Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2



tải về 307.11 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích307.11 Kb.
1   2   3

- Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy ngay rằng tỉ lệ bài viết điểm khá giỏi ít mà tỉ lệ điểm yếu cao.

- Khi viết đoạn văn kể về cô giáo, các em thường bộc lộ các điểm yếu sau:

+ Về cách diễn đạt như: Từ bị lặp nhiều, dùng từ không chính xác. Ví dụ có em viết :"Cô giáo em tên là Lan. Cô Lan có dáng người cao, cô Lan có mái tóc dài, cô Lan có đôi bàn tay rất khéo viết chữ rất đẹp...". Hay có em viết: Cô giáo em có đôi mắt to tròn xoe như hai hòn bi.

+ Câu không rõ nghĩa, câu không đủ bộ phận, các câu trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi. Ví dụ có em viết : "Cô giáo em dạy lớp 1. Có nụ cười tươi. Em rất yêu ‎qu‎ý‎ cô. có hàm răng trắng. cô giảng dễ hiểu. Em rất quý cô".... ‎

+ Có em viết đoạn văn theo cách trả lời nắp đuôi như sau: Tình cảm của cô đối với em rất tốt.

- Trước thực trạng đó tôi đã tìm tòi, tham khảo nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp cụ thể.

CHƯƠNG III.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 2

VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

Biện pháp 1:Rèn các kỹ năng cơ bản cho học sinh viết đoạn văn ngắn.

Giáo viên cần chú trọng việc rèn viết đoạn văn ngắn cho học sinh. Cần coi đây là công việc có vị trí quan trọng trong chương trình Tiếng Việt lớp 2. Vì có viết đoạn văn tốt thì học sinh mới có nền tảng vững chắc để học văn sau này.



a-Tạo cho học sinh có thói quen quan sát:

Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượng xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết. Vì qua thực tế đôi khi tôi cho các em một bài tập tả về cảnh biển, có em bảo là con chưa bao giờ nhìn thấy biển. Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên ở nông thôn nên các em không nhìn thấy biển là đúng. Bởi thế giáo viên cũng cần sưu tầm những phim ảnh để có thể trình chiếu cho các em, cho các em quan sát về cảnh biển, … hoặc vào dịp nghỉ hà các em hay được ba mẹ cho đi tham quan tắm biển, nhân đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh quan sát kỹ để có ý tưởng cho tập làm văn tả cảnh biển.



b-Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:

Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ phong phú. Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận dụng. Có em thì có rất ít hoặc chưa hề có. Bởi vậy, giáo viên chính là người cung cấp.Mà cung cấp ở đâu? Tôi nghĩ trong các bài tập đọc có khá nhiều. Mỗi chủ đề của môn Tiếng Việt thì môn tập đọc đều có những bài văn, bài thơ nói về chủ để đó. Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý và chú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn. Từ đó học sinh có thể rút ra những câu văn hay, từ ngữ đẹp và ghi nhớ sau này vận dụng. Ví dụ : qua bài Tôm Càng và Cá Con học sinh rút ra được đoạn văn tả về chú Cá Con trong bài “Con vật thân dẹt, trên đầu có đôi mắt tròn xoe, toàn thân phủ một lớp vẩy bạc óng ánh”. Vốn từ còn có trong phân môn luyện từ và câu. Giáo viên có thể cho các em chơi trò chơi, thi đua tìm từ ngữ tả về chú cá. Các em sẽ rất hứng thú và tìm được rất nhiều từ.

Để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên cần cung cấp cho học sinh : Nhiều từ ngữ gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình … Ví dụ : Mặt biển xanh và rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông. Nối các câu văn lại thành những từ ngữ liên kết như : và, thì, nếu, vậy là ….

Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay những từ ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự , ví dụ: Bác Hồ thành Bác, Người… thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn. Ví dụ: buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh.



Ví dụ: Sau khi thành lập sơ đồ, có thể các em sẽ thành lập một đoạn văn như sau : “Nhà em có nuôi một chú gà . Nó có bộ lông màu đỏ tía. Nó gáy rất to. Em rất yêu nó”. Giáo viên có thể khuyến khích học sinh là “con làm đúng nhưng chưa hay. Từ những ý tưởng ban đầu của con, chúng ta sẽ hình thành một đoạn văn hay hơn nhé : “Chú gà trống nhà em trông mới oai vệ làm sao ! Toàn thân nó phủ một lớp lông vũ màu đỏ tía. Sáng sáng, trống tía nhảy tót lên ụ rơm đầu hè mà rướn cổ gáy vang ò ó o. Mỗi khi đi học về, em thường rải cho nó một ít thóc và vuốt ve cái đuôi dài, cong cong của nó”. Khi đó, học sinh sẽ thấy được vẫn là ý tưởng cũ nhưng đoạn văn đã được lột xác, thêm thắt những từ ngữ trau chuốt hơn làm cho đoạn văn đẹp hơn, nghệ thuật hơn.

Giáo viên có thể sưu tầm những bài văn hay và đọc cho học sinh nghe để học sinh học hỏi. Trưng bày những bài văn hay của các bạn trong lớp để các em noi gương. Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đó vào một quyển từ điển riêng của mình. Từ đó, vốn từ của các em sẽ ngày càng nhiều, càng phong phú.



c-Giúp học sinh nắm chắc bố cục của đoạn văn:

Tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục 3 phần : mở bài (giới thiệu), thân bài (nội dung), kết luận (tình cảm) và lập sơ đồ trước khi làm tập làm văn. Tôi xin gợi ý một cách lập sơ đồ thông qua một trò chơi “em và chú gà” như sau . Ví dụ : Khi tả một chú gà, giáo viên cho hai em lên sắm vai, một em là “chú gà”, một em là “người tả”. Cùng lúc đó, giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồ trên vở nháp.



  • “Người tả” sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà “nhà em có nuôi một chú gà”

  • Còn “chú gà” thì vừa nói vừa diễn tà : “tôi có bộ lông nhiều màu sắc. Tôi có cái màu trên đầu. Tôi gáy rất to …”

  • Người tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà : “Em thường rải thóc cho gà ăn …”

Hoặc có thể tinh giảm em “người tả” chỉ cần một em sắm vai “chú gà”.

  • Sau khi nghe tả và quan sát xong các em thành lập ra một sơ đồ như sau :


Từ đó các em đã nắm được đặc điểm của con vật cần tả mà phát triển thành một đoạn văn. Hoặc ta có thể cho em hình thành một đoạn văn qua trò chơi “tiếp sức”.



  • Từ sơ đồ đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo thành câu, cứ thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn. Trong lúc đó, giáo viên có thể ghi lại trên bảng, thế là đã có bốn đoạn văn mẫu. Có thể câu văn lúc ấy còn lủng củng nhưng ta có thể sửa chữa.

Biện pháp 2:Trang bị cho học sinh về vốn từ và kĩ năng viết đoạn văn ngắn

a.Cung cấp vốn từ

Mỗi đoạn văn là cả một thực tế sinh động diễn ra xung quanh các em. Song có được đoạn văn theo yêu cầu của bài là cả một quá trình học sinh phải tư duy, phân tích, tổng hợp, sắp xếp….

* Giáo viên cần trang bị cho học sinh một số từ thuộc chủ đề hoặc phù hợp với văn cảnh.

Ví dụ:

- Tả nắng của mùa hè: nắng chói chang, nắng gắt gỏng, nắng như thiêu như đốt…

- Tả về tiếng hót của chim: hót líu lo, hót véo von, hót vang lừng …

- Tả về hình dáng người.

+ Thân hình : mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả …

+ Nước da : đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, đỏ đắn, ngăm đen …

+ Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, loăn xoăn….

+ Khuôn mặt: Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương, vuông vức....

* Giáo viên đưa một số câu văn hay đến với học sinh một cách tự nhiên không gò ép.



Ví dụ:

- Khi dạy học sinh viết đoạn văn tả cảnh biển tuần 26 giáo viên gợi mở :

Câu “Những cánh buồm đủ màu sắc được nắng sớm chiếu vào sáng rực lên, trông xa như những đàn bướm bay lượn giữa trời xanh cùng với cánh chim hải âu”. Có thể trả lời cho câu hỏi nào? (Trên mặt biển có những gì ?)

b-Về kĩ năng

* Để có kĩ năng viết đoạn văn tốt giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng nói gãy gọn, trọn vẹn ý, không nói câu cụt.



Ví dụ: Khi tả về con chim mà em yêu thích có học sinh nói: “Chim chích choè cứ sáng sớm, trên cây dừa nhà em nó đậu rồi nó hót”.

Hoặc khi nói về tình cảm của cô giáo với học sinh không nên nói: "Tình cảm của cô đối với em rất tốt", mà phải nói: "Cô giáo rất yêu quý chúng em..."

* Giáo viên cần phải phân tích cho học sinh:

Ý của em nói: "Cứ vào thời điểm buổi sáng, ở trên cây dừa nhà em có một con chim chích choè đến và hót ”. Vậy em cần nói cho gãy gọn và hay hơn: “Sáng nào cũng vậy, chim chích choè lại bay đến đậu trên cây dừa nhà em, cất tiếng hót líu lo”.

* Giáo viên nhắc nhở học sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Khi viết đoạn văn dẫn lời nói của người khác em phải cho trong ngoặc kép.

Ví dụ : - Muốn kể lại lời nói của Dì trong đoạn viết về người thân của em, cần phải viết trong ngoặc kép như: Dì em bảo: “Cháu cứ lấy kẹo ra mà ăn ".

Hoặc khi trích dẫn lời nói của chú vẹt khi viết về một loài chim mà em thích. Mỗi khi có khách đến chơi chú lại nhanh nhảu: "Có khách! Có khách !".

- Việc rèn cho học sinh viết đoạn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạo cho học sinh thâm nhập, quan sát, phân tích từ thực tế.

* Giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước thật tốt bài học, tiết học hôm sau.



Ví dụ:

- Khi dạy học sinh viết 2 đến 3 câu về loài chim mà em thích.

Từ hôm trước giáo viên yêu cầu mỗi học sinh quan sát kỹ con chim trong thực tế mà mình yêu thích. Cụ thể là : Các bộ phân đầu, mình, chân, hoạt động, tiếng hót… của chim.

Biện pháp 3. Các bước tiến hành dạy học sinh viết đoạn văn ngắn

Bài tập viết đoạn văn ngắn là loại bài sản sinh lời nói. Học sinh tập viết đoạn văn là tập sản sinh lời nói, văn bản. Vì vậy, giáo viên cần dựa vào các bước sau để hướng dẫn học sinh làm bài tâp .



Bước 1:

- Xác định yêu cầu bài.

+ Học sinh nêu yêu cầu bài tập.

+ Giáo viên phân tích yêu cầu.

- Định hướng học sinh viết.

+ Tả (kể) về ai (cái gì) ?

+ Viết mấy câu ?

+ Viết với tình cảm như thế nào ?

+ Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý.

- Dù mới là học sinh lớp 2, bài viết chưa yêu cầu cao với bố cục một bài văn như lớp 4 - 5, cũng chưa có khái niệm lập dàn ý. Song với đoạn viết từ 3 đến 5 câu với 2 đến 3 ý cũng cần sự sắp xếp ý. Ở học kỳ I học sinh được kể về những người thân thiết với mình như: Cô giáo, thầy giáo, ông, bà, anh, chị, em… Do đó giáo viên nên gợi ý học sinh trước tiên tự giới thiệu về người đó (Tên là gì?, mối quan hệ với bản thân?). Tiếp đó là hình dáng, tính cách, công việc hoặc ý thích của người kể và cuối cùng là tình cảm của học sinh đối với người mình kể.

- Sang học kỳ II, học sinh được tả về một số con vật, cảnh vật xung quanh mình. Đầu tiên cần gợi mở cho học sinh giới thiệu về vật (cảnh vật) định tả. Chi tiết nổi bật của cảnh, vật đó. Cuối cùng là tình cảm của bản thân đối với cảnh vật và con vật đó…

- Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. Ở khâu này học sinh bộc lộ rất rõ nhược điểm về tư duy cách viết câu, sử dụng từ. Giáo viên không nên làm thay cho học sinh mà nên trang bị một số tình huống, một số cách dùng từ, một số cách liên kết phù hợp với nội dung đoạn viết để học sinh vận dụng viết bài.



Bước 2: Học sinh viết bài vào vở.(Trước khi viết vào vở cho học sinh nêu miệng bài văn)

Bước 3: Chấm bài, chữa lỗi.

- Học sinh đổi chéo vở đọc bài, sửa câu từ, nhận xét bài lẫn cho nhau.

- Giáo viên yêu cầu một số học sinh đọc bài viết của mình và đọc bài viết đã được bạn sửa (câu, từ) trước lớp. Học sinh dưới lớp nhận xét sửa chữa bổ sung.

- Giáo viên chấm và chữa một số lỗi cơ bản (từ, câu, ý).

- Giáo viên đọc đoạn văn mẫu mà giáo viên đã chuẩn bị để học sinh tham khảo.

Ví dụ: Khi dạy học sinh viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè, giáo viên cần hướng dẫn theo các bước như sau:

Bước 1: Xác định yêu cầu bài. Định hướng học sinh viết.

- Học sinh đọc yêu cầu bài: “Hãy viết từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè”.

- Giáo viên phân tích yêu cầu.

- Hướng dẫn học sinh định hướng viết.

+ Viết đoạn gồm mấy câu? (Viết đoạn từ 3 đến 5 câu).

+ Viết về cái gì? (Viết về mùa hè).

- Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý.

+ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm?

(Mùa hè bắt đầu từ tháng 4 trong năm).

+ Mặt trời mùa hè như thế nào?

(Mặt trời mùa hè rất chói chang).

+ Cả hai câu trên cho em biết về thời điểm và nét tiêu biểu của mùa nào? (Đó là mùa hè).

- Giáo viên khẳng định đây là ý 1 của bài.

+ Bà Đất nói về mùa hè như thế nào?

(Mùa hè cho ta trái ngọt hoa thơm).

+ Vậy câu nói của Bà Đất có thể trả lời được cho câu hỏi nào trong bài? (Cây trái trong vườn như thế nào?).

- Đây chính là ý 2 của đoạn viết.

+ Em có thích mùa hè không? (Có).

+ Vì sao? (Vì mùa hè em không phải đi học mà được nghỉ hè).

+ Học sinh thường làm gì vào dịp nghỉ hè?

(Học sinh được đi tham quan, thắng cảnh, thăm ông bà…).

- Đây chính là ý 3 của đoạn viết.

+ Đoạn viết có mấy ý? (3 ý)

- Giáo viên giảng mùa hè đến khiến cho cây tươi tốt trái trĩu cành và học sinh được nghỉ hè.

+ Ý nào là kết quả của ý nào đem tới? (ý 2 và ý 3 là kết quả của ý 1 đem tới).

Vậy đoạn văn có thể viết : Ý1----- Ý2------- Ý3

Hoặc: Ý1----- Ý3------- Ý2

Hoặc: Ý1----- Ý3 lồng Ý2

+ Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. Với 3 ý này học sinh có thể phát triển mỗi ý thành 1 hoặc 2 câu. Từ câu này sang câu khác phải có sự liên kết tránh lặp lại từ ý này phát triển tiếp ý kia.

* Giáo viên gợi ý:

Với ý 1 nói về thời điểm và đặc điểm tiêu biểu của mùa hè các em cần lưu ý không nên lặp lại từ mùa hè trong 2 câu liên tiếp. Khi viết về ánh nắng mặt trời nên dùng cách so sánh như: Nắng như thiêu như đốt, nắng cháy da cháy thịt, nắng chang chang, nắng rát cả mặt…

+ Ánh nắng mùa hè em đã cảm nhận bằng những giác quan nào?

(Em đã cảm nhận bằng mắt, da…).

+ Em có ngửi thấy mùi hương của hoa không? (Có).

+ Có được ăn hoa quả trong mùa hè không? (Có).

+ Đó là hương, vị ta cảm nhận được bằng gì?

(Cảm nhận được bằng mũi và lưỡi).

+Vậy với nội dung ý 2 các em cần lưu ý điều gì? (Em cần đội mũ nón…)



Tóm lại: Không nhất thiết cứ mỗi câu hỏi viết được một câu trong đoạn văn. Cần viết với sự cảm nhận bằng nhiều cách: Nhìn, ngửi, ăn… xen lồng với tình cảm của bản thân về mùa hè.

Bước 2: Học sinh làm bài vào vở.

- Giáo viên hướng dẫn cách trình bày một văn bản. Khi bắt đầu viết đoạn cách lề một ô, viết hết câu này tiếp sang câu khác, ý này tiếp sang ý kia, viết hết đoạn mới xuống dòng.

- Khi học sinh làm bài giáo viên quan sát giúp đỡ những học sinh yếu.

Bước 3: Chấm bài, chữa lỗi:

- Học sinh đổi chéo bài, đọc bài viết của bạn sau đó nhận xét về cách trình bày, sửa câu, từ sai có trong đoạn viết.

- Một số học sinh đọc bài viết của mình, đọc câu bạn đã sửa giúp. Học sinh khác góp ý bổ sung.

- Giáo viên chấm bài, chữa một số lỗi cơ bản (từ, câu, ý).

- Giáo viên đọc đoạn văn mẫu cho học sinh tham khảo.
CHƯƠNG IV. DẠY THỰC NGHIỆM

1. Các bước tiến hành dạy thực nghiệm:

- Xây dựng kế hoạch bài dạy, Tập làm văn lớp 2 các bài có yêu cầu viết đoạn: Tuần 8, tuần 10, tuần 11, tuần 13, tuần 15, tuần 16, tuần 20, tuần 21, tuần 26, tuần 28, tuần 31, tuần 33, tuần 34.

- Dạy thực nghiệm.

Chọn 02 lớp có trình độ tiếp thu kiến thức ngang nhau, chất lượng học tập tương đương nhau:

* Lớp đối chứng: Lớp 2B.

* Lớp dạy thực nghiệm: Lớp 2A.

- Tiến hành khảo sát lần 1, lần 2, để lấy số liệu đánh giá chất lượng viết đoạn văn của học sinh.

- Tổng kết và đánh giá kết quả thực nghiệm.



2. Bài dạy thực nghiệm:

- Tiến hành dạy bằng phương pháp nói trên tất cả các tiết Tập làm văn có bài tập yêu cầu viết đoạn văn.

- Bài: “Chia vui. Kể về anh chị em”.

I. Mục tiêu:

- Học sinh hiểu được thế nào là nói chia vui và ích lợi của việc nói chia vui. Nắm được cách kể ngắn về anh chị em của mình.

- Học sinh biết nói lời chia vui (chúc mừng) hợp với tình huống giao tiếp. Viết được đoạn văn ngắn kể về anh, chị, em, của mình.

- Giáo dục học sinh có thái độ đồng cảm, chia sẻ vui buồn với mọi người và lòng yêu mến anh, chị, em trong gia đình.



II. Đồ dùng dạy học:

Tranh minh hoạ bài tập 1 (SGK).



III . Các hoạt động dạy- học:

A. Kiểm tra bài cũ:(5’)

- Giáo viên gọi một học sinh.

+ Em hãy nói lời an ủi của em với ông (bà) khi kính đeo mắt của ông (bà) bị vỡ.

- Giáo viên chấm điểm.

- Giáo viên gọi 2 học sinh khác đọc đoạn văn “Kể ngắn về gia đình em”.

- Giáo viên nhận xét, cho điểm.



B. Dạy bài mới:

1. Giới thiệu bài:(1’)

Các em đã biết kể ngắn về gia đình, biết an ủi khi người khác gặp nỗi buồn hay có sự bất hạnh.

Vậy khi bạn bè hoặc người thân có niềm vui ta cần phải làm gì? Cần kể về anh, chị, em trong gia đình bằng tình cảm như thế nào? Cô mời các em đi tìm hiều bài học ngày hôm nay :

“Chia vui – Kể ngắn về anh chị em”.

- Giáo viên ghi bảng.

2. Hướng dẫn học sinh làm bài tập:(28’)

Bài 1: (Miệng).

- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa.

+ Tranh vẽ mấy nhân vật?

+ Đó là những ai?

+ Bé Nam đang làm gì?


+ Nét mặt hai chị em như thế nào?

- Giáo viên giảng: Chị Liên vừa đoạt giải nhì trong kỳ thi học giỏi tỉnh. Chị rất vui vì đã đạt được thành tích này. Là em trai bé Nam đem hoa tặng chị và Nam còn nói gì với chị ? Em hãy nhắc lại lời của bé Nam.

- Giáo viên nhắc nhở học sinh nói tự nhiên thể hiện sự vui mừng của em trai trước thành công của chị.

- Giáo viên khen học sinh nói lời chia vui của Nam tốt nhất.

+ Nam đã nói lời chia vui với chị khi nào ?

GV kết luận: Khi bạn hoặc người thân có niềm vui ta cần biết chúc mừng bạn, người thân đó. Sự chúc mừng đem lại niềm vui cho mình và niềm vui cho bạn. Để hiểu kĩ hơn nữa chúng ta cùng tìm hiểu bài tập 2

Bài 2: (Miệng)

- GV phân tích lại yêu cầu.

+ Bài yêu cầu em làm gì?

+ Để làm gì ?

- Giáo viên nhắc học sinh không được nhắc lại lời của Nam.

- GV khuyến khích học sinh bày tỏ lời chúc mừng theo nhiều cách khác nhau bằng cách cho học sinh thảo luận cặp đôi.

- Giáo viên yêu cầu một vài cặp đóng vai trước lớp.

- Giáo viên tổ chức học sinh bình xét cặp thể hiện thái độ và nói lời chúc mừng tốt. Nhận xét cặp chưa đạt.

+ Khi nói lời chia vui với người khác em cần nói với thái độ thế nào?
GV kết luận: Cần nói tự nhiên với thái độ chân thành, vui mừng… khi chia vui với người khác.

Chuyển ý: Buồn vui và tình cảm của mỗi con người rất cần có sự cảm thông chia sẻ của người khác. Còn việc kể về người thân thiết trong gia đình thì kể như thế nào? Cách viết đoạn văn ra sao cô mời các em tìm hiểu tiếp sang bài 3 – GV ghi bảng

Bài 3: (viết)

Bước 1:

-GV phân tích yêu cầu bài

- Hướng dẫn HS định hướng viết.

+ Viết mấy câu?

+ Viết về ai?
+ Viết về một hay nhiều người?

+ Đoạn văn viết yêu cầu kể hay tả về người đó?

- Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý.

+ Tên người em định kể là ai?

+ Người đó hình dáng như thế nào?

+ Tính nết người đó ra sao?

+Tình cảm của em đối với người đó như thế nào?

+ Khi kể về anh (chị,em) em cần kể những gì?



GV kết luận: Ý 1 giới thiệu người định kể; ý 2 hình dáng tính nết người mình định kể; ý 3 tình cảm của bản thân đối với người đó.

- Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn:

+ Khi kể về mái tóc có thể dùng các từ: óng mượt, đen nhánh, bồng bềnh, loăn xoăn …

+Về thân hình : gầy gò, mảnh mai, vạm vỡ …

+Về nước da: hồng hào, trắng hồng, xanh xao…

+Về tính cách : Có thể dùng các từ: hiền hoà, hoà nhã, thân mật, gắt gỏng.

- Là anh chị phải dùng các từ tỏ ý kính trọng: quý mến, kính yêu, hoà nhã, hiền lành. Nếu viết về em bé có thể dùng các từ thể hiện sự trìu mến : ngây thơ, ngộ nghĩnh. Cần dùng một cách xưng hô khi viết đoạn, 2 câu liền nhau tránh lặp lại từ…

Bước 2: Học sinh viết bài vào vở

- GV hướng dẫn HS viết đoạn : chữ đầu đoạn cách lề 1 ô câu này nối câu kia. Hết đoạn mới chấm xuống dòng



Bước 3 : Chấm, chữa lỗi.

- GV chấm bài, sửa một số lỗi cơ bản về (từ, câu, ý).

- GV đọc đoạn văn mẫu cho học sinh tham khảo:“ Anh trai của em tên là Minh, năm nay đang học lớp 8. Anh không mập lắm, nước da trắng hồng, mái tóc bồng bềnh trông thật đáng yêu. Em rất thích được nghe anh kể chuyện và nhìn thấy anh cười. Em sẽ học thật giỏi để lúc nào anh cũng có thể tự hào về em".

C. Củng cố – dặn dò(2’)

+Hôm nay chúng ta học bài Tập làm văn gì?

+ Khi nào ta cần nói lời chia vui?
+ Nói lời chia vui với thái độ như thế nào?

- GV nhận xét, đánh giá tiết học.

- Dặn học sinh về đọc lại đoạn văn, tiếp tục sửa lỗi về ( câu, từ, ý) và thực hành nói lời chia vui khi bạn hoặc người thân có niềm vui.


- Học sinh nói: Bà đừng tiếc nữa bà nhé! Ngày mai mẹ cháu sẽ bảo bố cháu mua tặng bà chiếc kính khác.

- Học sinh nhận xét.
- Hai học sinh đứng tại chỗ đọc.

-2 học sinh nhắc lại đầu bài.


-Học sinh quan sát tranh.
+Tranh vẽ 2 nhân vật.

+Đó là bé Nam và chị Liên.

+ Nam đang cầm hoa tặng chị.

+Nét mặt 2 chị em rất vui.

- Học sinh nối tiếp nhau nói lời của Nam (Em chúc mừng chị sang năm được giải nhất.)

+Nam nói lời chia vui khi chị Liên có 1 niềm vui lớn.


-Học sinh đọc yêu cầu bài: “Em sẽ nói gì để chúc mừng chị Liên”.

+ Yêu cầu nói lời của em.

+ Để chúc mừng chị Liên.

- Học sinh nối tiếp nhau phát biểu ý kiến.

Ví dụ: Em xin chúc mừng chị hoặc: Chúc chị học giỏi hơn nữa. hoặc Chúc mừng chị đoạt giải

- Học sinh đóng vai nói lời chia vui.


+ Em cần nói tự nhiên với thái độ chân thành và vui mừng.


- Học sinh đọc yêu cầu bài. - Lớp đọc thầm theo: “ Hãy viết từ 3 đến 5 câu kể về anh, chị, em ruột hoặc anh, chị em họ của em”.

+ Viết từ 3 đến 5 câu.

+ Viết về anh, chị, em ruột (hoặc anh, chị, em họ)

+Viết về một người.

+Yêu cầu em kể về người đó.


- HS tự trả lời.

+ Trước tiên là giới thiệu tên sau đó đến hình dáng, tính cách và cuối cùng là tình cảm của em.

- Học sinh chú ý lắng nghe.

- HS làm vào vở.

- HS đổi vở đọc bài, nhận xét và sửa câu, từ cho bài của bạn.

- Nhiều học sinh đọc bài viết trước lớp đồng thời đọc câu bạn đã sửa cho mình , học sinh khác bổ sung.

+ Bài chia vui. Kể về anh chị em.

+ Khi người khác có niềm vui.

+Giọng tự nhiên, thái độ chân thành, vui mừng.


3. Kết quả:

Sau một thời gian áp dụng biện pháp nói trên trong việc dạy học sinh viết đoạn văn ngắn, tôi đã kiểm tra học sinh 2 lớp 2A và 2B để lấy số liệu.



Lần 1: Tuần 15 ngày 7 tháng 12 năm 2012.

Đề bài: Em hãy viết đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu nói về anh, chị, em ruột của em ( hoặc anh, chị, em họ của em).

Thời gian làm bài :15 phút

Đối tượng 70 học sinh của hai lớp 2.



1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương