Mục lục lời mở ĐẦu chưƠNG1: TỔng quan về fdi và VÀ vai trò CỦa fdi trong ngành nông nghiệP 2



tải về 215.79 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu17.02.2018
Kích215.79 Kb.

Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt NamNhóm 6

MỤC LỤC




MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ FDI VÀ VÀ VAI TRÒ CỦA FDI TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP 2

1.2. Vai trò của FDI với phát triển nông nghiệp 9



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TỪ 2007 ĐẾN NAY 13

2.1. Thực trạng thu hút vốn FDI vào nông nghiệp tại Việt Nam 13

2.2 Hạn chế trong việc thu hút đầu tư FDI vào nông nghiệp 18

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ FDI VÀO NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 22

KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28



LỜI MỞ ĐẦU


Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và phụ thuộc chính vào nông nghiệp. Do vậy, vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và là một trong những mục tiêu hàng đầu trong định hướng phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã đẩy nhanh quá trình lưu chuyển dòng vốn trên thế giới, đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Ở nước ta, đặc biệt kể từ khi ra nhập WTO, dòng vốn FDI đã góp phần tạo nên những chuyển biến quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, có một thực tế là trong khi vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ ngày càng tăng, thì vốn FDI vào lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp lại có xu hướng giảm, chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu vốn FDI.

Hơn nữa, so với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các lĩnh vực khác, hiệu quả thực hiện các dự án FDI trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn rất hạn chế, chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, thế mạnh của nước ta trong lĩnh vực này.

Xuất phát từ lý do trên, nhóm tiểu luận chúng em đã chọn đề tài: “Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam từ năm 2007 đến nay: Thực trạng và giải pháp” nhằm nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp đồng thời đưa ra một số gợi ý góp phần tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực này. Bài tiểu luận gồm 3 phần chương:

Chương 1: Tổng quan về FDI và vai trò của FDI trong nông nghiệp

Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào nông nghiệp tại Việt Nam từ năm 2007 đến nay

Chương 3: Giải pháp tăng cường thu FDI vào nông nghiệp tại Việt Nam

CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ FDI VÀ VÀ VAI TRÒ CỦA FDI TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP


  1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

  1. Khái niệm FDI

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các quốc gia muốn phát triển thì không thể đóng cửa, chỉ dựa vào nguồn lực của đất nước mình mà phải hội nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển kinh tế. Nguồn vốn FDI là một trong những nguồn vốn được các quốc gia rất quan tâm, kể cả nước phát triển và các nước đang phát triển.

Có nhiều khái niệm về FDI được đưa ra:

Khái niệm của tổ chức Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) :

FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp ” (BPM5, fifth edition).

Khái niệm của tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO):

Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm như sau về FDI:

Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Khái niệm chỉ ra điểm khác biệt cơ bản giữa FDI và các hình thức đầu tư nước ngoài khác là quyền kiểm soát công ty. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu vốn tối thiểu không phải luôn luôn là 10%, phụ thuộc vào quy định của pháp luật đầu tư từng quốc gia. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là nhà đầu tư gián tiếp.

Theo quy định của Việt Nam: Luật đầu tư năm 2005 không đưa ra khái niệm về FDI, nhưng có quy định “ Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”(Điều 3, khoản 2) và “ Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”( Điều 3, khoản 12). Từ hai khái niệm trên có thể hiểu FDI theo tinh thần của luật Đầu tư 2005 là “ FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Nói tóm lại, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở một nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.



  1. Đặc điểm của FDI

  • FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: theo cách phân loại FDI của nhiều tài liệu cũng như theo quy định pháp luật của nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, luật pháp của một số nước (ví dụ như Việt Nam) quy định trong trường hợp đặc biệt FDI có thể tham gia góp vốn của Nhà nước. Dù chủ thể là tư nhân hay Nhà nước, cũng cần khẳng định FDI có mục tiêu ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư hay là các nước đang phát triển phải đặc biệt lưu ý khi tiến hành thu hút FDI. Các nước tiếp nhận vốn đầu tư cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.

  • Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn đầu tư tối thiểu: Quyền kiểm soát hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp nhận đầu tư của các chủ đầu tư nước ngoài được quyết định dựa trên tỷ lệ vốn đóng góp tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của pháp luật từng nước. Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Một số nước chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ tham gia liên doanh với số cổ phẩn nắm giữ tối đa là 49%.

Tỷ lệ đóng góp của mỗi bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời rủi ro, lợi nhuận cũng được phân chia theo tỷ lệ này..

  • Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền chọn hình thức đầu tư, lĩnh vực, quy mô đầu tư, quy trình sản xuất, công nghệ sử dụng, do đó sẽ tự đưa ra các quyết định có lợi nhất cho họ.

  • FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho nước nhận đầu tư: Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp cận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý. Đây là đặc điểm rất quan trọng của vốn FDI, đặc biệt với các nước đang và kém phát triển, khi mà trình độ quản lý, khoa học kỹ thuật còn thấp, đầu tư cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật còn hạn chế hoặc không có đủ điều kiện để tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển. Thu hút nguồn vốn FDI không những cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế mà còn góp phần cải thiện, nâng cao trình độ công nghệ trong nước. Đây cũng là ưu thế lớn nhất của FDI so với các dòng vốn từ bên ngoài khác.

  1. Phân loại FDI

  1. Theo định hướng của chủ đầu tư

Theo tiêu chí này, FDI được chia thành hai hình thức:

  • FDI phát triển (expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận dầu tư. Hình thức đầu tư này giúp chủ đầu tư tăng lợi nhuận bằng các tăng doanh thu mở rộng thị trương ra nước ngoài.

  • FDI tìm kiếm thị trường (defensive FDI): nhằm khia thác nguồn lao động rẻ ở các nước nhận đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy lợi nhuận của các chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên.

  1. Theo định hướng của nước nhận đầu tư

Theo tiêu chí này, FDI được chia thành ba hình thức:

  • FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm trước đây còn phải nhập khẩu. Các yếu tố ảnh hưởng đến hình thức FDI này là dung lượng thị trường, các rào cản thương mại của các nước nhận đầu tư và chi phí vận tải.

  • FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn trên thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư. Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm.

  • FDI theo các định hướng khác của chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước mình theo đúng ý đò của mình, ví dụ như tăng cường thu hút FDI để giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán.

  1. Theo cách thức thâm nhập

Có hai hình thức chủ yếu là đầu tư mới- Greenfield Investment (GI) và mua lại sáp nhập qua biên giới- Cross-border Merger and Acquisition (M&A)

  • Đầu tư mới –GI: Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư. Hình thức này thường được các nước nhận đầu tư đánh giá cao vì nó có khả năng tăng thêm vốn, tạo thêm việc làm và giá trị gia tăng cho nước này.

  • Mua lại và sáp nhập qua biên giới -M&A:Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sát nhập một cơ sỏ sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư. Theo quy đinh của Luật Cạnh tranh được Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005: Sáp nhập là việc một hoặc một số doanh ngiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Mua lại (acquisition) là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hay một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. FDI chủ yếu diễn ra dưới hình thức mua lại. M&A được nhiều chỉ đầu tư ưa chuộng hơn hình thức đầu tư mới vì chi phí đầu tư thường thấp hơn và cho phép chủ đầu tư tiếp cận thị trường nhanh hơn.

1.1.3.4. Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư

Theo tiêu chí này, FDI được chia thành 3 hình thức:



  • FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác tài nguyên, nhiên vật liệu (Backward vertical FDI) hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI). Như vậy, doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư nằm trong cùng một dây chuyền sản xuất và phân phối cùng một sản phẩm.

  • FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước chủ đầu tư. Như vậy, yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hinhg thức FDI này chính là sự khác biệt sản phẩm. Thông thường, FDI theo chiều ngang được tiến hành nhằm tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm đặc biệt khi việc phát triển ở thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền.

  • FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp cận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.

1.1.3.5. Theo hình thức pháp lý

Tùy theo quy định của pháp luật nước nhận đầu tư, FDI được tiến hành được nhiều hình thức pháp lý khác nhau. Ở Việt Nam, FDI được tiến hành dưới các hình thức pháp lý chủ yếu sau:



  • Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó quy định trách nhiệm chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.

Hình thức FDI này có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài. Điểm đặc biệt của hình thức này là không hình thành pháp nhân mới (các bên đối tác thực hiện quyền và nghĩa vụ của hợp đồng với tư cách pháp nhân cũ của mình). Hình thức này thường áp dụng đối với một số ngành kinh tế đặc biệt như viễ thông, dầu khí,… hoặc chỉ áp dụng khi các chủ đầu tư nước ngoài thâm nhập vào một thị trường mới mà họ chưa biết rõ.

  • Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên, trường hợp đặc biệt có thể thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài, để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Trong hình thức FDI này, cụng có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và lag pháp nhân Việt Nam.

  • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

Khác với hai hình thức trên, hình thức FDI này không có sự tham gia của chủ đầu tư Việt Nam. Cũng giống như liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam.

Ngoài ra FDI ở Việt Nam còn được tiến hành bằng các hình thức Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Xây dựng – Chuyển giao (BT).


1.2. Vai trò của FDI với phát triển nông nghiệp


  1. FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp

Để phát triển bất kì lĩnh vực kinh tế nào, nguồn vốn luôn là yếu tố giữ vai trò quyết định. Đặc biệt tại các nước đang phát triển, nền nông nghiệp còn lạc hậu, do vậy để phát triển nông nghiệp đòi hỏi cần phải có một nguồn vốn đầu tư lớn. Tuy nhiên thực tế là nguồn vốn đầu tư trong nước dành cho lĩnh vực thường khá hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn cho ngành. Vì vậy việc thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có nguồn vốn FDI càng trở nên quan trọng và được các nước chú trọng hơn bao giờ hết, thể hiện qua các chính sách ưu đãi đầu tư mà hầu hết các quốc gia dành cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

  1. Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Dòng vốn FDI không những bổ sung nguồn vốn cho nông nghiệp mà còn góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên cả ba lĩnh vực:

Đối tượng của nông nghiệp: các dự án FDI góp phần đa dạng hóa đối tượng sản xuất như cây trồng, vật nuôi, như tạo ra các giống cây, con mới, cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao; hoặc các giống cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện hoàn cảnh riêng của từng quốc gia…

Loại sản phẩm: các dự án FDI không chỉ tập trung vào khâu sản xuất, đầu tư vào các khu nguyên liệu, và còn tập trung vào khâu chế biến, tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm.

Quy mô sản xuất: Vốn FDI vào nông nghiệp góp phần mở rộng quy mô sản xuất, đặc biệt tại các nước nông nghiệp lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu tập trung.



  1. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ cho ngành

Cùng với vốn đầu tư, công nghệ là yếu tố quan trọng để xây dựng một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại. Các quốc gia muốn có công nghệ phải đầu tư cho nghiên cứu và phát triển hoặc nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Đây là khó khăn lớn đối với các nước đang và kém phát triển. Do vậy FDI chính là nguồn cung cấp công nghệ hiện đại cho nền kinh tế và ngành nông nghiệp thông qua chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI.

Công nghệ áp dụng trong nông nghiệp rất đa dạng như công nghệ sinh học phục vụ sản xuất các giống cây trồng, vật nuôi; công nghệ sản xuất, thu hoạch; công nghệ chế biến lâm sản; công nghệ phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên đất, nước, thủy lợi, tưới tiêu…

Áp dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp đã tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi mới phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Công nghệ sản xuất và thu hoạch góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và thu hoạch sản phẩm. Đối với nguồn tài nguyên đất, nước, những yếu tố sống còn với sản xuất nông nghiệp, việc duy trì và nâng cao chất lượng các nguồn tài nguyên này là hết sức quan trọng.

Công nghệ trong thủy lợi, tưới tiêu cũng là một phần hết sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Ở các nước đang phát triển, hệ thống thủy lợi thường chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu nước phục vụ sản xuất. Một số vùng trồng cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, người sản xuất cũng không đủ nước cho sản xuất, trong khi đây lại là những mặt hàng xuất khẩu mang lại giá trị cao cho các quốc gia.



  1. Thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông sản

Khi xem xét yếu tố thị trường tiêu thụ cho sản phẩm, các dự án FDI đầu tư vào nông nghiệp không chỉ hướng vào phục vụ nhu cầu trong nước mà có tỷ trọng xuất khẩu nhất định. Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư với mong muốn tận dụng tới đa lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư để thu lợi nhuận cao sẽ có xu hướng đẩy mạnh sản xuất hướng về xuất khẩu. Kết quả là, nguồn vốn FDI vào ngành nông nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu nông sản ở các nước nhận đầu tư.

Ngoài ra, việc thu hút FDI vào nông nghiệp còn giúp tận dụng được lợi thế về vốn, công nghệ sản xuất của nhà đầu tư nước ngoài, giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng khả năng khả năng cạnh tranh, phát triển thương hiệu nông sản quốc gia trên thị trường thế giới. Bản thân các doanh nghiệp nội địa khác cũng có thêm cơ hội gia tăng xuất khẩu sản phẩm của mình từ sự lớn mạnh của thương hiệu quốc gia.

Mặt khác, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI còn có tác động tới các doanh nghiệp trong nước như thúc đẩy trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp và thị trường, làm cho họ ý thức hơn về khả năng xuất khẩu nông sản, tăng cường hiểu biết hoạt động Marketing, đẩy mạnh tham gia vào hệ thống phân phối toàn cầu. Xuất khẩu nông sản của các doanh nghiệp nội địa phần nào cũng được đẩy mạnh nhờ các tác động ngoại ứng này

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TỪ 2007 ĐẾN NAY

2.1. Thực trạng thu hút vốn FDI vào nông nghiệp tại Việt Nam


Ngành nông nghiệp đóng góp bình quân hàng năm trên 17% GDP nhưng tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 6,45% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội vào năm 2008, 6,15% vào năm 2010 và chỉ ở mức 5,98% trong năm 2012. Năm 2013, vốn đầu tư cho nông nghiệp có tăng, nhưng cũng chỉ đáp ứng từ 50 đến 60% nhu cầu của khu vực nông nghiệp. Trong khi đó, tình hình thu hút FDI vào khu vực nông nghiệp cũng không mấy thuận lợi.

2.1.1. Số lượng dự án và vốn đầu tư trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng FDI của cả nước, chưa xứng đáng với tiềm năng

  Trong tổng vốn 230,16 tỷ USD còn hiệu lực đến cuối tháng 12 - 2013 chỉ có 3,35 tỷ USD đầu tư vào nông, lâm nghiệp, thủy sản với khoảng 500 dự án, bằng 3,18% so với tổng số dự án đang được đầu tư (15,696 dự án). Dòng vốn FDI vào nông, lâm, thủy sản là quá nhỏ cả về quy mô dự án và tỷ trọng vốn đầu tư so với tổng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) của cả nước. Mặc dù trong tổng thể chính sách thu hút đầu tư, nông nghiệp và phát triển nông thôn luôn được coi là lĩnh vực khuyến khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư nhưng dường như các nhà ĐTNN vẫn không mấy mặn mà, thể hiện qua tỷ trọng vốn thấp, thiếu ổn định. Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, nếu năm 2007, đầu tư FDI vào nông nghiệp chiếm 5,37% tổng vốn FDI vào Việt Nam thì đến năm 2008 còn 3%, các năm 2009, 2010, 2011 chỉ còn 1%, còn 0,6% năm 2012 và 0,49% năm 2013.

Trong giai đoạn 2007 - 2013, nền kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều biến động khiến hoạt động sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao… Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn đóng góp bình quân trên 17% GDP (dù năm 2010 và 2011 tỷ lệ này có giảm xuống còn 16,43% và 16,13%). Năm 2012, ngành nông nghiệp trở thành “cứu cánh” của nền kinh tế với mức đóng góp 22% GDP.

Có mức đóng góp như vậy, nhưng tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp chỉ chiếm 6,45% vào năm 2008, 6,15% vào năm 2010 và chỉ ở mức 5,98% trong năm 2012.



Tỷ trọng vốn FDI vào nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013

Đơn vị; %




Nông, lâm, ngư nghiệp

Các ngành khác

2007

5,37

94,63

2008

3

97

2009

1

99

2010

1

99

2011

1

99

2012

0,6

99,4

2013

0,49

99,51

Nguồn: Tính toán từ báo cáo FDI hàng năm của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư

Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu của toàn ngành và năm 2013, vốn đầu tư cho nông nghiệp có tăng, nhưng cũng chỉ đáp ứng 50 - 60% nhu cầu của khu vực nông nghiệp.



Trong khi đó, tình hình thu hút FDI vào khu vực nông nghiệp cũng không mấy thuận lợi. Trong giai đoạn 2007 - 2013, đầu tư FDI vào nông nghiệp chiếm chỉ chiếm cao nhất là 5,37% (năm 2007), thấp nhất là 0,49% (năm 2013) . Đây là mức quá thấp so với một ngành có diện tích đất đai, mặt nước… và lực lượng lao động tập trung lớn. Bên cạnh đó, nếu tính tổng số các dự án được cấp giấy phép còn hiệu lực tính hết năm 2011, thì toàn bộ khu vực nông nghiệp của Việt Nam còn 495 dự án với vốn đăng ký đầu tư ở mức 3.264,5 triệu USD. Mức vốn này chỉ chiếm 1,64% tổng vốn đăng ký đầu tư vào Việt Nam. Số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, năm 2012, tính chung cả vốn đăng ký mới và tăng thêm, Việt Nam thu hút được 13,013 tỷ USD vốn FDI, thì chỉ có 87,8 triệu USD được "rót" vào nông nghiệp, tức là chỉ chiếm hơn 0,6% tổng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2012. Tính luỹ kế đến hết năm 2012, Việt Nam đã thu hút được 213,651 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn FDI đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chỉ là 3,357 tỷ USD. Tức là chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Còn tính lũy kế đến hết năm 2013, lĩnh vực nông nghiệp chỉ thu hút được 3,359 tỷ USD so với 234,120 tỷ USD tổng vốn FDI vào Việt Nam, tức là chỉ chiếm có 1,43%.

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO NGÀNH

(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 15/12/2013)
















TT

Chuyên ngành

Số dự án

Tổng vốn đầu tư đăng ký
(Triệu USD)


Vốn điều lệ
(Triệu USD)


1

CN chế biến, chế tạo

8,620

122,710.83

43,910.52

2

KD bất động sản

406

48,876.94

12,496.54

3

Dv lưu trú và ăn uống

343

10,749.00

2,771.02

4

Xây dựng

1,029

9,866.82

3,634.94

5

SX,pp điện, khí,nước,đ.hòa

91

9,530.18

2,043.41

6

Thông tin và truyền thông

910

4,001.46

2,244.84

7

Nghệ thuật và giải trí

143

3,677.07

1,078.96

8

Vận tải kho bãi

374


3,536.51

1,083.34

9

Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa

1,082

3,489.75

1,760.81

10

Nông,lâm nghiệp;thủy sản

501

3,354.23

1,735.13

11

Khai khoáng

81

3,261.85

2,606.43

12

HĐ chuyên môn, KHCN

1,504

1,510.55

892.47

13

Tài chính,n.hàng,bảo hiểm

78

1,322.65

1,172.71

14

Y tế và trợ giúp XH

89

1,311.70

327.28

15

Cấp nước;xử lý chất thải

31

1,285.33

315.71

16

Dịch vụ khác

126

746.70

158.95

17

Giáo dục và đào tạo

171

731.70

169.05

18

Hành chính và dvụ hỗ trợ

117

193.90

101.01




Tổng số

15,696

230,157.16

78,503.14

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013
Từ những số liệu của năm 2013, ta có thể nhận thấy rằng, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng, hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật,…là những ngành có tính sinh lợi cao. Trong khi đó, chỉ có 3,18% số dự án trên đầu tư vào nông nghiệp với 1,45% tổng vốn đầu tư đăng kí, không có dự án nào có quy mô lớn.

Đánh giá về những con số này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho rằng, kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng cũng như những đóng góp của ngành nông nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, theo Bộ trưởng, không chỉ có FDI vào nông nghiệp giảm, mà doanh nghiệp trong nước cũng chưa "mặn mà" khi đầu tư vào nông nghiệp.



2.1.2. Vốn đầu tư FDI phân bố không đồng đều giữa các ngành trong nông nghiệp

Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả nước có 453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 tỷ USD, trong có 421 dự án đang có hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,38 tỷ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 359 triệu USD.



2.1.3. Phân bố không đồng đều theo địa phương.

Số dự án và dòng vốn FDI vào khu vực nông nghiệp đã ít, cơ cấu dự án và nguồn vốn này lại phân bổ mất cân đối trong các địa phương của cả nước. Phần lớn các dự án FDI trong khu vực nông nghiệp đều tập trung vào những địa phương có lợi thế về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, vùng nguyên liệu và điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi. 



Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp phân theo địa phương 2013

TT

Địa phương

Số dự án

Vốn đăng ký (USD)

Vốn thực hiện (USD)

Tỷ lệ vốn điều lệ (%)

1

Bình Dương

265

1109622258

450439627

20.31

2

Đồng Nai

103

1058744864

468793875

21.14

3

TPHCM

85

268579865

101309892

4.57

4

Tây Ninh

25

222527500

149407680

6.74

5

Lâm Đồng

77

172100716

105429882

4.75

6

Long An

19

150201700

56433936

2.54

7

Vũng Tàu

24

108443720

48023720

2.17

8

Nghệ An

6

105838640

50638000

2.28

9

Thanh Hóa

9

87079000

33290000

1.50

10

Ninh Bình

5

63329672

26322529

1.19

11

Cáctỉnh khác

348

1336397754

727966035

32.82

 

Tổng số

952

4682865689

2218055176

100.00

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào các tỉnh như: Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Lâm Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Trong đó, Bình Dương là tỉnh đứng đầu, tiếp theo là Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Lâm Đồng. Trong khi đó, những địa phương và khu vực khác lại thu hút FDI rất khó khăn.



2.1.4. Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư và nguồn gốc đầu tư

Những nước có nền nông nghiệp tiên tiến như Mỹ, Australia, Canada... đều không đầu tư vào nông nghiệp Việt Nam. Các nhà đầu tư phần lớn đến từ châu Á (70%), trong đó 1/3 vốn đăng ký của nhà đầu tư Đài Loan và Hồng Kông. Hiện nay có hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI còn hiệu lực trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam, trong đó các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan chiếm hơn 60% tổng vốn đăng ký, riêng Đài Loan là 25%. Vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp được thực hiện chủ yếu dưới 2 hình thức là:



  • Hình thành doanh nghiệp liên doanh chiếm 22,1%

  • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 77,4%

(Theo Cục Đầu tư nươc ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013)

Các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Pháp, Thái Lan, Hàn Quốc, Xin-ga-po, Mỹ thường thực hiện đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trong khi đó, các nhà đầu tư đến từ Pháp, Hồng Kông, Ma-lay-xi-a chủ yếu lựa chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh.


2.2 Hạn chế trong việc thu hút đầu tư FDI vào nông nghiệp


2.2.1. Đầu tư FDI vào nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro

Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện thời tiết, khí hậu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng đồng thời cũng đem lại những bất lợi với sự biến đổi bất thường hàng năm kèm theo các hiện tượng thời tiết như thiên tai, bão lụt, hạn hán gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất.

Thứ hai, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của dịch bệnh. Các loại sâu bệnh như rầy nây, sâu cuốn lá,… cũng đã khiến cho người nông dân tốn rất nhiều công sức và tiền của trong việc phòng trừ và dập dịch. Đặc biệt trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc gia cầm diễn biến phức tạp với các dịch cúm A H5N1 trên gia cầm, cúm H1N1 trên lợn, dịch lở mồm long móng trên trâu bò…gây ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi.

Thứ ba, địa bàn diễn ra kinh doanh nông nghiệp thường rộng lớn. Hạn chế này thể hiện rõ nhất trong ngành lâm nghiệp. Các dự án trồng rừng và cây công nghiệp gặp nhiều khó khăn về quỹ đất giành cho họ không đủ về quy mô và mức độ tập trung để sản xuất theo yêu cầu hàng hóa lớn. Tình trạng tranh chấp về đất đai trong sản xuất nguyên liệu giữa các loại cây trồng diễn ra ngày càng phổ biến đang làm nản lòng các nhà đầu tư FDI không tự bảo vệ được vùng nguyên liệu. Những địa phương có nhiều diện tích đất trồng rừng như các tỉnh Tây Bắc thì địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, khó tìm mặt bằng để đầu tư nhà máy chế biến và các hạng mục hạ tầng khác nên không hấp dẫn nhà đầu tư… Hay các dự án đầu tư FDI vào nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với những thách thức về môi trường nước không bảo đảm bền vững cho hoạt động kinh doanh.

Thứ tư, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp còn kém phát triển. Các doanh nghiệp FDI nông nghiệp thường tốn kém nhiều vốn vào đào tạo chuyên môn cho lao động và đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật của sản xuất nông nghiệp như thủy lợi nội đồng, đường liên thôn bản, hệ thống dẫn nước trong sản xuất nông nghiệp và các công trình phúc lợi cho công nhân tại các cơ sở chế biến nông sản, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong khi các doanh nghiệp FDI trong công nghiệp, thương mại không phải chịu những khoản đầu tư này. Tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản đang đòi hỏi các nhà đầu tư phải tăng thêm vốn đầu tư vào xử lý chất thải và chống ô nhiễm, làm tăng thêm chi phí sản xuất.

2.2.2. Sản xuất nông nghiệp Việt Nam quy mô nhỏ, phân tán, thiếu tính liên kết, phối hợp và không chuyên nghiệp, chưa tạo ra sức thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI.

Nông nghiệp Việt Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ với số lượng nông dân rất đông đảo cùng sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, manh mún và chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa, đa số nghèo và tâm lý phức tạp. Trong điều kiện sản xuất nhỏ, phân tán và thiếu gắn kết giữa các hộ nông dân thì ảnh hưởng không thuận lại càng tăng lên. Phương thức sản xuất không hấp dẫn các nhà đầu tư FDI trong làm ăn với nông dân ta: Các vùng sản xuất chưa được chuyên môn hóa với kết cấu hạ tầng đồng bộ; cơ cấu sản xuất chưa ổn định, thiếu tầm nhìn dài hạn, các chủ thể sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các hộ gia đình với phương thức sản xuất truyền thống, kỹ thuật giản đơn, chưa được đào tạo về chuyên môn quản lý, kỹ thuật. Họ tự quyết định đầu tư mua sắm vật tư sản xuất như giống cây, con, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, trả công lao động, cải tạo đồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi…trong điều kiện thiếu các dịch vụ cung ứng chuyên nghiệp đã tạo ra chất lượng các đầu vào thấp, làm cho sản xuất của nông dân không thể nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp vốn là khách quan, ảnh hưởng không thuận đến động lực đầu tư.

Ngoài ra, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng chưa phát triển đủ mạnh và toàn tâm phục vụ nông nghiệp, chưa tạo đủ vốn tín dụng cho người sản xuất nông nghiệp đã làm tăng gánh nặng về vốn tiền mặt ngắn hạn lên các doanh nghiệp nói chung và nhà đầu tư FDI nói riêng trong việc thu mua sản phẩm của nông dân, dẫn đến làm suy giảm động lực của họ trong đầu tư vào nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp chưa hình thành được các chuỗi giá trị bền vững từ cung ứng đầu vào, canh tác trên đồng ruộng, thu hoạch, đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ, tình trạng chia cắt, tranh chấp đã tạo ra thị trường nông sản nguyên liệu không lành mạnh, mang tính phổ biến làm nản lòng các doanh nghiệp và nhà đầu tư FDI.

2.2.3. Nhà nước chưa có chiến lược, định hướng rõ ràng, phù hợp để thu hút FDI vào nông nghiệp.

Mặc dù nhà nước đã có nhiều chính sách về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng trong lĩnh vực nông nghiệp, các chính sách này chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, đặc biệt là trong việc phát triển vùng nguyên liệu. Nhiều cơ chế, chính sách về quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu nông sản cho các dự án FDI đã cấp phép nhưng lại không được thực thi trong thực tế. Số lượng và chất lượng nguyên liệu ở Việt Nam không phù hợp với dây chuyền công nghệ của nhà đầu tư, việc phát triển vùng nguyên liệu khó khăn do điều kiện hạ tầng kém, thời tiết phức tạp…Nhiều vùng sản xuất nguyên liệu nông sản chưa có quy hoạch, hoặc đã có nhưng không được thực thi nghiêm túc để tạo vùng sản xuất tập trung có uy tín, có thương hiệu với hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ và đầy đủ theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa lớn cho toàn vùng. Bên cạnh đó, do thiếu chế tài hữu hiệu quản lý các vùng sản xuất tập trung nên đã tạo ra sự phát triển tự do, cạnh tranh tùy tiện và cả độc quyền vô nguyên tắc đã làm cho thị trường nguyên liệu nông sản trong vùng trở nên hỗn loạn, lúc tăng, lúc giảm và tình trạng này lại được một bộ phận các nhà quản lý cả ở trung ương và địa phương xem là “đúng theo quy luật của cơ chế thị trường” đã dẫn đến kết cục là không tạo được vùng nguyên liệu phát triển ổn định, không hấp dẫn được vốn FDI. Các danh mục dự án quốc gia gọi vốn do Chính phủ ban hành thường ít chú trọng những thông tin cụ thể về lĩnh vực nông nghiệp. Thông tin về từng dự án trong danh mục dự án quốc gia gọi vấn còn rất sơ lược, thiếu chuẩn xác, chưa chỉ rõ các vùng đầu tư ở đâu và điều kiện thế nào, và đặc biệt mang nặng mong muốn chủ quan của cơ quan chủ quản và các doanh nghiệp Việt Nam, chưa tính đến động lực và lợi ích thực tế của nhà đầu tư FDI nên không thu hút được quan tâm của nhà đầu tư FDI. Ví dụ như các dự án mía đường gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư, phát triển và duy trì các vùng mía mà nhà nước đã quy hoạch cho họ. Hay các dự án chế biến gỗ, sữa, dầu thực vật không thể thực hiện đúng quy định sử dụng nguyên liệu trong nước với nhiều lý do khác nhau. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt tháng 1 - 2006, nhưng các vùng thủy sản vẫn chưa được hình thành trong cả nước đã gây trở ngại cho thu hút FDI vào lĩnh vực này.



2.2.4. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đối với các nhà đầu tư FDI trong nông nghiệp thiếu rõ ràng và minh bạch.

Các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục đầu tư và tổ chức hoạt động của các dự án FDI trong nông nghiệp chưa tính hết những đặc thù như: chứa đựng nhiều rủi ro trong kinh doanh; khả năng tiên lượng về thị trường khó khăn; các mối quan hệ giữa các tác nhân trong triển khai dự án phức tạp hơn so với dự án FDI trong công nghiệp, xây dựng và thương mại…Các quy định của luật pháp về đầu tư FDI hiện nay ít phù hợp với ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan địa phương trong thẩm định, cấp phép dự án chưa nghiêm túc và rõ ràng, làm nhà đầu tư mất nhiều thời gian, chi phí giao dịch, nhất là các dự án nhạy cảm về môi trường sinh thái… Các quy định về chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư FDI trong nông nghiệp còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu chỉ rõ các điều kiện và tiêu chí áp dụng, vì vậy chỉ nằm trên giấy, không vận hành vào thực tiễn. Hầu hết các dự án FDI trong lĩnh vực này cần vùng nguyên liệu tập trung, đều gặp phải sự trắc trở, thậm chí là bế tắc trong tiếp cận đất đai. Nhiều dự án trồng rừng, trồng mía công nghiệp gặp khó khăn do chỉ được giao một phần nhỏ diện tích đất trồng rừng so với quy định tại giấy phép đầu tư. Các dự án trồng và chế biến rau quả gặp cản trở trong thuê đất và quan hệ với nông dân về đất đai. Các dự án thủy sản gặp khó khăn trong giao mặt nước cho nuôi trồng thủy sản ở các vùng biển do trở ngại về môi trường sinh thái trong điều kiện năng lực quản lý của Việt Nam còn hạn chế. Chính sách tín dụng chưa hỗ trợ cho các dự án FDI; các hoạt động tín dụng tại chỗ chưa hậu thuẫn cho triển khai các dự án FDI, cho rằng chủ đầu tư không cần nguồn tín dụng này…



2.2.5. Tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam còn nhiều vấn đề mâu thuẫn, phức tạp khó xử lý.

Tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu về nguyên liệu cho chế biến nông sản diễn ra phổ biến, liên tục và ngày càng nan giải. Tình trạng nông dân không gắn hoạt động sản xuất nông sản nguyên liệu của họ với hoạt động thu mua, chế biến của các doanh nghiệp đang đẩy tới tình trạng tranh chấp trong mua – bán nguyên liệu vừa đẩy giá nguyên liệu lúc lên cao, lúc xuống thấp diễn ra phổ biến gây bất lợi cho cả người nông dân sản xuất, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và cả lĩnh vực nông nghiệp nói chung. Phần lớn nông sản (tới 90%) được tiêu thụ ở dạng tươi sống và chế biến thô, giá trị gia tăng thấp và không có thương hiệu, nguồn gốc Việt Nam.


CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ FDI VÀO NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM


Mục tiêu hàng đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là tìm kiếm lợi nhuận. Vậy mà đầu tư FDI vào nông nghiệp có lợi nhuận thấp, thu hồi vốn chậm; thường xuyên bị thiên tai, dịch bệnh tàn phá; sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn còn ở quy mô nhỏ, ruộng đất manh mún, nhất là công tác xúc tiến FDI vào nông nghiệp thiếu bài bản, chưa có định hướng và chiến lược rõ ràng, thiếu nguồn lực và kinh phí khi triển khai xúc tiến đầu tư, quảng bá sản phẩm. Vì vậy, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm cả nông - lâm - ngư nghiệp) hiện đang rất khiêm tốn và thậm chí đang có xu hướng giảm dần. Cho nên, việc cấp thiết hiện nay là gỡ những “nút thắt” để dòng vốn này chảy vào khu vực nông nghiệp nông thôn. Sau đây là một số giải pháp mà nhóm chúng em đưa ra:

  1. Chính sách hỗ trợ, ưu đãi các dự án FDI trong nông nghiệp

Các dự án FDI trong nông nghiệp được xem thuộc diện khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư và Nhà nước đã áp dụng biện pháp ưu đãi đầu tư với các hình thức: miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, tiền thuê đất và các hình thức ưu đãi khác. Trong những năm tới cần tiếp tục những hình thức ưu đãi và hỗ trợ này, tuy nhiên để thực hiện những cam kết WTO của Việt Nam về chính sách hỗ trợ nông nghiệp thì việc xem xét để chỉnh sửa các quy định về ưu đãi và hỗ trợ các nhà đầu tư FDI trong nông nghiệp cho phù hợp với cam kết là cần thiết. Cụ thể là:

- Tiếp tục duy trì và mở rộng các ưu đãi, hỗ trợ hiện hành đối với các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cần loại bỏ các tiêu chí về khuyến khích xuất khẩu và ưu tiên sử dụng nguyên liệu trong nước;

- Tăng cường các biện pháp hỗ trợ thuộc hộp xanh lá cây. Bao gồm: các biện pháp cho nông dân vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu nông sản phục vụ công nghiệp chế biến; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản; áp dụng hạn ngạch thuế quan thay thế cho biện pháp cấm và áp dụng hạn ngạch về khối lượng nhập khẩu đối với một số mặt hàng như đường, sữa đồng thời đánh thuế nhập khẩu theo mùa; áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu cao đối nhập khẩu nguyên thô phục vụ chế biến như đường thô, sữa bột…

- Tiếp tục áp dụng biện pháp ưu đãi thuế thu nhập đối với các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất các loại giống mới, dự án phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp.

- Có chính sách trợ cấp cho nông dân và các doanh nghiệp nông nghiệp khi bị tổn thất vì thiên tai, bị rủi ro về biến động giá thị trường nông sản. Trong điều kiện hạn chế về tài chính, cần tiếp tục nghiên cứu giải pháp hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp nhằm tăng năng lực phòng chống thiên tai, hạn chế rủi ro dịch bệnh, biến động giá nông sản… Chú trọng biện pháp lập và sử dụng quỹ bảo hiểm nông nghiệp cho các trường hợp này.


  1. Chính sách vốn tín dụng cho dự án FDI

Hiện nay nguồn vốn tín dụng cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu từ các nguồn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng người nghèo, các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia và nguồn của một số ngân hàng cổ phần hoạt động ở nông thôn, điển hình là ngân hàng Liênvietbank…nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nông dân và doanh nghiệp. Do vậy, cần phát triển mở rộng phần cung của thị trường vốn tín dụng tại các vùng nông nghiệp nói chung và vùng có các dự án FDI nói riêng theo những hướng sau:

- Xem xét để xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận nguồn tín dụng của các ngân hàng có nguồn vốn nhà nước. Theo đó, các dự án FDI trong nông nghiệp cũng là đối tượng được hưởng cả 3 chế độ tín dụng từ Ngân hàng phát triển gồm: vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư và bảo lãnh tín dụng. Đồng thời, cần tạo điều kiện về thủ tục để các doanh nghiệp FDI được tiếp cận thuận lợi nguồn tín dụng ưu đãi này.

- Hướng dẫn kênh hỗ trợ vốn tín dụng ngân hàng cho các dự án FDI trong lĩnh vực nông nghiệp từ Ngân hàng phát triển để tạo nguồn vốn bổ sung cho các doanh nghiệp FDI đang triển khai một số dự án đầu tư tạo giống, sản xuất sản phẩm xuất khẩu…

- Áp dụng cơ chế bảo lãnh, thế chấp để doanh nghiệp FDI có dự án đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được tiếp cận thuận lợi.



  1. Chính sách về đất đai, mặt nước tạo thuận lợi cho dự án FDI

Vì hoạt động nông nghiệp diễn ra trên một quy mô rộng lớn, yêu cầu về đất đai và mặt nước rất cao nên để có thể tăng cường thu hút FDI vào nông nghiệp, cần mạnh dạn thực hiện các chính sách sau:

- Chính quyền địa phương chủ động quy hoạch vùng nguyên liệu nông sản cho nhà đầu tư gắn với các hình thức chuyển giao quyền sử dụng đất từ nông dân sang nhà đầu tư trên cơ sở thỏa thuận giữa nhà đầu tư với doanh nghiệp theo quy định của Luật đất đai hiện hành về các hình thức cho thuê hoặc góp vốn bằng đất để cùng kinh doanh nông nghiệp.

- Mở rộng và đảm bảo quyền lợi của người nông dân trong việc chuyển giao quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư, đi đôi với đảm bảo khả năng sử dụng đất ổn định theo quy hoạch của nhà đầu tư. Đơn giản hóa thủ tục trong việc xác nhận hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận chuyển giao quyền sử dụng từ nông dân sang nhà đầu tư, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư có tài sản hợp pháp về đất để thế chấp khi cần vay vốn tại các tổ chức tín dụng để đầu tư theo nhu cầu của dự án.

- Từng địa phương tiến hành quy hoạch lại việc sử dụng các loại đất của các dự án FDI trong nông nghiệp và xác định kế hoạch sử dụng đất lâu dài cho từng dự án FDI trong nông nghiệp trên địa bàn và chính thức hóa vào hồ sơ rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.



  1. Chính sách hỗ trợ nhà đầu tư FDI phát triển vùng nguyên liệu

Việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, có chất lượng cao và nằm trong sự kiểm soát của nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của các dự án FDI trong nông nghiệp hiện nay. Vì vậy, cần khuyến khích các nhà đầu tư cùng với Chính phủ Việt Nam đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu trong nước để đáp ứng đúng yêu cầu kinh doanh của nhà đầu tư và đảm bảo lợi ích của nông dân đã chuyển giao quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư FDI. Chính sách cùng đầu tư phát triển vùng nguyên liệu nông sản nên theo định hướng sau:

- Ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn dưới hình thức cho nhà đầu tư FDI vay để xây dựng các hạng kết cấu hạ tầng cứng và mềm cần thiết và sử dụng lâu dài tại vùng nguyên liệu.

- Ngân sách nhà nước và các tổ chức dụng triển khai các hình thức tín dụng ưu đãi cho nông dân và doanh nghiệp để đầu tư trực tiếp vào cây trồng để tạo vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu kinh doanh có hiệu quả.

- Chính quyền tỉnh và các huyện có vùng nguyên liệu của dự án FDI có trách nhiệm bảo vệ và duy trì các vùng nguyên liệu đã quy hoạch cho dự án FDI để đảm bảo cung cấp đầy đủ nguyên liệu tập trung cho nhà đầu tư.

- Xác định quyền và trách nhiệm cho nhà đầu tư trong việc đưa ra các biện pháp bảo vệ vùng nguyên liệu của họ. Nhà nước nghiên cứu đưa ra các quy định phù hợp về cả quyền và trách nhiệm của nhà đầu tư với vùng nguyên liệu, đủ đảm bảo giúp nhà đầu tư duy trì và phát triển các vùng nguyên liệu, đồng thời có chính sách hỗ trợ nhà đầu tư xây dựng hạ tầng của vùng nguyên liệu theo quy hoạch. Đồng thời nhà nước sẽ cùng nhà đầu tư chăm lo xây dựng các cơ sở văn hóa giáo dục, cơ sở hạ tầng của nông thôn của các cộng đồng dân cư vùng nguyên liệu nhằm gắn lợi ích của họ với vùng nguyên liệu.


  1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực

Để khắc phục những yếu kém và nâng cao tính hấp dẫn của nguồn nhân lực trong các dự án FDI trong nông nghiệp, Nhà nước cần có chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhiều mặt cho lực lượng lao động làm việc cho các dự án này. Chính quyền các tỉnh hỗ trợ các nhà đầu tư tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn đội ngũ lao động trực tiếp và lao động gián tiếp cả về kiến thức ngoại ngữ, chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Phát triển hệ thống đào tạo nghề ở nông thôn, hệ thống khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật, kiến thức kinh tế và kiến thức về thị trường cho người lao động tại chỗ, trong đó có lao động làm việc cho FDI. Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể địa phương trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư FDI tiếp cận người dân, gia đình những người làm việc cho FDI để tạo sự hiểu biết, chia sẻ và hiểu biết lẫn nhau, qua đó phát triển nguồn nhân lực địa phương nói chung và nguồn nhân lực làm việc cho FDI.

KẾT LUẬN


Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp kém phát triển, do vậy để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thì phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu. Đây là yêu cầu tất yếu khách quan để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, văn minh.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, bên cạnh phát huy tối đa nội lực, thì việc thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài giữ một vai trò quan trọng. Thực tế trong những năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, một phần nhờ các nguồn lực từ bên ngoài đó, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong việc thu hút, sử dụng nguồn vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam như hiệu quả các dự án chưa cao, phân bổ nguồn vốn không đều... Ngoài ra, việc thiếu chiến lược thu hút FDI dài hạn, cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao…đang là những trở ngại lớn đối với dòng vốn FDI vào nông nghiệp, mà thực tế là vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với các ngành kinh tế khác, và ngày càng có xu hướng giảm.



Với những tiềm năng, thế mạnh hiện có của ngành, kết hợp với giải pháp thu hút, sử dụng nguồn vốn hiệu quả mà nhóm tiểu luận đã đề xuất, hy vọng rằng nền nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh, bền vững theo hướng hiện đại, góp phần vào việc hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.


TÀI LIỆU THAM KHẢO




  1. PGS.TS Vũ Chí Lộc, 2012, Giáo trình Đầu tư quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

  2. Tổng cục Thống kê, 2011, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 2001 – 2010

  3. Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 26/12/2013, Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài 12 tháng năm 2013

  4. Cục đầu tư nước ngoài- Bộ kế hoạch và Đầu tư, 10/08/2007, Tổng quan về dòng FDI vào Việt Nam 1988- 2006

  5. http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_kinhte/_mobile_tintuc/item/20542402.html

  6. http://www.baomoi.com/Nang-cao-kha-nang-thu-hut-FDI-vao-khu-vuc-nong-nghiep-nong-thon-Viet-Nam/45/10895073.epi

  7. http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Thu-hut-FDI-tao-da-phat-trien-ben-vung-nganh-nong-nghiep/32642.tctc

  8. http://baodautu.vn/fdi-nong-nghiep-ngay-cang-teo-top.html






Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương