh Bửu Điện  Nguyệt Thanh Cung


Tịnh

Thủy


Hiện

Châu


Quang

Thiên


Địa



Lưu

Chánh


Khí



Thanh

Phong


Minh

Nguyệt


Chiếu

Thơ


Đồ

Hữu


Định

Vận


Chơn

Nguơn



KINH

KHUYẾN NỮ HỒI TÂM

KHUYẾN khích các con nữ sĩ tài

NỮ tài mau sớm lánh trần ai

HỒI đầu phản bổn tầm chơn đạo

TÂM tự thiên nhiên đến bửu đài.


NXB Tam Giáo Đồng Nguyên

Ấn tống lần thứ năm tại Hoa Kỳ (11/2014)

co phap

Kỉnh nguyện hồi hướng cho âm siêu dương thới,

quốc thái dân an, đạo pháp trường lưu,

chánh giáo hoằng dương,

vạn linh thức tỉnh hồi đầu, đồng đăng bỉ ngạn.

HIỆP THIÊN ĐÀI

TIÊN THIÊN HƯ VÔ

Pháp đàn: Chơn Không Tử (Ô. Đời)

Phò loan: Linh Thông Huyền Quang (Ô. Châu)

Hỏa Dương Chơn Tinh (Ô. Trầm)

Tuế Tinh Tử (Ô. Thành)

Điển văn: Diệu Giác Quảng Tiên (Chấn Tý)

Chứng đàn: Đại đức Linh Châu Tử

TỨ BỬU


NAM NỮ

Thái Tuế Tinh Trường Hạnh Tiên Cô

Hỏa Đức Tinh Quảng Tâm Tiên Nữ

Giáo hữu Nguyễn Văn Đến Quảng Chí Tiên Nữ

Giáo hữu Nguyễn Văn Ở Hạnh Đức Tiên Cô
Trước khi xem kinh thân thể phải tinh khiết và không nên nằm xem [trừ người lớn tuổi hoặc có bệnh].

Sau khi xem kinh phải để chỗ trong sạch hoặc chỗ thờ phượng.

MỤC LỤC

KHUYẾN NỮ HỒI TÂM

Lời tựa 7

Phần Nhứt: Hạ Thừa 9

Phần Nhì: Trung Thừa 39

Phần Ba: Thượng Thừa 58

Bài dạy tu tịnh Chơn Truyền Nữ Phái 70

Giải lý bài Chơn Truyền Nữ Phái 78

Nguyệt Quang Tổ Mẫu minh cơ 87
LỜI TỰA

Chị em nữ phái tu rất nhiều, mà ít được những quyển kinh toàn vẹn dạy về TU từ bậc Hạ, Trung, chí đến Thượng Thừa.

Kinh rất nhiều, mà phần đông dạy chung nam nữ; lại lời lẽ cao thâm, người nữ lưu ít học khó mà hiểu hết nghĩa Kinh. Xem Kinh rất nhiều, nhưng không đoạt lý.

Rất may thay, Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU Vô Cực Từ Tôn thấy điều khuyết điểm, sắc lịnh cho Đức Huê Linh Bồ Tát hạ điển lành giáng bộ “Khuyến Nữ Hồi Tâm Kinh” dạy chị em nữ phái học tu từ bậc Hạ, Trung, chí Thượng.

Bộ Kinh nầy gồm nguyên ba quyển: Nhứt, Nhì, Tam, để dạy người đàn bà tu trong ba cấp.

Lời lẽ thông thường, chỗ dạy cao siêu, câu văn tao nhã, mà rất cảm động thay!

Nể lòng Đức Mẹ, tỏ dạ con hiền, chị em thử lấy xem qua, sẽ hấp thụ đặng nhiều bổ ích.

Vậy chúng tôi thừa hành ấn tống để hiến chị em. Xin chị em đừng phụ tấm lòng, xem qua mà học hỏi, cho đặng trỗi bước tinh thần, để đến ngày nợ mãn, căn Tiên thoát ly trần cấu, trở lại cựu ngôi, thân nương động bích, mình ngồi tòa sen... (Cười... Cười...)

Kính tựa,

Đại Đức Thiên Huyền Cực Tiên

(Phan Văn Vĩnh)

PHẦN NHỨT


HẠ THỪA

_________

Thanh Tịnh Đàn, Tý thời, ngày 17-01 Kỷ Hợi (24-02-1959)

Lê Sơn Thánh Mẫu

Thi

Hình nhi thượng học pháp tân khai,

Môn đệ gắng tầm dạ chớ sai,

Hữu dụng ngày mai ra giáo chúng,

Chớ đừng bỏ dở, đọa ngày mai.
* * *

Trên Càn Cung tròn bao vũ trụ,

Dưới Khôn Âm hấp thụ giao hòa,

Giữa Âm Dương hiệp người ta,

Đông Nhựt, Tây Nguyệt, đó là Ngũ Linh.

Đó là hiện bóng linh Vô Cực,

Chánh Thiên Đồ Bửu Đức Cao Thiên,

Lộ ra tối thượng Huyền Huyền,

Phục nguyên Nguơn Thỉ Cao Tiên điềm lành.
Đại Đức Diệu Giác biên khảo
KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH – HẠ THỪA
Thi

DIÊU động thương con giáng điển đồng,

Bửu TRÌ cam lộ rưới ân hồng,

Thiên KIM nan phục kỳ nhu thể,



MẪU giáng khuyên con dựa cửa “Không”.

Mẹ mừng các con nam nữ.

Nơi thượng giới, Tây Vương luống trông con thành chơn về bái yết, nhưng chẳng đặng mấy con chứng quả liên đài, cùng thiếu người thiện tâm học đạo, cho nên Mẹ thọ sắc Thiên Hoàng, ban quyển Kinh vàng, dạy nữ nhi hồi tâm tỉnh mộng.

Thi

KHUYẾN khích các con nữ sĩ tài,



NỮ tài mau sớm lánh trần ai,

HỒI đầu phản bổn tầm chơn đạo,

TÂM tự thiên nhiên đến bửu đài.

Đại Đạo khai ra đã thập lục niên, thời gian ấy Phật Tiên hết lòng khuyên các con trần thế hồi tâm, nhưng quá vì muội mê nên không tường nẻo quang minh chánh đại. Vì vậy, Mẹ giáng trần tả bút thành quyển Kinh KHUYẾN NỮ HỒI TÂM dạy đời, chỉ nẻo vinh hư khổ ư nhàn lạc. Khi quyển KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH ra đời rồi, Mẹ muốn các con nữ trí phải giữ lấy linh quang là phần sáng suốt vậy.

Hỡi ai là gái quảng kiến cao văn, sau khi xem quyển Kinh KHUYẾN NỮ HỒI TÂM rồi, thì khá tìm cho ra nẻo trường sinh vĩnh viễn mà phục thế hồi chơn, lai đáo Thiên Cung bái yết Mẫu Hoàng. Đó mới thiệt nữ tài trí tri cách vật. Các con tua nhớ lại, từ khi Đại Đạo phát sanh, Mẹ đổ biết bao nhiêu giọt lụy dưới trần. Nói tóm lại, chẳng khác nào một trận mưa chan rưới cho thảo mộc trong thời đại hạn. Nhưng qua trận mưa rồi, thì cây héo cành khô, các con đành quên lời vàng tiếng ngọc!

Nay là thời kỳ thành đạo, nếu các con nữ trí nào đoạt được vị Kim Tiên, là con hiếu thuận của Mẹ già; khác nào con ấy múc lại những giọt lệ kia giùm Mẹ, đổi vẻ buồn của Mẹ thành nét hân hoan.

Mẹ quá thương nữ nhi vẫn còn mờ mịt, nào biết tìm mục đích tu chơn đâu! Thời kỳ nầy, đạo phải đến bực thông minh tấn hóa, phần nữ nhi phải còn lo ôn cố đạo đức, hạnh trinh, học cho thông lý, làm cho rồi phận, thì mới đặng kết quả Đại Đạo Thiên Khai.

Thi

Lời châu tiếng ngọc dỗ con khờ,

Diêu Điện Mẹ nhìn vẫn ước mơ,

Muốn trẻ gom về cùng gặp mặt,

Mới là thỏa dạ nhớ con thơ.

Hựu

Con thơ đừng dại mến mê trần,

Khá biết Đạo Trời lánh khổ tân,

Diêu Điện từ xưa hằng lệ nhỏ,

Các con bao nỡ mến mê trần.

Hựu

Mê trần chịu đọa mất linh quang,

Mờ ám mị ma dẫn lạc đàng,

Khổ hải ba đào trôi phận trẻ,

Sao còn nỡ để mất linh quang!

Hựu

Linh quang một điểm xuống trần hồng,

Muôn kiếp xa lìa Mẹ lắm trông,

Con biết khổ đời sao lại mến?

Làm cho mất cả trí minh thông.

Hựu

Minh thông một điểm Đạo cần lo,

Đoạt đặng ngôi Tiên mới phải cho,

Giải thoát qua rồi cơn tứ khổ,

Thì mau cầm lái rước đưa đò.

Hựu

Đưa đò rước khách lại Tây Phương,

Phải biết Tây Vương lắm nhớ thương,

Đem lại linh quang về vị cũ,

Bia tên nữ liệt sử thanh bường.

Hựu

Thanh bường hưởng thú cảnh thần tiên,

Vĩnh thọ sanh linh chiếu đạo thiền,

Trẻ dại nỡ gây đường tội lỗi,

Để cho dạ Mẹ chịu sầu riêng.

Bài

Mười sáu năm hoằng khai Đại Đạo,

Thầy muốn con hiểu thạo lý chơn,

Lời vàng Thầy chỉ thiệt hơn,

1. Bên con Thầy chuyển cây đờn không dây.

Dạy con trẻ đừng gây tội ác,

Chỉ trẻ thơ tạo tác phước lành,

Dạy con chớ vọng lợi danh,

2. Dạy con đâu nẻo trược thanh cõi trần.

Phật Tiên Thánh lắm lần giáng thế,

Dìu dắt con khuyên để nhiều lời,

Ngặt vì trẻ dại ham chơi,

3. Đỉnh chung phú quý chiều mơi say vùi.

Mẹ trông trẻ ngậm ngùi lệ nhỏ,

Thầy nhớ con, con có hiểu chăng?

Vì con, Mẹ luống băn khoăn,

4. Tre già, con hỡi, khóc măng thảm sầu.

Khe khắt bấy cơ mầu Tạo Hóa,

Tráo chác thay lòng dạ trẻ thơ,

Mới cười, vội khóc bâng quơ,

5. Thanh minh, bỗng thấy lững lờ mây đen!

Phận liễu yếu chặt then kín nẻo,

Kiếp hồng nhan bạc bẽo lắm con,

Đào tơ trăng khuyết đến tròn,

6. Tròn rồi lại khuyết đâu còn ánh trong.

Con oằn oại trong vòng tứ khổ,

Quanh mình con hầm hố dẫy đầy,

Cuộc đời khéo vẽ bằng mây,

7. Bức tranh vân cẩu hiệp vầy lại tan!

Sống như thế, nào an kiếp sống,

Sống đớn đau, ham sống ích chi?

Sống tranh văn vật kịp thì,

8. Sống mơ, sống mộng, sống vì miếng ăn!

Ôi! Kiếp sống mua bằng khổ não,

Dùng máu tươi để tạo nó ra,

Bẽ bàng, thương xót sống qua,

9. Sớm tàn tối nở, nghĩ ra thêm phiền.

Thấy nữ phái ngửa nghiêng lầm lạc,

Chia phe đàng rải rác bốn phương,

Phân vân đời đạo đôi đường,

10. Ít con hiểu thấu tùng nương bóng Từ.

Cùng thọ giáo một sư, nam nữ,

Mà phái nam hiểu chữ tu trì,

Còn bên phái yếu nữ nhi,

11. Dạt dào trôi nổi li bì nam kha!

Ham quyền tước, con xa nẻo chánh,

Mến bạc tiền, vai gánh tay bưng,

Thấy vàng con rất vui mừng,

12. Thấy Thầy con lại dửng dưng buồn rầu.

Con không hiểu vì đâu con có,

Con không tường vàng đỏ trắng xanh,

Chỉ ngay, con lại đi quanh,

13. Chỉ con Cực Lạc, ngục thành con lai!

Trong bốn chữ Tửu, Tài, Khí, Sắc,

Nơi biển tình con mắc phần nhiều,

Lưới tình vò rối trăm chiều,

14. Lửa tình ngùn ngụt đốt tiêu con khờ!

Còn nhỏ dại bé thơ chẳng hiểu,

Vọng sắc tình trí thiểu lỗi lầm,

Thì mau cải hóa hồi tâm,

15. Tu hành, tội trước chế châm ít nhiều.

Tu chẳng phải vẽ thêu nhiều chuyện,

Tu làm lành, trau luyện tánh tình,

Tu lo nhơn ái công bình,

16. Tu kềm bổn tánh, điển linh chói ngời.

Tu chẳng quản sự đời sự thế,

Tu quên mình trong kệ trong kinh,

Tu gìn giữ dạ quang minh,

17. Tu tâm rèn tánh thanh bình mới tu.

Tu lần dẹp ngút mù dục vọng,

Tu thương nghèo không trọng kẻ sang,

Tu trừ phàm tánh mọi đàng,

18. Tu sao bất động, không thanh không mừng.

Tu học hỏi mựa đừng tự phụ,

Tu Tam Cang, Thường Ngũ cho thông,

Tu dìu dắt kẻ giống dòng,

19. Tu hành cứu độ Lạc Hồng hồi quê.

Tu chỉ dẫn mọi bề tường lãm,

Tu chia sầu sớt thảm với nhau,

Tu thanh trí chớ lãng xao,

20. Tu làm việc ích, chung nhau hưởng phần.

Tu vui vẻ tinh thần hoạt bát,

Tu gìn lòng như thác nước trong,

Tu tham thiên địa hiểu thông,

21. Tu thành chánh quả mới mong độ đời.

Con nương náu trong thời tai biến,

Lần bước đi như kiến tha mồi,

Khoan dung đại độ con ôi!

22. Nghiệp trần con ráng trả rồi nghe con!

Lời Mẹ dạy lòng son ghi lấy,

Chỉ cho nhau nẻo quấy đường ngay,

Màng chi những tiếng chê bai,

23. Lòng con đừng nản đắng cay Đạo trường.

Tánh ích kỷ là đường chấp ngã,

Nẻo vô minh tan rã thần hồn,

Chim khôn lựa nhánh mới khôn,

24. Con hiền lựa chúa mà tôn mới hiền.

Phải bác ái nên kiên(1) Nhơn đạo,

Phải biết mình mới thạo nhơn tâm,

Muốn người ra khỏi lạc lầm,

25. Trước con phải hiểu Đạo thâm của Thầy.

Mẹ lần vẹt ngút mây án lộ,

Nơi mê đồ con cố gắng lên,

Phá lần chướng ngại chớ quên,

26. Tâm đăng khêu sáng, không quên tự lường.

Nơi phong trần là trường công quả,

Mẹ khuyên con bươn bả diệt trừ,

Dẹp lần hai chữ ý tư,

27. Trực quan phát huệ, chơn như vẹn gìn.

Không vị ngã là hình bác ái,

Đem nụ cười đổi trái tiếng than,

Người đau thất chí, dỗ an,

28. Thanh cao hy vọng, mở đàng người đi.

Phận của con nữ nhi yểu điệu,

Sự tề gia phải hiểu nên thông,

Khuyên răn, nong chí con, chồng,

29. Tinh thần un đúc gái hòng liệt oanh.

Rung động trí mong manh trẻ dại,

Cảm hóa lần khuyên phải, răn lành,

Hoàn toàn tâm tánh trẻ thành,

30. Ấy nhờ công mẹ dỗ dành bấy lâu.

Công thập ngoạt công sâu đền đáp,

Nghĩa hoài thai nghĩa tạc bên lòng,

Sanh thành ơn tợ biển Đông,

31. Tròn câu hiếu thảo mới mong nên người!

Cây có cội, con ôi, mới sống,

Nước có nguồn mới đọng thành sông,

Con người trước có tổ tông,

32. Sau đàn hậu tấn, Hóa Công sắp bày.

Thờ cha mẹ chớ sai tấc dạ,

Kỉnh ông bà nợ trả thanh khâm,

Nuôi con nên vóc bao năm,

33. Con nuôi cha mẹ tính thầm ngày đêm!

Ơn dưỡng dục chớ thêm đừng bớt,

Nuôi cha già chia sớt gánh sầu,

Mẹ lờ tóc điểm bạc đầu,

34. Mắt mù tai điếc hay đâu đất trời!

Dưỡng nhi để hậu thời đãi lão,

Phận làm con phải báo ơn kia,

Họ Huỳnh(2) danh nọ còn bia,

35. Quạt nồng đắp lạnh chẳng lìa chẳng lơi!

Con bất hiếu ắt Trời khó thứ,

Khinh ông bà, mắng chửi mẹ cha,

Cổ kim khắp chốn ta bà,

36. Những người vô đạo đâu là sống dai!

Con thơ dại đâu hay thế cuộc,

Trẻ ngây khờ khó thuộc trường đời,

Khắt khe khúc mắc lắm nơi,

37. Phù dung kiếp sống nở mơi chiều tàn.

Gái quốc sắc mỹ miều diễm lệ,

Đôi môi son khác thể cánh hồng,

Thu ba sáng tợ trăng trong,

38. Tóc mây êm dịu, tuyết bông da ngoài.

Oanh thỏ thẻ đẹp thay giọng trẻ,

Hoa hờn ghen vì lẽ kém tươi,

Đoan trang ngọc thuyết hoa cười,

39. Xuân xanh một thuở rõ người phong lưu.

Có nhiều trẻ phiền ưu phận số,

Thấy phấn son gẫm hổ phận mình,

Tay chơn lem luốc bùn sình,

40. Da đen, tóc rối, vóc hình nở nang!

Cùng chung bước một đàng với bạn,

Mà chị em hình dáng liễu hờn,

Trước nhìn, sau ngắm thân đơn,

41. Biết bao giờ được đẹp hơn mọi người?

Thoa mặt trắng mua cười cho chúng,

Điểm môi hồng đi nhún đứng nhường,

Trông qua giống tạc hát phường,

42. Con ôi khá nhớ hoa hường có gai!

Chớ so sánh sắc tài tranh lấn,

Chớ thẹn thuồng hộp phấn cây son,

Ráng nghe Mẹ giải ớ con,

43. Kiếp đời mai một vẫn còn lời châu.

Kìa trước mắt tang dâu thương hải,

Cảnh điêu tàn khiến phải rùng mình,

Thây nằm máu chảy thật kinh,

44. Chúng sanh xô xát để gìn miếng ăn!

Say máu tươi quên rằng đau khổ,

Bãi chiến trường thi thố tài nghề,

So gươm giáo, ngựa giao kề,

45. Giết nhau chém lẫn thỏa thê tấc lòng!

Nạn khói lửa má hồng ảnh hưởng,

Khổ chiến tranh muôn trượng đớn đau,

Nào ai là gái kiệt hào,

46. Ra tay cứu nước đồng bào khuynh nguy.

Ai Trưng, Triệu phò trì Việt quốc,

Gan anh hùng chống tấc giang san,

Gươm vàng đuổi kẻ lân bang,

47. Kim ngôi tức vị trị an biên thùy!

Hiếm chi kẻ sống vì tiếng trống,

Hiếm chi người ham vọng ngôi cao,

Để lường công của giống màu,

48. Để gieo nạn khổ binh đao đầy trời.

Nào biết kẻ cùng thời chung sống,

Nào biết người một giống sanh ra,

Một vườn nhưng có nhiều hoa,

49. Hoa lài, hoa dại, kể ra lắm đường.

Thứ hoa trước phấn hương bát ngát,

Mùi thơm bay tản lạc bốn phương,

Suy cùng tài sắc thảm thương,

50. Càng tươi tắn lắm càng thường mau phai!

Hoa quá đẹp quá say lòng khách,

Bướm vãng lai thóc mách đủ điều,

Ngọt ngào kiếm chuyện vẽ thêu,

51. Bên tường hoa ủ, nét kiều lần suy.

Còn hoa dại khả tri thân phận,

Ẩn núp mình chẳng bận trần ai,

Không duyên, không sắc, không tài,

52. Không tươi, không đẹp, không đày đọa thân.

Mẹ nhắc trẻ nên cân đôi nẻo,

Con toan lo mau kẻo ăn năn,

Ngang mày sấm chớp lửa giăng,

53. Trở day khó thể, vương lằn tai ương.

Biết sức ngựa đường trường ngựa chạy,

Biết tâm người cần phải suy tầm,

Bôn chôn hấp tấp lỡ lầm,

54. Hận lòng một phút ngàn năm vẫn còn!

Dải đất Việt sông non chớn chở,

Trải bao phen kẻ ở người đi,

Vương tôn mấy bực trị vì,

55. Bất tài bất lực bất tri cơ Trời!

Nguyên do bởi đổi dời vua chủ,

Vì lương dân chẳng đủ lòng tin,

Rẽ chia, bất phục, dể khinh,

56. Nỗi lòng công phẫn kẻ gìn quê cha.

Đạo chia rẽ cũng vì cớ ấy,

Lớn cậy quyền làm quấy, tự tôn,

Khoe rằng mình đủ trí khôn,

57. Dị đoan, mê tín, nhét dồn óc dân.

Lãnh nhiệm vụ cầm cân thiên địa,

Phận chưa tròn còn bịa chuyện đời,

Nào là lãnh lịnh mạng Trời,

58. Cất chùa, lập thất, gạt người ngu si.

Cơn nước đục mấy khi cò béo,

Tính mưu gian cướp xéo giựt ngang,

Tiếng kêu thê thảm đầy đàng,

59. Vì con quá muội, khóc than ích gì!

Khuyên nữ sĩ hiệp quy đoàn tụ,

Mạnh nhờ nhiều sức đủ làm non,

Đâu lưng giao cật sắt son,

60. Đạo đồng nhứt dạ lo tròn chữ Tu.

Ngọc có vết nào lu vẻ trắng,

Vàng có hư cũng chẳng phai màu,

Thân sanh dẫu có gian lao,

61. Dưới chân Thầy cũng chẳng sao mà sờn.

Dế rền rỉ tiếng đờn trầm bổng,

Ve thảm sầu hòa giọng bi ai,

Giựt mình Mẹ nhớ những ngày,

62. Các con đùa giỡn bên ngai Mẹ già!

Ngày xưa ấy có xa là mấy,

Hiềm vì con chẳng thấy đó thôi,

Nhìn con Mẹ gẫm than ôi!

63. Biết bao giờ trẻ cựu ngôi trở về?

Hay là trẻ say mê hằng bữa,

Quên Mẹ già dựa cửa ngóng con,

Trông con mắt đã mỏi mòn,

64. Mà sao tin trẻ vẫn còn bặt tin!

Vén mây thẳm tận nhìn con trẻ,

Thấy con khờ như xé can tràng,

Con vui lòng Mẹ nào an,

65. Con buồn lòng Mẹ bàng hoàng trẻ ôi!

Lớn chí nhỏ vì mồi khổ tục,

Nên lại qua chen chúc lấn tranh,

Hay đâu kiếp số mỏng manh,

66. Thác rồi gấm vóc cũng đành lạnh thân.

Mẹ khuyên trẻ nương gần cửa Phật,

Con ngoảnh đi lật đật tránh xa,

Nói toàn câu chuyện phồn hoa,

67. Con nghe chăm chỉ, cho là sướng tai!

Con mảng đếm một hai ba bốn,

Tải huỳnh kim một vốn mười lời,

Như vầy khổ lắm con ôi!

68. Như vầy Mẹ hết còn đường khuyên răn!

Bàn chuyện Đạo cho rằng không đúng,

Luận chuyện đời khen trúng khen hay,

Xác trần chôn chặt một ngày,

69. Linh hồn luân chuyển đầu thai cõi trần.

Cây cỏ sống nhờ phân nhờ nước,

Con lo tu sau được thảnh thơi,

Thiên Thai con được nghỉ ngơi,

70. Mặc ai toan tính bán Trời nuôi thây.

Hiệp sức cùng kết dây liên ái,

Chung tâm đồng oan trái phá tan,

Trước sau tấn thối một đàng,

71. Đuốc Thầy soi rõ ngách hang hố hầm.

Con nhẫn lòng âm thầm học Đạo,

Mẹ kiên tâm chỉ giáo đạo tràng,

Như vầy mới gọi con ngoan,

72. Như vầy chẳng hổ lời vàng Mẹ phân.

Con ẩn dật chuyên cần trau tánh,

Đứa không tu sớm tránh cho xa,

Gần đèn trẻ sáng, nào ngoa,

73. Gần bên mực đậm ắt là tối đen.

Mẹ chẳng nhọc bao phen giảng dạy,

Vì trẻ thơ nên phải khổ tâm,

Chừng nào con hết lạc lầm,

74. Chừng nào Mẹ hết ngấm ngầm đau thương?

Cá không muối cá ươn là phải,

Con bất tuân con cãi Mẹ Cha,

Bao giờ con hiểu hơn Ta,

75. Bao giờ con biết hơn Già nầy đây?

Chữ khôn dại con gây tội ác,

Điều dại khôn khó đoạt lý chơn,

Dại khôn, khôn dại hạ nguơn,

76. Phân chi đôi nẻo khôn hơn dại nhiều.

Bớ những con thân yêu của Mẹ,

Ráng vâng lời Mẹ sẽ ban ơn,

Nằm sương gội tuyết chớ sờn,

77. Tròn câu âm chất châu huờn hiệp quy.

Lời vàng đá con ghi chạm dạ,

Tiếng khuyên răn bươn bả nghe theo,

Bỏ câu danh lợi bọt bèo,

78. Tròn câu son sắt ráng trèo gai chông.

Bớ những khách bên sông bỉ ngạn,

Chuyến đò cùng, khách ráng theo Ta,

Thuyền Trời Già sẽ đưa qua,

79. Bên bờ giác ngạn tránh xa trần hồng.

Gió hiu đưa thu không tiếng trống,

Chim vui ca hát giọng thanh tao,

Ngàn năm Tiên cảnh tiêu dao,

80. Ngũ hồ tứ hải nghêu ngao dạy đời.

Con khinh thường những lời Thánh huấn,

Con nghe theo tai đựng tai không,

Ngáp dài xếp sách là xong,

81. Đến chừng Mẹ hỏi con không hiểu gì!

Rầy quở trẻ mấy khi con chịu,

Trả lời vì bận bịu gia đình,

Thì giờ chẳng đủ học kinh,

82. Thì giờ đâu trẻ lo gìn kim ngân?

Cả tiếng kêu trẻ xuân còn thắm,

Những con còn say đắm mộng xuân,

Trời xuân hoa nở tưng bừng,

83. Chim xuân riu rít lưng chừng mơ xuân.

Tuổi xuân đẹp không ngừng đâu trẻ,

Thời xuân tươi xuân lẹ làng qua,

Xuân qua thấm thoát xuân già,

84. Xuân già kết liễu, xuân hoa héo tàn!

Xuân héo tàn xuân càng sầu chán,

Xuân bạc đầu xuân ngán cho xuân,

Ngoảnh đi ngoảnh lại ngập ngừng,

85. Ngập ngừng ướm lệ ôi xuân đau lòng!

Trống khải ngộ hư không đổ nhịp,

Chuông giác mê liên tiếp gọi người,

Sao người vẫn hé miệng cười,

86. Kìa hoàng hôn tắt quê người còn xa!

Khan giọng gọi tài hoa lỗi lạc,

Bốn phương trời rải rác đó đây,

Linh đinh góc biển chân mây,

87. Phong trần lăn lóc ốm gầy thân sanh!

Phường thế tục lấn tranh mỏi mệt,

Gót giang hồ đã hết sức đi,

Bên trời, Thiên lý nghiệm suy,

88. Sống rồi lại thác lo chi thêm phiền.

Bóng trăng suông ngoài hiên chênh chếch,

Điểm sao mai sắp hết ánh trong,

Vẳng nghe những tiếng tơ đồng,

89. Trông nhìn dĩ vãng mà lòng đớn đau.

Ngó trước mặt một màu thăm thẳm,

Dòm lại sau rừng rậm chông gai,

Chừng nào đi hết đường dài,

90. Chừng nào mới biết được ngày thành công?

Hỡi hỡi trẻ Lạc Hồng gái Việt,

Chịu ép đè con biết cùng chăng?

Dây đời, dây đạo trói trăn,

91. Gánh đời, gánh đạo, nặng oằn đôi vai!

Nếu lo một trong hai chẳng được,

Toan đạo đời một lượt khó xong,

Giữ sao vẹn vẻ ngoài trong,

92. Gìn sao trọn đạo mới hòng rảnh linh!

Phải nghiêm khắc với mình cho lắm,

Phải khoan dung kẻ đắm người mê,

Từ bi vẹn vẻ mọi bề,

93. Thương yêu giúp đỡ vỗ về vật nhơn!

Con tâm đạo chớ hờn chớ giận,

Làm sao người hiểu tận ý mình,

Kẻ nào khử ám hồi minh,

94. Vội vàng chỉ vẽ cách gìn đạo cao.

Mỗi ngày phải tự trau bổn tánh,

Hộ đồng bào bớt gánh tang thương,

Cao siêu đạo pháp phi thường,

95. Cũng không đắc quả nếu lường lao công.

Đã mang tiếng hết lòng thi thố,

Mà lại còn ghi sổ việc làm,

Giúp người, người giúp thì ham,

96. Bằng không vay trả túi tham khó đầy.

Cách làm ơn như vầy khó sánh,

Bằng không thi mà hạnh kiểm cao,

Tinh thần giúp kẻ giống màu,

97. Trên đường tiến hóa dồi dào linh căn.

Chí hy sinh khuyên răn con trẻ,

Dư của tiền con sẽ cho người,

Tốn hao mua lấy tiếng cười,

98. Mất con một chút mà người vui thay!

Phật THÍCH CA đắng cay chẳng nệ,

Muốn xả thân nào kể ngai vàng,

Bỏ cha lìa mẹ băng ngàn,

99. Một mình một ngựa canh tràng xuất gia.

Trải gian lao Đạt Ta vẫn quyết,

Tìm đạo mầu để biết lý chơn,

Đem ra truyền bá độ nhơn,

100. Lời vàng khuyên giải thiệt hơn chánh tà.

Chúa GIA TÔ muốn hòa nhơn loại,

Dụng đuốc lành hầu rọi thế gian,

Chỉ đường sanh chúng thông tàng,

101. Lần tay Ngài vẹt bức màn vô minh.

Chẳng quản nhọc quên mình vì đạo,

Muốn cho người thọ giáo lời truyền,

Kẻ thương, kẻ chẳng để yên,

102. Con hiền, con cũng vì tiền bán Cha!

Đội vòng gai chan hòa máu đổ,

Chịu tử hình cam khổ chẳng kinh,

Trên cây thập giá đóng đinh,

103. Buồn rầu nhìn xuống chúng sinh lạc lầm!

Công đức ấy muôn năm ghi sử,

Lòng hy sinh hỏi thử mấy ai,

Đông tây nam bắc trong ngoài,

104. Hỏi trang thục nữ dám đày thân không?

Kẻ làm ruộng gieo trồng cày cấy,

Trông tới mùa đổi lấy đồng tiền,

Bắt trâu làm việc lợi riêng,

105. Ra đồng xới cuốc cũng chuyên kiếm lời.

Ai là kẻ thương đời thương vật,

Ai là người sớm cất túi tham,

Việc chung giúp ích nên làm,

106. Lợi mình, người khổ mà ham nỗi gì?

Không danh lợi mấy khi trẻ sống,

Chẳng tài tình đồng rộng thế gian,

Vắng teo nứt nẻ khô cằn,

107. Con người chẳng có, dinh hoàn lạnh tanh.

Biết không tiền chúng sanh sẽ đói,

Vì chữ tài nhơn loại vui cười,

Tiền làm cho trẻ đẹp tươi,

108. Tiền nhiều bạc đống khiến người hiển vinh.

Tiền nuôi dưỡng thân sinh mập mạp,

Tiền khiến người dung nạp tánh hiền,

Tiền tài phước số hữu duyên,

109. Tiền kho lo giữ chẳng phiền lụy ai.

Tiền với tài ít thay kẻ sống,

Tiền nuôi người nuôi mộng Nam Kha,

Tiền sanh hy vọng hiệp hòa,

110. Tiền nguồn hạnh phúc suy ra lắm điều.

Tiền quyến rũ quá nhiều bạn hữu,

Tiền kêu người cố cựu tìm thăm,

Tiền làm hết cảnh tối tăm,

111. Tiền xui phước chủ hết lầm từ đây!

Tiền với bạc đầu dây nạn khổ,

Tiền xô người vào chỗ u minh,

Tiền tài thay đổi tánh tình,

112. Tiền gây đau đớn cho mình lắm con!

Tiền thật trắng, thật tròn, thật bạc,

Tiền làm cho tan nát gia đình,

Tiền làm mất hết đức tin,

113. Tiền làm chia rẽ kẻ mình yêu thương!

Tiền khiến người cơn thương hóa ghét,

Tiền khiến người khó xét cùng suy,

Tiền làm ủ dột sầu bi,

114. Tiền không, túi trống, mấy khi người mừng!

Tiền khiến người đau lưng mỏi gối,

Tiền giục người đầu đội tay bưng,

Tiền không, cha ngó dửng dưng,

115. Tiền còn, ôi mẹ vui mừng xiết bao!

Tiền làm người hết đau hết mỏi,

Tiền có nhiều, tránh khỏi bịnh đau,

Tiền là dòng máu đồng bào,

116. Tiền là huyết lệ giống màu thế gian!

Nếu lấy bạc mua đàng chơn lý,

Được cũng nên, nhưng chỉ sợ e,

Lấy tiền che Phật khó che,

117. Thác rồi khó lấy bạc xe mua hồn!

Vì chữ tài mà khôn mà dại,

Chước mưu gian hãm hại người lành,

Rẽ chia cha mẹ em anh,

118. Cầm dao cắt ruột sao đành trẻ ôi!

Đoạn cốt nhục, đoạn rồi khó kiếm,

Còn bạc tiền thì hiếm chi con,

Còn người thì bạc vẫn còn,

119. Mẹ cha khó gặp, bạc mòn đi đâu?

Nếu lấy bạc mà cầu trường thọ,

Thì Mẹ e rất khó đó con,

Vái Trời vái Phật sắt son,

120. Vái Thần vái Thánh giữ tròn bạc đây.

Nực cười trẻ khẩn mây khẩn gió,

Phật Thánh Tiên đâu có dư công,

Để làm những chuyện minh mông,

121. Gìn kho cho trẻ thỏa lòng con thơ!

Đại phú do Thiên cơ chuyển vận,

Tiểu phú do cần, vẫn trí thông,

Kẻ lười chẳng muốn ra công,

122. Mà sao giàu có phước hòng Trời cho?

Cân Tạo Hóa so đo từ chút,

Kiếp trước người tích súc đức nhiều,

Nên nay sung sướng đủ điều,

123. Chớ nào Trời có bỏ chiều ai đâu!

Nếu người chẳng niệm câu bác ái,

Thì bạc kia lần phải tiêu tan,

Phú gia sẽ hóa bần hàn,

124. Mới nằm trên bạc vội vàng xin ăn!



  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương