Lòng Thương Xót 03/2011 Địa chỉ



tải về 433.03 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích433.03 Kb.
1   2   3

HÃY RỜI BỎ XỨ SỞ

Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. (St 12, 1-4a)

  • Đi theo Chúa đòi buộc chúng ta phải từ bỏ.

  • Từ bỏ cái xấu là chuyện dễ hiểu. Nhưng Chúa còn muốn chúng ta từ bỏ cả những cái chúng ta thấy là tốt như xứ sở, họ hàng và nhà cha mẹ… Tại sao thế?!

  • Chúa chỉ có thể giải thích cho chúng ta rằng: Phải từ bỏ cả những cái tốt đời này, để được cái TỐT HƠN theo lời Chúa hứa.

  • Nếu chúng ta tin Chúa, thì cứ làm theo như tổ phụ Áp-ra-ham.

Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. (2 Tm 1, 8b-10)

  • Công to việc lớn chúng ta làm được, chẳng hạn như giúp đỡ người nghèo khổ, thăm viếng người khô khan… Công trạng luôn luôn là điều tốt đẹp, được xã hội công nhận, và Giáo Hội khuyến khích.

  • Nhưng không phải vì thế mà chúng ta bám chặt lấy công to việc lớn theo ý mình. Nếu Chúa muốn chúng ta nhường lại cho người khác làm, chúng ta cũng phải đồng ý vì đó là ý Chúa muốn!

  • Trên hết mọi sự, dù có tốt lành mấy đi chăng nữa, lớn lao mấy đi chăng nữa, thì cũng không thể lớn hơn THÁNH Ý CHÚA. Hôm nay thế này, ngày mai có thể phải bỏ hết, vì Chúa muốn thế, và để dạy chúng ta không được dựa vào bất cứ cái gì, ngoài chương trình của Chúa, cho dù chúng ta chưa thể và không thể hiểu nổi lúc này! Thế mới là TIN.

Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. (Mt 17, 1-9)

  • Đức Giê-su biến đổi hình dạng Trắng Tinh. Nhờ đâu mà người được biến đổi Trắng Tinh như thế?

  • Qua hình ảnh gợi ý là ông Mô-sê và ông Ê-li-a.

  • Ông Mô-sê là người mang Luật Chúa cho dân. Đức Giê-su được biến đổi khi xin vâng theo luật Thiên Chúa, cho đến chết trên thập giá. Và Ông Ê-li-a là ngôn sứ của Chúa. Đức Giê-su cũng chỉ nói lời của Chúa Cha mà thôi.

  • Tóm lại: Đức Giê-su được biến đổi vì đã từ bỏ ý mình theo ý Chúa.

NGÀY 27/03/2011

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gio-an (Ga 4, 5-42)

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu. e:\t03.2011\03.song loi chua\hinh\cn3mc-a.jpg

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: "Xin bà cho tôi uống nước" (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?" (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: "Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: 'Xin cho tôi uống nước', thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?"

Chúa Giêsu trả lời: "Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời". Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa". Chúa Giêsu bảo: "Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây". Người đàn bà đáp: "Tôi không có chồng". Chúa Giêsu nói tiếp: "Bà nói 'tôi không có chồng' là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem".

Chúa Giêsu đáp: "Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Đấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý".

Người đàn bà thưa: "Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Chúa Giêsu bảo: "Đấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây".

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói chuyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: "Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói chuyện với người đó?" Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: "Mau, hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Đấng Kitô?" Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: "Xin mời Thầy ăn". Nhưng Ngài đáp: "Thầy có của ăn mà các con không biết". Môn đệ hỏi nhau: "Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?" Chúa Giêsu nói: "Của Thầy ăn là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Đúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ".



Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: "Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm". Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: "Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế".

Chia sẻ Lời Chúa

KHÁT

Ông Mô-sê đã đặt tên cho nơi ấy là Ma-xa và Mơ-ri-va, nghĩa là thử thách và gây sự, vì con cái Ít-ra-en đã gây sự và thử thách ĐỨC CHÚA mà rằng: "Có ĐỨC CHÚA ở giữa chúng ta hay không?" (Xh 17, 3-7)

  • Trên đường tiến về Đất Hứa, dân Do-thái nhiều lúc thấy mệt mỏi, thất vọng, vì quá nhiều gian nan, mà mãi chưa thấy Đất Hứa.

  • Hành trình dài và gian khổ, cũng chính là bài học Chúa muốn để thanh luyện đức tin của dân. Nếu dân tin vào Chúa, họ phải bước đi dù có tối tăm mờ mịt và gian khổ.

  • Chúng ta từ bỏ ý riêng của mình để làm theo ý Chúa, nhưng không phải là thấy hay, thấy tốt đẹp ngay đâu. Phải gian khổ để chúng ta tin hay không tin. Nếu làm theo ý Chúa mà thấy tốt ngay, thấy lợi lộc ngay thì đó là ý mình rồi. Gian khổ càng làm ta khát Chúa hơn.

Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. (Rm 5, 1-2. 5-8)

  • Đức tin là ơn Chúa ban. Tự nơi tâm hồn chúng ta, Chúa ban cho chúng ta có lòng biết hướng về Chúa, hướng về cái Thiện.

  • Nhưng đức tin cũng phải được thanh luyện để sáng lên. Và khổ đau sẽ là môi trường tốt để thanh luyện đức tin.

  • Khổ đau phải đưa con người đến lòng khao khát Chúa. Khổ đau cũng có thể làm cho người ta thất vọng! Khổ đau mà Tin vào Chúa sẽ nảy sinh lòng khao khát Chúa. Khổ đau mà không tin sẽ sinh ra thất vọng!

  • Lòng khao khát Chúa giúp người đau khổ được Bình An.

Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước."(Ga 4, 5-42)

  • Chỉ người khát mới cần nước! Người không khát thì không cần.

  • Từ cái khát nước mỗi ngày, Đức Giê-su khơi lên lòng khao khát sâu xa của con người người, là khao khát sự tốt lành thánh thiện. Người phụ nữ Sa-ma-ri đã 5 đời chồng mà cũng chẳng ai là chồng cô ấy! Cô ấy khát khao sống công chính.

  • Chính bởi lòng khát khao nên công chính của con người, Đức Giê-su sẽ làm cho họ thỏa lòng.

Mùa Chay đòi buộc chúng ta biết tội lỗi mình, biết hy sinh chay tịnh. Đau khổ cộng với đức tin sẽ sinh lòng khao khát. Lòng khao khát sẽ đến lúc được Đức Giê-su đổ ân sủng cho ta được thỏa lòng trông cậy. Hãy vững tin!

c:\users\dinh tien\appdata\local\microsoft\windows\temporary internet files\content.ie5\2al38c4q\mc900124019[1].wmf
Xuân về xóa đi vết sầu vơi

Nhân đức khôn ngoan thêm tuổi đời

Tiếng Chúa vâng nghe con đáp trả

Theo Ngài phục vụ Chúa kêu mời

Mùa xuân tỏa sáng nơi đô thị

Nhạc khúc vang xa khắp đất trời

Khiêm tốn yêu thương phụng sự Chúa

An hòa hạnh phúc đến muôn thời.


Lm. Khuất Dũng sss


CẢM NGHIỆM HỒNG ÂN

Hãy cậy trông và tín thác

vào Lòng Chúa Thương Xót
Anna Cao Thị Thúy Hằng
Con tên là Anna Cao Thị thúy Hằng, cư ngụ tại số 4 đường Dương Quảng Hàm, P.5, Gò Vấp.

Đầu năm nay con bị bệnh rất nặng, gia đình đã mời cha đến cho con xưng tội và xức dầu. Trong bốn ngày nằm ở bệnh viện, con rất sợ nhìn những cảnh chung quanh. Rồi ngày thứ nhất, thứ hai, thứ ba trôi qua, sức khỏe con ngày càng kém đi. Qua ngày thứ tư, con không còn biết gì nữa, nằm bất động, lưỡi thụt vào bên trong, ai muốn đưa con đi đâu thì đưa.

Gia đình đưa con về để lo hậu sự. Gia đình đã mời các anh chị trong cộng đoàn Lòng Thương Xót Chúa Giáo Xứ Bến Cát đến để đọc kinh cầu nguyện cho con. Sau hai ngày, gia đình thấy con bắt đầu cử động, mắt con còn nhắm nhưng miệng đọc kinh và tay lần chuỗi. Rồi tiếp đến con từ từ mở mắt ra nhìn mọi người chung quanh. Tất cả mọi người đều mừng rỡ và xúc động vì con đã được Chúa thương chữa lành một cách lạ lùng. Con và gia đình chỉ biết dâng lên Chúa lời tạ ơn và chúc tụng Lòng Thương Xót của Chúa.

Con xin mọi người hãy đến cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa, và con ước mong rằng mỗi ngày số người đến với Chúa càng nhiều hơn nữa. Mọi người hãy cậy trông và tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa, vì Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và hay tha thứ.

Con xin hết lòng cám ơn các anh chị trong cộng đoàn Lòng Thương Xót Chúa Giáo Xứ Bến Cát đã đến dâng lời cầu nguyện cho con.

HỌC HỎI LINH ĐẠO

Lm FX. Bảo lộc

TÓM LƯỢC (tiếp theo)

THIÊN CHÚA
GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT


CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

V. MÀU NHIỆM PHỤC SINH

7. Lòng Thương Xót được mạc khải trong thập giá và sự Phục Sinh

Sứ điệp Cứu thế của Đức Kitô và hoạt động của Người giữa loài người được kết thúc với Thập giá và sự Phục Sinh.

Thập giá Đức Kitô, nói được là tiếng nói cuối cùng của sứ điệp và sứ mệnh cứu thế của Người, Thập giá ấy nói gì với chúng ta? Đã đành, Thập giá chưa phải là lời cuối cùng của Thiên Chúa của Giao ước vì lời này sẽ chỉ được nói ra vào sáng sớm tinh sương, trước tiên là những phụ nữ, rồi các Tông đồ, đến mồ Đức Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, thì thấy mồ trống và nghe lời loan báo này: “Người đã sống lại”. Đến lượt họ, họ sẽ nói lại điều ấy và họ sẽ là những chứng tá của Đức Kitô sống lại. Tuy nhiên, ngay cả trong vinh quang của con Thiên Chúa, Thập giá vẫn không thôi hiện diện, Thập giá này vẫn – thông qua chứng cứ cứu thế của Người – Chúa Con đã chịu chết trên đó – nói và không bao giờ thôi nói về Thiên Chúa – Cha là Đấng luôn luôn trung thành với tình thương đời đời của Ngài đối với con người, vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”1

8. Tình thương mạnh hơn sự chết, mạnh hơn tội lỗi

Thập giá Đức Kitô trên Núi sọ cũng là bằng chứng về sức mạnh của sự dữ đối với chính Con Thiên Chúa, đối với Đấng duy nhất trong tất cả các con cái loài người là kẻ tự bản tính vô tội và hoàn toàn không vương một tội nào, đã ra đời mà không dính dấp tới sự bất tuân của Ađam, tới di sản của Tội Nguyên tổ. Và nơi Người, nơi chính Đức Kitô, tội lỗi được đánh giá một cách công bằng với lượng giá là việc Người hy sinh và vâng phục “cho đến chết”.



9. Đức Mẹ có Lòng Thương Xót (Mẹ của Lòng Thương Xót)

Công đồng Vatican II nói với chúng ta: “Kể từ sự ưng thuận mà Người đã đem lại bằng lòng tin của mình vào ngày Truyền tin và đã giữ nguyên không do dự ở dưới thập giá, Đức Maria vẫn không ngừng tiếp tục làm Mẹ như thế trong nhiệm cục ân sủng cho tới khi tất cả những kẻ được chọn đạt tới vinh quang đời đời.



VI. LÒNG THƯƠNG XÓT SUỐT ĐỜI NỌ ĐẾN ĐỜI KIA

10. Hình ảnh thế hệ chúng ta

Chúng ta hoàn toàn có quyền tin rằng cả thế hệ chúng ta cũng được bao hàm trong những lời của Mẹ Thiên Chúa, khi Mẹ tán dương Lòng Thương Xót mà tất cả những ai kính sợ Thiên Chúa đều được hưởng phần “suốt đời nọ đến đời kia”. Những lời trong kinh “Magnifiat” của Đức Maria có một nội dung tiên tri liên quan không những tới quá khứ của Israel, mà còn tới tương lai của dân Thiên Chúa trên trái đất nữa.



11. Những nguồn lo ngại

Chính vì thế mà trong thế giới chúng ta đang thêm ý thức về một mối đe dọa và cũng đang tăng lên nỗi sợ hãi hiện sinh gắn liền, nhất là sự đe dọa không chỉ liên quan tới những gì người ta có thể gây ra cho những người khác khi sử dụng kỹ thuật quân sự; nó còn liên quan không kém tới rất nhiều mối nguy khác đang là sản phẩm của một nền văn minh vật chất, một nền văn minh – tuy có những tuyên ngôn “nhân bản” – vẫn chấp nhận coi các sự vật trọng hơn con người.



12. Phải chăng sự công bằng là đủ?

Điều dễ nhận thấy là trong thế giới ngày nay và trên một quy mô rộng lớn, ý thức về công bằng đã được thức tỉnh; và chắc chắn ý thức ấy làm nổi rõ hơn những gì đối nghịch với công bằng trong các quan hệ giữa con người với nhau, giữa những tập thể xã hội hay những “giai cấp”, cũng như giữa các dân tộc và các nước, và thậm chí giữa toàn bộ những hệ thống chính trị và trên toàn “thế giới” nữa.



VII. LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA TRONG SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

Trong tương quan với hình ảnh thế hệ chúng ta như trên, hình ảnh chỉ có thể khơi dậy một nỗi lo lắng sâu xa, tâm trí chúng ta lại nhớ tới những lời đã vang lên trong kinh Magnificat của Đức Maria để ca tụng việc nhập thể của Con Thiên Chúa và hát lên “Lòng Thương Xót… suốt đời nọ đến đời kia”. Khi luôn giữ trong lòng mình những lời thần hứng hùng hồn ấy và cảm nhận chúng qua các kinh nghiệm các khổ đau của gia đình nhân loại, Giáo hội cần có được một ý thức sâu sắc hơn và mạnh mẽ hơn về sự cần thiết phải làm chứng cho Lòng Thương Xót của Thiên Chúa trong toàn thể sứ vụ của mình, phù hợp với truyền thống Giao ước Cũ và Mới, và nhất là theo chân chính Đức Kitô và các Tông đồ của Người.

Giáo hội ngày nay rất ý thức rằng chỉ khi nào dựa trên căn bản là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa thì mới có thể thực hiện được những tiêu chí từ giáo huấn Công đồng Vatican II, và trước tiên là tiến trình Đại kết, nhằm hiệp nhất tất cả những ai tin vào Đức Kitô. Khi nỗ lực theo tiến trình này, Giáo hội khiêm tốn nhìn nhận rằng chỉ có tình thương đó, mạnh hơn sự yếu hèn của những chia rẽ, mới cỏ thể thực hiện được cách dứt khoát sự hiệp nhất mà Đức Kitô đã khẩn cầu Cha Người ban và Thần Khí không ngừng khẩn cầu cho chúng ta “bằng những tiếng rên siết khôn tả”2.

VIII. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA GIÁO HỘI HÔM NAY

Giáo hội công bố chân lý Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, được mạc khải trong Đức Kitô chịu đóng đinh và đã Phục Sinh, và Giáo hội tuyên xưng chân lý ấy bằng nhiều cách khác nhau. Ngoài ra, Giáo hội cố gắng thực thi Lòng Thương Xót đối với con người, vì thấy đó là một điều kiện cần thiết cho mối quan tâm của mình về một thế giới tốt đẹp hơn và “có tính nhân bản: hơn cho hôm nay và ngày mai. Tuy nhiên, không có lúc nào và không một giai đoạn nào của lịch sử – nhất là ở một thời kỳ có tính quyết liệt như thời chúng ta – mà Giáo hội có thể quên lời cầu nguyện là một tiếng kêu gọi tới Lòng Thương Xót của Thiên Chúa khi đối diện với nhiều hình thức của sự dữ đang đè nặng trên nhân loại và đe dọa nhân loại.

Với Phép lành Tòa Thánh của tôi

Làm tại Rôma, gần Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 30/11/1980, Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng, năm thứ ba tôi là Giáo Hoàng.



GIOAN – PHAO LÔ II

c:\users\dinh tien\appdata\local\microsoft\windows\temporary internet files\content.ie5\2al38c4q\mc900123717[1].wmf

HẠNH PHÚC

Chìa khóa của hạnh phúc



Không là không buồn đau

Không giận, không thất vọng

Mà là thoát ra mau

Viễn Đông

DAØNH TAËNG CAÙC NHAØ GIAÙO DUÏC NHAÂN MUØA CHAY

rmocakss1gzcaapbgsxcacpibpgcaps30jrcaqosc7ucah1t3v5ca0f5vd2cam71mw9cabiqw7ccapmi60vcao745y2cas8nxz6cadoyut1ca803llvcak1rl5vca08nylgcasgp06fcatlzuz2ca21td5n



Gioakim. Trương Đình Giai

Hoán cải luôn là một lời mời gọi mang tính thời sự và cấp bách. Trong Cựu ước, các ngôn sứ thường được Giavê Thiên Chúa sai đi để rao giảng sám hối, như chuyện tiên tri Giôna được Chúa sai đến dân thành Ninivê để kêu gọi họ ăn năn sám hối. Gioan Tẩy giả, vị ngôn sứ sau cùng của thời Cựu ước được sai đi dọn đường cho Đấng Cứu thế cũng kêu mời mọi người sám hối lãnh nhận phép rửa. Đức Giêsu khởi đầu sứ mạng rao giảng công khai của Người cũng kêu gọi sám hối “Hãy sám hối và tin vào Tin mừng”. Các Tông đồ sau khi nhận được Thánh Thần cũng khởi đầu việc rao giảng bằng lời kêu gọi sám hối. Và hầu hềt những lần Đức Maria hiện ra khắp nơi trên thế giới cũng đều lặp lại lời kêu gọi sám hối.

Giáo dục trong tiếng Latinh educere, có nghĩa là dẫn ra ngoài, là đưa từ tình trạng hiện tại (statu quo) đến tình trạng mới. Nghĩa là giúp hoán cải, đổi đời, làm lại cuộc đời. Đưa từ tình trạng mù chữ thất học đến tình trạng biết đọc, biết viết, có học, từ tình trạng ếch ngồi đáy giếng đền việc khám phá thế giới bao la hơn, từ tình trạng lệ thuộc, nô lệ đến tình trạng tự do, từ tình trạng mê muội, lầm lạc đến tình trạng giác ngộ, nhận thức Chân lý, từ tình trạng vong thân đến sự khám phá căn tính của bản thân, từ việc dừng lại và bám víu vào thế giới phàm tục đến việc khám phá và ngưỡng mộ thế giới thánh thiêng, từ sự kiêu căng rỗng tuếch đến sự khiêm tốn sâu xa, từ sự khép kín, khư khư bám víu tư tưởng thành kiến, thiên kiến, định kiến hẹp hòi, kiến thức giới hạn của mình đến sự nhìn nhận khả năng của kẻ khác để học hỏi lắng nghe và đối thoại chân thành, từ sự hài lòng với những kiến thức khoa học thực nghiệm giới hạn đến việc khám phá thế giới thần bí siêu việt bất tận, từ cuộc sống thực dụng, tự mãn duy hưởng thụ và khoái lạc đến một cuộc sống Kitô hữu đích thật, vị tha, tự xóa, dâng hiến, thực sự hữu ích cho Giáo hội và xã hội.

Để làm được điều đó, trước tiên nhà Giáo dục Kitô giáo phải luôn thức tỉnh, không ngừng tự Giáo dục và hoán cải bản thân. Nhà Giáo dục Kitô giáo luôn ý thức rằng mục đích tối hậu của Giáo dục không phải là tạo ra những công chức: cho dù là bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, thậm chí linh mục mà là những con người nhân bản, thấm nhuần Tin mừng Kitô giáo, cũng không phải là tạo ra những cái đầu đầy chữ, đầy kiến thức cho dù về giáo lý, đầy những công thức cho dù là thần học mà là những cuộc sống thực tế, có thể rất âm thầm bên ngoài nhưng lại rất sinh ích như hình ảnh của nắm men chịu hòa lẫn trong khối bột tưởng chừng như mất đi nhưng lại âm thầm tác động từ bên trong làm cho cả khối bột dậy men.

Lời tâm sự khiêm tốn của cha Lacordaire, vừa là đại văn hào vừa là nhà giảng thuyết lừng danh về lòng ngưỡng mộ của Ngài đối với cha sở nhà quê họ Ars Jean-Marie Vianey có thể là tấm gương cho mọi nhà giáo dục Kitô giáo. Cha kể rằng trong một dịp Ngài được mời giảng Tĩnh tâm mùa Chay cho nhà thờ chính tòa Notre Dame de Paris, nơi hàng năm thường mời các vị giảng thuyết lỗi lạc trên khắp thế giới (trong đó Việt nam ta hân hạnh có Đức giám mục tiên khởi JB Nguyễn Bá Tòng, và Đức Hồng Y PX Nguyễn Văn Thuận), Ngài đã lén cải trang đến họ Ars để nghe cha Vianey giảng. Lúc ấy Ngài cảm động đến rơi nước mắt và sau đó Ngài nói với công chúng về sự khác nhau giữa bài giảng của Ngài va bài giảng của cha Vianey như sau: Sau khi nghe tôi giảng, người ta đã bàn tán nhiều ngày nhiều giờ trong các phòng khách sang trọng, còn sau khi nghe cha Vianey giảng, chẳng thấy ai nói gì nhưng người ta âm thầm hoán cải, đổi đời.

Cuộc sống Kitô hữu là một cuộc sống được mời gọi hoán cải không ngừng để có thể hoán cải cả thế giới, đó chính là thực hiện sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu. Sự hoán cải tự bản thân nó có sức mạnh hoán cải. Hoán cải kêu gọi hoán cải. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian bởi hạt giống hoán cải một khi đã được gieo vãi, thì dù thức hay ngủ, hạt giống ấy vẫn âm thầm mọc lên.

Giáo dục hoán cải là một qúa trình Giáo dục liên tục, không ngừng đòi hỏi nhà Giáo dục Kitô giáo cần phải có một ánh mắt đủ bao dung để cảm thông, một con tim đủ kiên nhẫn để chờ đợi và một vòng tay đủ nhân ái để đón nhận và đỡ nâng.

c:\users\dinh tien\appdata\local\microsoft\windows\temporary internet files\content.ie5\2al38c4q\mc900022221[1].wmf

THEO THẦY
Theo Thầy con bỏ mọi riêng tư

Gói trong tim đây tình yêu Thập Giá

Đường con đi dẫu trăm ngàn sỏi đá

Thì tình yêu – lối mở mọi con đường.


Dẫu bao phen con dừng bước chán chường

Thì tình thương vẫn đong đầy cuộc sống

Và tình con được đi vào biển rộng

Giọt nước nhỏ nhoi

Sao ân phúc vô vàn.
Có những khi con thấy quá lỡ làng

Khi quên rằng tình yêu là tất cả

Đã lắm khi trên đường con vấp ngã

Có là chi

Tay Chúa đỡ nâng rồi.
Đường con đi vẫn còn đó xa xôi

Chỉ nguyện xin tình Ngài thương gìn giữ.



Dấu lặng
lillies

Ban Biên tập - st

Như chúng ta đều biết, tất cả những vị linh mục mà chúng ta vẫn thường hay gọi là "Cha" và tất cả những người làm cha, làm bố trong các gia đình, tất cả đều được mời gọi để nên thánh. Việc được Thiên Chúa mời gọi để trở nên thánh không chỉ dành riêng cho các vị linh mục, nam nữ tu sĩ, mà còn cho tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội, vì mỗi người đều có một ơn gọi riêng. Thế nhưng, ơn gọi chung và phổ quát hơn hết vẫn là ơn gọi để nên thánh. Có bao giờ chúng ta tự hỏi với chính mình rằng: "Liệu có phải tôi đang đáp trả lại lời gọi mời để trở nên thánh không? Liệu tôi có biết kiếm tìm và cố giống như Chúa Kitô mỗi ngày không? Phải chăng là tôi đang theo đuổi gương của Thánh Giuse không?"st-joseph4_1



Để tìm ra những lời giải đáp cho những câu hỏi chất vấn lương tâm kể trên, chúng ta hãy cùng nhau suy niệm và tìm hiểu thêm về cuộc sống và gương của Thánh Giuse, vị Thánh Bổn mạng và cũng là mẫu gương cho tất cả những người làm Chồng, làm Cha và những người làm Linh mục.

Chữ JOSEPH = Just + Obedient + Silence + Example + Patron + Helper = Công Chính + Vâng Phục + Thinh Lặng + Gương Mẫu + Bảo Trợ + Người Giúp Đỡ.

1. J = St. Joseph the Just Man = Thánh Giuse, Người Công Chính

2. O = St. Joseph the Obedient One = Thánh Giuse, Người Vâng Phục

3. S = St. Joseph the Silent One = Thánh Giuse, Người Thinh Lặng

4. E = St. Joseph the Example = Thánh Giuse, Mẫu Gương

5. P = St. Joseph the Patron = Thánh Giuse, Bảo Trợ

6. H= St. Joseph the Helper of the Blessed Mother = Thánh Giuse, Người Giúp Đỡ Đức Trinh Nữ Maria

  1. J = St. Joseph the Just Man = Thánh Giuse Người Công Chính.

Thánh Giuse là một người đàn ông thánh thiện, ngay thẳng, đạo đức, thật thà và chính trực. Thánh Giuse là vị Thánh cao cả nhất và thánh thiện nhất chỉ sau Đức Trinh Nữ Maria mà thôi. Một số vị Tiến Sĩ Hội Thánh đã từng lên tiếng nói rằng: chưa có một ơn huệ nào được ban cho bất kỳ một vị Thánh nào trong số những vị Thánh của Giáo Hội mà không được ban trao cho Thánh Giuse cả. Thánh Giuse chính là vị Thánh có được đầy đủ tất cả mọi ơn huệ của bất kỳ một vị Thánh nào trong Giáo Hội có được.

  1. O = St. Joseph the Obedient One = Thánh Giuse Người Vâng Phục.

Thánh Giuse là người biết vâng phục. Bất cứ khi nào Thiên Chúa cảnh báo, ngay trong giấc ngủ, Giuse lúc nào cũng vâng phục ngay tức khắc mọi ý chỉ của Thiên Chúa, mà không hề chất vấn lại bao giờ. Thậm chí ngay cả khi Maria đã mang thai được hơn 8 tháng, thế nhưng Giuse vẫn tin rằng việc Maria và Giuse phải rời Nazareth để xuống Bethlehem, cũng là do ý chỉ của Thiên Chúa. Điều này phù hợp với lời tiên báo của tiên tri Micah rằng: Đấng Cứu Thế sẽ được sinh hạ tại Bêlêm. Giuse đã biết từ bỏ lấy chính bản thân của mình để tuân theo ý chỉ của Thiên Chúa.

  1. S = St. Joseph the Silent One = Thánh Giuse Người Thinh Lặng.

Không có một ngôn từ nào được ghi chép lại về Thánh Giuse trong Kinh Thánh. Trong Sách Cựu Ước, có một vài từ được đề cập đến vị Giáo trưởng vĩ đại vốn có thể được áp dụng vào Thánh Giuse, thế nhưng không có những từ ngữ nào do chính Thánh Giuse nói ra, vốn được tìm thấy trong Tân Ước. Dù thế Thánh Giuse vẫn có mặt tại đó, nhưng với một sự hiện diện trong thinh lặng. Thậm chí ngay cả cái chết của vị Thánh cũng được giữ trong thinh lặng.

  1. E = St. Joseph the Example = Thánh Giuse Mẫu Gương.

Thánh Giuse là một mẫu gương cho Chúa Giêsu qua cả lời nói và cả những hành động. Thánh Giuse đã từng được gọi là Người Cha Vĩ Đại Nhất của Thế Giới. Giuse thật sự là một người cha gương mẫu cho Chúa Giêsu theo đúng mọi cách, xét về mặt thể lý. Vì rằng Thánh Giuse chính là người đã dạy cho Chúa Giêsu cách đọc, cách nói, và cách lao động. Chúng ta hãy nhớ lại câu nói rằng: "Gương sáng thì to tiếng và rõ ràng hơn là lời nói" hay "Hành động thì có sức thuyết phục hơn là lời nói."

  1. P = St. Joseph the Patron = Thánh Giuse Bảo Trơ.

Thánh Giuse chính là người bảo trợ và cầu nguyện thay cho chúng ta. Thánh Giuse chính là vị Thánh Bổn Mạng của những người làm chồng, những Linh Mục, và những người thợ. Chúng ta luôn nguyện cầu rằng nếu mai này phải chết đi, phải giã từ cõi thế trần này, thì chúng ta cũng muốn có được cái chết như Thánh Giuse đã từng trải qua, nghĩa là chết trong cánh tay của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và qua sự cầu bầu của Giáo Hội. Hãy nguyện cầu đến Thánh Giuse để chúng ta có được ân huệ qua một cái chết hồng phúc.

  1. H = St. Joseph the Helper of the Blessed Mother = Thánh Giuse Người Giúp Đỡ Đức Trinh Nữ Maria

Thánh Giuse chính là một người Chồng biết yêu thương Vợ mình vì Thánh Giuse tử tế, nhạy cảm, sẳn sàng hy sinh và biết biểu lộ sự trìu mến với vị Hiền Thê của mình là Đức Trinh Nữ Maria. Ngoài ra, Thánh Giuse cũng chịu trách nhiệm về mặt tâm linh cho cả gia đình của mình. Sứ điệp của Thiên Chúa qua thiên thần đã được tiết lộ cho chính Giuse mặc dầu Đức Trinh Nữ Maria thánh thiện hơn nhiều vì được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa. Thánh Giuse đã được Thiên Chúa chọn lựa bởi vì Thánh Giuse chính là người chủ của gia đình đó, cũng giống như bất kỳ một ai trong chúng ta, là người lãnh đạo về mặt tâm linh cho cả gia đình.

Nguyện cho mọi người làm Chồng, làm Cha cùng với tất cả những vị lãnh đạo tinh thần và tâm linh của chúng ta là các vị Linh Mục, luôn biết ý thức, luôn biết nghiệm suy sâu sắc, và luôn biết dùng Thánh Giuse như là một mẫu gương tuyệt hảo và trọn vẹn nhất cho mình, trong những nghĩa vụ cao cả được Thiên Chúa trao phó, để dìu dắt, nâng đỡ, cứu vớt nhân loại yếu đuối và lỡ lầm!



c:\users\dinh tien\appdata\local\microsoft\windows\temporary internet files\content.ie5\765gj622\mc900027177[1].wmf


Thảo Lam (Gx Chính Lộ)
Con về bên Chúa quỳ đây.

Lòng dâng lên những tràn đầy kính yêu

Ngược xuôi năm tháng trăm chiều

Bôn ba khắp chốn tìm điều lợi danh

Qua rồi năm tháng học hành

Ra đời là những công danh mong chờ

Trái tim non vẫn hững hờ

Con nào biết Chúa đang chờ đợi con

Qua bao năm tháng hao mòn

Trôi theo ngày tháng con còn gì đâu?

Lòng mang những luống ưu sầu

Trần gian con gặp thương đau đã nhiều

Trở về bên Chúa thương yêu

Hằng luôn ấp ủ thương yêu con khờ

Chúa ơi con vẫn hằng mơ

Lòng Chúa Thương Xót vẫn chờ đợi con




TIN TỨC SINH HOẠT

Vào ngày 26/01/2011 (Nhằm ngày 23 tháng chạp âm lịch), đại diện BCH CĐ LTX GP, BCH CĐ LTX Giáo Hạt Gò Vấp và đại diện 9/11 CĐ LTX các GX trong Hạt đã đến chúc tuổi cha Quản Hạt Tôma Nguyễn Văn Khiêm, chánh xứ Gx Gò Vấp và Cha Giuse Nguyễn Phước Thành, chánh xứ Gx Giuse, đồng thời cũng là cha linh hướng CĐ LTX Giáo Hạt. Sau khi thăm hỏi và tâm tình cha con, CĐ đã nhận ra mình còn rất nhiều thiếu xót cần phải khắc phục.

Trước đó đã diễn ra buổi họp mặt thân mật và chúc tết nhau giữa các thành viên trong đoàn.

Kết thúc là buổi liên hoan nhẹ trong tinh thần hiệp thông, yêu thương và chia sẻ.



e:\t03.2011\tin tuc sinh hoat\hinh\gv\dscf0445.jpg e:\t03.2011\tin tuc sinh hoat\hinh\gv\dscf0449.jpg

LỄ RA MẮT BCH CĐ LTX GIÁO XỨ MEPU, PHAN THIẾT

Vào lúc 5 giờ sáng ngày 17/02/2011, thánh lễ ra mắt Ban Chấp Hành (BCH) CĐ LTX Giáo Xứ Mepu, Đức Tánh, GP Phan Thiết đã được cử hành trọng thể tại nhà thờ của Giáo Xứ dưới sự chủ tế của cha Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, chánh xứ Gx Mepu. BCH CĐ LTX được bầu ra với những thành viên tràn đầy nhệt huyết:

-Trưởng: Maria Nguyễn Thị Minh Khôi. Sinh năm 1957

-Phó: Ané Nguyễn Thị Mỹ Lệ. Sinh năm 1970

-Thư ký: Inê Lê Thị Cúc. Sinh năm 1967

-Thủ quỹ: Têrêsa Nguyễn Thị Thanh Vân. Sinh năm 1970

Tham dự thánh lễ còn có sự hiện diện của đại diện BCH CĐ LTX Giáo Hạt Tân Sơn Nhì, GP Sài Gòn theo lời mời của cha Chánh Xứ Mepu.

Được biết, trước đó một ngày, Giáo Xứ cũng đã hân hoan mừng đón thánh lễ đồng tế khánh thành nhà thờ Giáo Xứ dưới sự chủ tế của Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Giáo Phận.



e:\t03.2011\tin tuc sinh hoat\hinh\tsn\dsci1234.jpg e:\t03.2011\tin tuc sinh hoat\hinh\tsn\dsci1243.jpg

e:\tal lieu bao\tin tuc va sinh hoat\hat tsn\hinh tsn\dsci1221.jpg e:\t03.2011\tin tuc sinh hoat\hinh\tsn\dsci1246.jpg

e:\tal lieu bao\tin tuc va sinh hoat\hat tsn\hinh tsn\dsci1248.jpge:\t03.2011\tin tuc sinh hoat\hinh\tsn\dsci1252.jpg

Những hình ảnh lễ ra mắt BCH CĐ LTX Giáo xứ Mepu, Giáo hạt Đức Tánh Giáo phận Phan Thiết

c:\users\dinh tien\appdata\local\microsoft\windows\temporary internet files\content.ie5\vz5gkk6l\mc900123825[1].wmf

Thứ Sáu ngày 19/3/2010, Giáo Hội mừng kính Thánh Cả Giuse. Ban Chấp Hành CĐ Lòng Thương Xót Giáo Phận xin chúc mừng Bổn mạng của:

1. Giuse Maria Bùi Tuấn Minh

2. Giuse Vũ văn Phách

3. Giuse Nguyễn văn Lộc

4. Giuse Phạm Đình Vinh

5. Giuse Nguyễn Viết Trung

6. Giuse Maria Hoàng văn Tiến

7. Giuse Maria Đoàn văn Thủ

cùng toàn thể Quý ông có Thánh Giuse làm quan thầy. Nguyện xin Thánh Giuse, là Đấng công chính, là người Cha gương mẫu của gia đình Nazarét, cầu bầu cho các Gia trưởng và luôn là gương sáng cho chúng ta noi theo.



Lm. GW. Kosieki, C.S.

CHỮA LÀNH SỰ KHỐN CÙNG

(Tiếp theo kỳ trước)

Chịu đau khổ cho các linh hồn không phải là chịu đau khổ nguyên vì đau khổ, nhưng vì lợi ích của tha nhân. Chúng ta không cần phải kiếm thêm đau khổ. Trong cuộc sống hằng ngày, tất cả chúng ta đã gặp nhiều đau khổ lắm rồi! Chúa chỉ mời gọi một số linh hồn ưu tuyển chịu đau khổ nhiều hơn cho các linh hồn – như một ân huệ đặc biệt – như trường hợp thánh nữ Faustina. Ân huệ này phải được đáp ứng dưới sự hướng dẫn của một vị linh hướng và trong đức khiêm nhượng.

Chịu đau khổ vì các linh hồn không có nghĩa là thờ ơ với sức khoẻ bản thân. Chúng ta phải quản lý thân xác cho tốt vì Chúa đã ban nó cho chúng ta, và chúng ta phải quan tâm đến sức khoẻ thể lý, tình cảm, và tinh thần của mình. Việc quan tâm đến sức khoẻ giúp chúng ta hoạt động hiệu quả cho nước Chúa và phần rỗi các linh hồn.

Chúng ta hiến dâng những đau khổ như thế nào? Thực tế chúng ta phải làm những gì? Chúng ta hãy thực hiện một hành vi ý chí và thưa lên với trót tâm hồn:

Lạy Chúa Giêsu, con xin dâng lên Chúa niềm đau này, nỗi khốn cùng này, việc đau khổ này vì các linh hồn. Con xin dâng lên với sự kết hợp với cuộc thương khó, tử nạn, và phục sinh của Chúa đang được hiến dâng trong từng thánh lễ.”

Chúng ta có thể dùng nhiều lời cầu khác nhau khi diễn tả nỗi đau khổ. Vấn đề là chúng ta phải yêu mến kết hợp những đau khổ của chúng ta với những đau khổ của Chúa Kitô - vì các linh hồn. Chúng ta có thể hiến dâng đau khổ với ý cầu cho một số linh hồn nào đó nếu như chúng ta muốn, bằng cách kể ra tên tuổi của người chúng ta quan tâm. Lời nói không phải là điều thiết yếu; điều thiết yếu chính là ý nguyện, muốn cùng với Chúa Giêsu, dâng hiến những đau khổ của chúng ta vì các linh hồn.



Lạy Chúa giêsu, vì các linh hồn.

Lạy Chúa Giêsu, với Chúa trong cuộc thương khó của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận những đau đớn của con vì các linh hồn.

Lạy Chúa Giêsu, con xin dâng hiến... trong tình yêu.

Hiến dâng buồn khổ và đau đớn không có ý nghĩa là thoát được đau khổ, nhưng đem lại ý nghĩa và giá trị cho đau khổ. Đức Gioan Phaolo II đã nêu lên câu hỏi “chúng ta chịu đau khổ thế nào?”. Và ngài tự trả lời, “đau khổ lớn lao” ( ý nghĩa đau khổ theo Kitô giáo, ngày 11 tháng 02 năm 1484).

Thánh Phêrô đã viết: “trong đó, anh em hớn hở vui mừng, dẫu nay còn phải ưu phiền ít lâu, như đương nhiên phải thế, giữa trăm chiều thử thách, ngõ hầu đức tin luyện lọc anh em, quí hơn vàng, (vật sẽ hư đi mà còn phải luyện lửa lo) được trở nên lời ngợi khen, vinh dự huy hoàng, vào thời mặc khải của Đức Giêsu Kitô” (1 Pr 1: 6-7).

Thánh nữ Faustina đã học được từ nơi Chúa bài học chịu đau khổ cho các linh hồn. Chúa yêu cầu chị thánh hãy hiến mình, trong sự kết hợp với cuộc thương khó của Người vì phần rỗi các linh hồn, nhất là các tội nhân (x. NK 135, 136, 137, 138, 186, 187- 190, 205, 206, 308, 309, 726). Chúa muốn thánh nữ được biến đổi nhờ tình yêu:



Cha ước mong con được hoàn toàn được biến đổi trong tình yêu và bừng cháy nồng nàn như một hiến lễ tinh tuyền cho tình yêu (NK 726)

Với tinh thần đức tin và vâng phục hoàn toàn, thánh nữ Faustina đã chấp nhận đau khổ và hiểu được giá trị của nó:



Đau khổ là một hồng ân trọng đại; qua đau khổ, linh hồn sẽ được nên giống Đấng Cứu Độ; trong đau khổ, tình yêu được tinh luyện; đau khổ càng lớn lao, tình yêu càng tinh ròng (NK 57).

Chúa đã mặc khải cho thánh nữ mầu nhiệm cao sâu về đau khổ, “Cha cần những đau khổ của con để cứu các linh hồn” (NK 1612).

Thiên Chúa lại cần những đau khổ của chúng ta hay sao? Phải, Thiên Chúa muốn tiếp tục trào đổ nguồn tình yêu thương xót của Người, qua bạn và qua tôi. Dường như lượng tình yêu Chúa Kitô đã trào đổ trên thế giới này vẫn chưa chứng tỏ được sự sâu thẳm và phong phú của Lòng Thương Xót Chúa muốn – qua bạn và qua tôi, tỏ ra tình yêu thương xót Người dành cho các linh hồn! “Anh em có phúc... vì được chịu đau khổ vì Chúa Kitô” ( Pl 1:29).

Như thánh Phaolô và thánh nữ Faustina, chúng ta có thể tìm được niềm vui trong khi chịu đau khổ vì các linh hồn (x. Cl 1: 42). Thánh nữ viết, “ Từ giây phút tôi yêu mến đau khổ, nó không còn đau khổ đối với tôi nữa. Đau khổ là lương thực hằng ngày của linh hồn tôi.”(NK 2: 76). Thánh nữ còn nói đau khổ chỉ có thể trở thành một “ niềm vui” khi nào tình yêu đem lại giá trị cho nó (x. NK 303, 351). Chỉ có tình yêu mới làm đau khổ trở nên có giá trị, cao trọng, và hoan lạc. Thật là một mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đã ban cho chúng ta được thông phần!

Đau khổ vì các linh hồn là phương thuốc đặc trị cho thân phận khốn cùng của nhân loại. Việc chấp nhận đau khổ vì yêu mến các linh hồn đau khổ cùng với Chúa Kitô, và cho Chúa Kitô chịu đau khổ nơi bạn là một bậc thang đưa đến sự biến đổi và thánh thiện.

Đau khổ thật cao quí! Bạn đừng hoang phí! Vì các linh hồn, hãy yêu mến hiến dâng đau khổ của bạn, với Chúa Kitô, và trong Chúa Kitô. Đây là đặc ân của chúng ta: mặc lấy Chúa Kitô để đem Lòng Thương Xót của Người đến cho các linh hồn.



(Đón xem kỳ tới: Chữa lành bệnh kiêu ngạo)

THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT
Thảo Lam. G.X Chính Lộ
    Thời tiết năm nay thay đổi, có nơi rét đậm rét hại, có nơi lại nóng, nên các chủ vườn chăm sóc hoa kiểng khó lòng chăm bón để cho những cành Mai, cành Đào nở đúng dịp tết.

Thành phố rộn ràng người người háo hức chuẩn bị mua sắm tết, đường phố nhộn nhịp trưng bày đủ loại hoa, quả, bánh mứt, hạt dưa… Tiếng nhạc hát vang vang đã làm cho không khí và lòng người càng thêm phấn khởi. Tết … Tết đã đến!

Chiều nay, sau khi tan lễ, trên đường trở về nhà, tôi thấy bà và cô con gái, mặc dù tôi đã đi ngang qua, nhưng không đành lòng, tôi quay lại và bước theo bà được một đoạn. Tôi lên tiếng gọi: bà ơi, cho con hỏi, công việc xong hết rồi giờ bà về nhà hả?. Bà và cô gái dừng lại, bà liền trả lời: xong rồi cô ơi, giờ về nấu cơm ăn. Bà ơi, bà tên gì? tên Kiều, còn em này, nó tên Hạnh. Tôi nói đẹp quá, tên Kiều tên Hạnh đẹp thật, tôi cố nói chuyện để bà vui, nhưng vẻ cực nhọc, khắc khổ vẫn còn hiện rõ trên gương mặt hai mẹ con. Bà nói đẹp gì nghèo khổ quá cô ơi!!! rồi bà nói tiếp: hai mẹ con đi từ sáng sớm, 6h đi bộ lòng vòng từ đường này đến đường khác, có khi đi qua đến bên quận 8, quận 6 trở về đường đã lên đèn, nhà nào cũng sáng đèn, về đến nhà tối mịt, mà cô hỏi tên mẹ con tôi làm gì vậy? tôi trả lời: con muốn làm quen với bà, bà ơi nhà bà ở đâu?. Đằng kia kìa, tôi đâu có nhà! Hai mẹ con mướn cái phòng nhỏ đủ để nằm dựa lưng và đặt cái bếp nấu cơm, còn vệ sinh thì chung với họ, chật chội khổ lắm cô ơi! tôi dõi theo tay bà chỉ căn nhà ở cuối con hẻm. Biết được chỗ bà ở trọ, tôi từ giã quay về.

Để chuẩn bị cho tết Nguyên Đán sắp tới, cha sở Giáo Xứ tôi đã tổ chức cuộc họp cùng với đại diện các hội đoàn, danh sách các gia đình nghèo được đưa về văn phòng Ban Bác Ái lo quà tết.

    Sau thánh lễ buổi chiều nhằm ngày 25 tết. Tôi cùng ông trưởng khu và chị trong Ban Bác Ái đến từng gia đình thăm hỏi, tặng quà và không quên chúc mừng gia đình. Năm mới xin Chúa ban muôn ơn lành. Ước mong “Xuân sang, xuân đến khắp nơi. Người người vui rộn tiếng cười hân hoan. Bao lo toan lẫn nhọc nhằn. Trao nhau hơi ấm tình xuân nồng nàn.”

Điều chúng tôi xúc động và cũng là ấn tượng khó quên, khi đến hỏi thăm nhà ông Lợi nơi có bà Kiều ở trọ, những người xung quanh ngạc nhiên! vì gia cảnh bà không có ai là người bà con thân thuộc, quê bà ở tận Cà Mau, hai vợ chồng già khoảng 70 tuổi, cô con gái bệnh thần kinh ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Từ tờ mờ sáng, hai vợ chồng cùng người con gái phải đi lượm ve chai kiếm sống. Chồng bà qua đời độ 2 tháng nay do cơn bệnh suy nhược lao phổi, cơm không đủ ăn, lấy tiền đâu mua thuốc??? Chị Bảy nói thật tội nghiệp. Câu chuyện chúng tôi vừa được nghe xong thì bà cũng vừa bước xuống khỏi cầu thang đến gần chúng tôi, bà hồi hộp không hiểu ai đến tìm có chuyện gì? Gương mặt bà sửng sốt. Tôi vội lên tiếng: dì Kiều còn nhớ con không? Hôm trước con đi theo hỏi dì tên gì? nhà dì ở đâu? Dì còn nói “cô hỏi tên làm chi vậy! Hôm nay anh chị em con đến gửi dì gói quà mà Giáo xứ chúng con tặng cho những gia đình nghèo khó khăn chút quà ăn tết, kính chúc gia đình dì mạnh khỏe, vui vẻ và hạnh phúc. Bà chỉ biết im lặng, giọt nước mắt vui mừng vì xúc động nghẹn ngào. Bà nói. Thật bất ngờ vì còn có người quan tâm giúp đỡ cho gia đình nghèo khổ có cái để ăn tết. Tết năm nay dì cảm thấy ấm lòng và vui hơn bao giờ hết. Dì cám ơn cha xứ cùng các anh chị đã đem Hơi Ấm Mùa Xuân đến với những người đang thiếu thốn tinh thần cũng như vật chất như gia đình dì.

    Từ giã xóm nghèo, nơi ấp ủ những con người cả đời phải trăn trở với cuộc mưu sinh vất vả.

Xuân đến rồi xuân lại đi!

Ba vạn sáu ngàn ngày cứ trôi qua.

Như bóng câu qua cửa.

Hỏi ai còn nhớ đến cuộc đời của những người đang cần một chút “Hơi Ấm Của Mùa Xuân”

    Tôi vẫn không quên: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước” “Cho thì có phúc hơn nhận”. 

   Mùa Xuân 2011.


MariaMỹ Ánh CĐLTX- Gx Hòa Bình-GV

Mỗi vị Thánh đều có hoàn cảnh sống khác nhau và các ngài cũng đã sống như chúng ta sống, nhưng cách hành xử và làm chủ cuộc sống của các ngài vượt lên trên sự bình thường của một con người bình thường, và vì thế các ngài được tôn phong vinh hiển trước mặt Chúa và người đời. Nhưng chắc chắn không có vị Thánh nào có hoàn cảnh như Thánh Giuse.

Ngài cũng như bao thanh niên lao động Israel thời đó, tuy có dòng giống cội nguồn là quý tộc, nhưng ngài chỉ là một thanh niên làm nghề thợ mộc, vất vả sớm hôm, gò lưng trên những sản phẩm thủ công như tủ, giường, bàn, ghế… để đổi lấy miếng cơm manh áo. Và khi đến tuổi “cập kê”, cũng đã “ngắm nghé” cho mình một cô thiếu nữ không những xinh xắn mà còn đức hạnh, vẹn toàn và vui sướng vì đã hứa hôn cùng nàng. Chàng thanh niên ấy cũng đã háo hức chờ ngày đón nàng “về dinh”. Nhưng,

“Cũng bởi chữ nhưng giữa cuộc đời

Cho nên tàn phá mộng lòng tôi”

Thật trớ trêu: Vợ sắp cưới của mình lại đang mang thai! Có lẽ cái đau đớn nhất, dằn vặt nhất của ngài là: Không thể như thế được vì Maria là một thiếu nữ đức hạnh!

Kinh Thánh chỉ ghi lại một câu thật ngắn “đánh giá phẩm hạnh” của Giuse: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà một cách kín đáo” (Mt 1, 19). “Người công chính là người ngay thẳng không tư vị-vô tư (Tự điển Việt Hán của Đào Duy Anh). Còn “người quân tử là người có tài đức xuất chúng, có phẩm hạnh ngay thẳng, có nhân cách hoàn toàn” (ĐDA). Thế thì ngoài là người công chính như kinh thánh ghi nhận, ngài còn là BẬC CHÍNH NHÂN QUÂN TỬ. Cái “tài đức, phẩm hạnh, nhân cách xuất chúng” cộng với sự tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa mới có thể làm được những việc: “khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai” (Mt 1, 24-25). Ngài đã làm những điều vượt trên “sự bình thường” của một con người. Thói đời càng yêu thương càng uất ức, càng tin tưởng càng cay đắng bẽ bàng. Trước đây trân trọng bao nhiêu thì nay sẽ dẽ dui bấy nhiêu: “ Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng” (Trịnh Công Sơn). Nếu không có niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa làm sao có thể làm nổi những việc thế gian này không ai có thể làm được. Có lẽ ngôn ngữ của thế gian chưa tìm được một từ thích hợp nhất để “định giá” con người của Giuse, đành phải tạm gọi ngài là ĐẤNG ĐƯỢC THIÊN CHÚA SAI XUỐNG THẾ GIAN để cùng với Đức Mẹ Đồng Công hoàn tất công trình cứu độ của Chúa Giêsu vậy!?

Mỗi lần nghe ca sĩ Tuấn Ngọc hát “Có những niềm riêng làm sao nói hết…” tự nhiên không hiểu sao tôi lại nghĩ đến Thánh Giuse. Trước khi là Thánh nhân ngài cũng là một con người như chúng ta, chắc chắn có những nỗi niềm không thể nói hết với người thế gian, vì người thế gian không thể hiểu những điều bậc Thánh nhân làm. Sự cách biệt giữa Thánh nhân và người phàm không hệ tại ở kiến thức, năng lực, hay đẳng cấp mà là “sự thôi thúc tâm linh”, “một sự mời gọi và trợ lực vô hình” không cưỡng lại được, vượt quá khả năng của một người bình thường. Ai cũng có thể nên thánh nhưng không phải tất cả đều có thể nên thánh được .

Cả một “cuộc đời vĩ đại” như thế, nhưng kinh thánh chỉ viết về Thánh nhân có mấy câu, mà câu nào cũng đầy “biến cố” và là sự lên đường không mệt mỏi. Sứ thần Chúa hiện ra: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy” (Mt 2, 13). Từ Ai Cập: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi” (Mt 2, 20). Rồi một chỗ khác “Bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa” (Lc 2, 22). Khi Chúa được 12 tuổi, ông bà đem con trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt qua. Hai ông bà đã về đến nhà: “không thấy con đâu hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm” (Lc 2, 45). Khi gặp được Chúa, chỉ có Mẹ Maria nói với Chúa như có ý trách một cách nhẹ nhàng: “Con ơi! Sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây phải cực lòng tìm con” (Lc 3, 48) và câu trả lời của Chúa Con “trớt quớt”: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 3, 49). Có ai thấu hiểu nỗi lòng của Giuse lúc đó? Vì kinh thánh ghi lại “hai ông bà không hiểu lời Chúa nói” (Lc 3, 50) thì quả thật tội nghiệp cho trái tim của Giuse biết mấy! Một câu cuối cùng an ủi cho người cha sau 12 năm vất vả nuôi con: “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-za-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 3, 51).

Cuộc đời Thánh Giuse khép lại ở đây. Trong bốn Thánh sử chỉ có Thánh Matthêu và Thánh Luca nói một chút về ngài như vậy. Cả cuộc đời ngài chỉ là cái bóng bên Mẹ và Chúa, nhưng là một cái bóng của một cây cổ thụ, che chở và phủ mát cho hai mẹ con và công nghiệp của ngài không nhỏ trong sự nghiệp cứu độ của Chúa Giêsu .

Ngài đã đi vào cuộc đời của Mẹ và Chúa lặng lẽ và khiêm nhường như thế và chắc khi ra đi cũng lặng lẽ và giản đơn không kém. Nhưng Hội Thánh và nhân loại luôn tri ơn ngài. Không phải chỉ duy nhất ngày 19/3 mà Hội Thánh đã dành trọn tháng 3 để nhân loại chiêm ngắm công trình lèo lái con thuyền Na-za-rét về bến đỗ bình yên. Nhân loại ca tụng ngài là Thánh Cả trong các Thánh, là Bổn Mạng cho các gia trưởng trong mỗi gia đình.

Người cha của thế gian cũng lặng lẽ như ngài. Trong 100 bài văn, bài thơ, bài hát … ca tụng ơn nghĩa sinh thành có tới 90 bài dành cho mẹ, cha chỉ khiêm tốn có 10 bài. Con cái thì luôn dành tình yêu thương cho mẹ mà quên mất ân tình của cha, vì cha luôn vắng nhà để tìm kế sinh nhai nuôi sống cho cả gia đình. Người cha chỉ là cái bóng đi bên cạnh mẹ và các con, nếu người mẹ không nhắc nhở cho các con về công ơn to lớn ấy.

Hội Thánh chọn Thánh nữ Monica làm bổn mạng cho các bà mẹ Công giáo, vì Thánh nữ đã dùng nước mắt và lời cầu nguyện không ngừng để xin Chúa thức tỉnh người chồng nghiện ngập và người con hoang đàng (Thánh Augustino). Thánh nữ chỉ hy sinh và cầu nguyện cho kẻ khác mà không phải đấu tranh với chính mình từng giờ, từng phút như Thánh Giuse, để hoàn tất nhiệm vụ cao cả nhưng đầy đắng cay mà Thiên Chúa dành cho ngài. Nhưng làm chủ một gia đình như gia đình Na-za-rét và có hai người thân yêu tuyệt vời bên cạnh như mẹ Maria và Chúa Giêsu thì có phải đánh đổi một đời người cũng đáng lắm thay!

Trong bất cứ ngôi Thánh đường nào, Thánh Giuse cũng được trang trọng đứng bên Chúa và Đức Mẹ như một sự gắn kết bất khả phân ly bởi quyền năng của Thánh Thần. Trên bàn thờ của mỗi gia đình không thể thiếu Thánh Giuse. Khi gia đình gặp hiểm nguy luôn kêu cầu Thánh nhân giúp sức cứu nguy. Thánh nhân gần gũi với mỗi gia đình như một vị Thần tại gia luôn phù hộ, độ trì kịp lúc. Rồi khi đi hết con đường gian khó, khổ đau của cuộc sống thế trần, ba tên cực trọng được mọi người thiết tha gọi trong lúc lâm chung “Giêsu, Maria, Giuse con mến yêu xin cứu con qua khỏi giờ này” để:

“Một mảnh linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu” (Huy cận)

được về an nghỉ yên bình bên các ngài muôn đời .

1525r-143405


Joseph M. Đoàn Văn Thủ

CĐ LTX Hạt Thủ Thiêm
Gia đình là tế bào hoạt động trong thân xác Giáo Hội Chúa Kitô và xã hội nói chung. Câu chuyện trong sách Sáng Thế (2, 18), kể về việc Thiên Chúa tạo dựng con người, đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về sự kiện căn bản của hiện hữu nhân sinh,

Khi tôi được Chúa dựng nên, để sống, làm việc, sinh hoạt, và trưởng thành về mọi mặt, chính là để tôi sống với người khác, cũng như sự hiện hữu của tôi rất cần đến sự hiện hữu của những người xung quanh. Hay nói khác đi là tôi phải biết dựa vào những người xung quanh để sống và duy trì sự sống.

Như vậy, tôi phải đặt quan hệ với mọi người bằng tình yêu thương, nếu đối lập với họ, tôi sẽ mất mối quan hệ ấy. Và chỉ khi nào tôi nhận ra và sống yêu thương thật với nhau, bằng cách loại bỏ dần những cái tôi ích kỷ hẹp hòi, định kiến nơi tôi, thì lúc đó tôi mới có quan hệ yêu thương với người đúng nghĩa.



Trong định chế hôn nhân theo ý định của Thiên Chúa, thì gia đình là cộng đồng sống chung yêu thương đầu tiên, gia đình ấy được khai sinh từ nơi thượng đế, Giáo hội Chúa được tốt đẹp không bị tỳ vết là do có những gia đình hạnh phúc tốt đẹp không tỳ vết tạo thành trong quyền năng của Thiên Chúa tình yêu. Vì gia đình ấy sẽ được lãnh nhận mọi ân huệ cho sự sống của mình từ chính nơi Thiên Chúa.

Trong bậc sống đôi bạn về hôn nhân và gia đình, thì đời sống chung yêu thương suốt đời là một bài ca gồm nhiều nốt nhạc, với nhiều cung bậc khác nhau, và trong mỗi gia đình lại có sự khác nhau, phải chăng đó là giai điệu của nhạc phẩm. Cho nên mỗi người khi sống trong đời sống hôn nhân gia đình, phải biết hát lên bài ca đó, đúng giai điệu, đúng hợp âm, đúng tiết tấu bản nhạc của mình. Thì gia đình ấy tốt đẹp và hạnh phúc. Vì gia đình đó chính là bài ca, nhưng lại là một bài ca mới của chính Chúa ban tặng. Cho nên ai ai cũng phải cố gắng học hỏi để cảm nhận cho được giá trị và lời ca cung nhạc tuyệt diệu bởi chính Chúa tặng ban.

Nhưng tại sao? Hôm nay lại xuất hiện nhiều gia đình bất hòa, và ngày càng có nhiều gia đình ly tán. Phải chăng người ta chưa hiểu rõ bí tích hôn nhân, hay người ta không chịụ đi theo Đường của Chúa. Công đồng Vaticano II kết thúc từ 1965, đến nay đã bốn mươi lăm năm, thế nhưng Giáo hội Việt Nam hôm nay mới BẮT ĐẦU THỰC HIỆN, thậm chí có nơi còn chờ xem sao đã, chưa muốn bước vào, có thể do dân trí một phần, và từng quốc gia có những khó khăn riêng. Nhưng Chúa nói: ”Thầy đây, đừng sợ”. Thì có lẽ con người của Giáo hội trần thế cũng đang bị giới hạn phần nào. Bởi vì làm chứng cho Chúa, thì phải chịu đau thương, phải vác thánh giá nặng cả xác và hồn, nên Chúa nói trước đó lâu rồi: “có ai dám từ bỏ mình để vác thập giá mà theo ta không?”.

Nhìn vào đời sống gia đình, kinh thánh, lời Chúa còn đó, nhưng hầu hết tâm trạng con người trong đời sống hôm nay, người ta đua nhau đi tìm những thứ của thế gian. Chứ được mấy ai đi tìm Thiên Chúa. Mở mắt ra là lo đi tìm việc làm, tìm tiền để chi tiêu, tìm đất chỗ nào rẻ, giấy tờ hợp lệ để mua qua bán lại hoặc làm chỗ ở, còn những người đã có tiền thì đi tìm tụ điểm nào vui, siêu thị, shopping nào đồ rẻ, đẹp, tìm bác sỹ nào hay, thuốc nào mau lành bệnh, thuốc nào trường sinh bất tử, để lo cho thân xác của mình. Được bao người biết lo sợ linh hồn mình, đang ốm đói tong teo, vì có bao giờ đặt ra câu hỏi cho mình, là tôi sẽ phải TÌM ai?. Thậm chí trong gia đình, khi vợ chồng con cái đã ở bên nhau và họ đang được hạnh phúc bên nhau trong ơn Chúa, thì họ lại đua nhau lo đi tìm sự thành công và địa vị xã hội, đi tìm nhà cao cửa rộng và cố tìm cho được một tương lai sáng sủa hơn. Nhưng tất cả những thứ đó vẫn thuộc về phạm vi trần thế, chứ vẫn không phải là: tìm ai?.

Khi mà trong cuộc sống, tất cả mọi thứ cần tìm kiếm cho bằng được để thỏa mãn nguyện vọng loài người nơi trần thế, thì tất cả nó đều nằm trong phạm trù đi Tìm gì? Cho nên đời sống họ đau khổ, vợ chồng cãi nhau, bất hòa, ly tán, con cái hư hỏng khó dạy.

Chính vì thế, mà vợ chồng bên nhau nhưng vẫn thấy cô đơn. Vì chồng lo đi tìm những thứ tưởng là vợ sẽ hạnh phúc nếu mình tìm được. Chứ anh ta đâu có chịu tìm chính vợ mình, xem trong tâm hồn này đang thiếu vắng gì đây?. Cho nên người ta lạc lõng trong gia đình. Từ đó dẫn đến người trong Giáo hội không gặp được nhau, sự hiệp thông vắng bóng từ ngay mỗi gia đình. Nên các tổ chức tông đồ thiếu sự hiệp thông theo ý Chúa, và trong Giáo hội khó gặp được nhau.

Khi tìm nhau để gặp được nhau, có nhau bằng thân xác, thì con người cũng chỉ là sự vật. Nhưng hiểu nhau bằng tâm hồn để tâm đầu ý hợp, thì là cuộc gặp gỡ bắt buộc phải có sự kiếm tìm nhau. Còn nếu con người cứ mải mê đi kiếm tìm những gì?. Thì họ càng cảm tưởng không cần nhau nữa. Cuộc sống hôm nay ai cũng thích tiền, và tìm mọi cách để kiếm tiền, nhưng khi kiếm được tiền, (ở chỗ đãi vàng chẳng hạn) thì chính đồng tiền ấy sẽ làm cho họ giết nhau, vì tham lam ích kỷ, muốn chiếm hết lấy làm cho riêng mình.

Cuộc sống hôm nay muốn được hạnh phúc thật như Chúa nói. Thì cái hệ tại của nó là hãy cùng tìm nhau cả xác và hồn, hơn là cùng nhau đi tìm vật chất để hơn thua theo kiểu chạy đua về đích. Là con cái Thiên Chúa, Chúa chính là tình yêu, Ngài vẫn và đang ban tặng cho chúng ta được hưởng hương thơm dịu ngọt tình yêu đó. Nhưng nếu ai ai cũng đi tìm tình yêu cho mình, thì đó là dấu chỉ ta đang bị mất tình yêu, vì tình yêu đang ở ngoài ta và ở xa ta. Và nếu tình yêu ở ngoài và ở xa, mà lại cứ đi tìm theo ý con người trần thế thì bao giờ mới gặp, bao giờ mới thấy. Nhưng nếu ta cùng tìm nhau thì tình yêu sẽ nẩy sinh và ta mới gặp được tình yêu, tình yêu ấy chính là Thiên Chúa. Vì trong thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ chương bốn câu tám và mười sáu khẳng định rằng: ”Thiên Chúa là tình yêu”. Tình yêu ấy được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm khảm mỗi người.
an01430_


Têrêsa Nguyễn Thị Thơoi5cad0un3lcaho8m51cak0p63pca3pt4ptcahco19uca7n8s4ica5plvbdcaqjsws7casm58xxcadmma7vcapj5szvcaz27qutcauzppdoca3547g7ca9u0po7caji1frhcag8km15caqaxt09cad3dvfz

Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi không thối đi thì nó sẽ trơ trọi một mình thôi. Và nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà chết đi và thối đi, thì nó sẽ sinh ra nhiều bông hạt... Là con chết, con chết đi cho anh em con.

Bài hát này lâu nay tôi nghĩ là chỉ dành cho những vị Thánh, những người có đời sống tốt, thánh thiện đã qua đời. Nhưng khi hồi tưởng lại những gì đã qua, những điều đã thấy, thì tôi cảm nhận được Chúa thật nhân từ và độ lượng. Con trai tôi mất đã hơn một năm, nó ra đi để lại trong lòng cha mẹ nỗi khổ sầu, cay đắng. Tôi trăn trở từng đêm không ngủ với những giọt nước mắt ngắn dài để suy tư về điều: Con đã nghĩ gì khi đôi mắt buồn nhắm nghiền khép kín! Con đã bay cao trên đỉnh trời đầy hạnh phúc hay đang ngụp lặn trong chốn tối tăm luyện hình? Mỗi lần nhớ đến nó là tôi vội cắt đứt ngay những dòng tư tưởng để chỉ còn muốn dâng lên Chúa tất cả trong niềm phó thác, chỉ muốn cầu xin Chúa tha thứ tất cả những lỗi lầm để con sớm được về hưởng nhan thánh Chúa.

Tuần tĩnh tâm các gia trưởng và Hiền mẫu mùa Vọng vừa qua, Cha giảng phòng nói lên nỗi lòng của một bà mẹ đau khổ: ”Nếu con biết trước con của con sau này không tốt, thì thà con bóp mũi nó chết khi mới sinh ra cho rồi, để bây giờ con không phải khổ!!”. Một ý nghĩ nghe thật phũ phàng, thế thì còn gì để gọi là Thánh giá vác trên vai, để được giống như Chúa. Cha nói thêm: “Còn với các bà mẹ, nếu mà Chúa cho biết trước là sau này con của các bà sẽ là Đức Gíao Hoàng hay Gíam Mục hay Linh Mục, thì các bà sẽ nghĩ sao?” Chắc hẳn là các bà sẽ vênh vang, tự mãn, kiêu căng, chắc là phải tồi tệ hơn nữa, các bà sẽ tội lỗi hơn nữa vì lý do Chúa muốn chúng ta sống khiêm nhường như Đức Mẹ. Cha mẹ nào lại không muốn con tốt, những đứa con mà Chúa chưa thấy đẹp lòng, nhưng Chúa cũng thương. Ngài không chỉ đợi chờ những người có cuộc sống tốt khi chết đi mới được là những hạt lúa mì sinh bông trổ hạt. Ngài cũng không phân biệt những người thánh thiện hay những người tội lỗi. erjcacvj97ycaulncwqcakmig32cab0kr15carjr5stca0l0xtucampx4iqca3sgcvacathst2qca9kkt4kcas28z36ca8sigumca6ifkdacacqenmgcaeqwbnbcad1i7ukcavqs7vfcaocq264ca9x9pwi

Dụ ngôn Con chiên lạc làm tôi thấy được an ủi phần nào. Người chủ chăn đã bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm một con chiên lạc, và ông rất vui mừng khi tìm đươc con chiên lạc, ông đã vác nó trên vai đưa về và khoe với mọi người về con chiên lạc được tìm thấy. Vì biết vậy nên tôi nghĩ đến sự công bình của Chúa, ôm trong lòng nỗi buồn mất con, nhưng đã được Chúa lấp đầy chỗ trống vắng hình bóng của nó bằng một niềm vui. Tôi chợt nghĩ đây cũng gọi là một chút niềm vui sau thập giá, có lẽ chính con tôi đã cầu xin cùng Chúa cho ba nó đến với Chúa mỗi ngày. Từ 26 năm nay, kể từ khi anh trở lại với Chúa, thì chỉ ngày Chúa nhật anh mới đến nhà thờ dự lễ, và anh luôn cho rằng đi lễ ngày Chúa nhật là tốt, là đủ lắm rồi. Nhưng hôm nay, đứa con mất đi đã làm cho anh thay đổi. Tôi buồn, anh cũng buồn và anh cũng muốn dự lễ mỗi ngày để cầu nguyện cho con. Tôi nghĩ, chỉ là một chút niềm vui khi nghĩ đến một chị trong Gíao xứ mình, ba đứa con trai chị trước khi mất đi đều được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Sau đó là hai vợ chồng chị cũng được trở lại với Chúa trong niềm hân hoan vui sướng tay bắt mặt mừng cùng với Cha Xứ, Qúy Cha, bạn bè và với nhiều người đã từng cảm phục lòng can đảm của chị, chị vẫn vui. Ba đứa con của chị có phải đã là những hạt lúa mì gieo xuống đất để làm sinh hạt nảy mầm cho cha mẹ, để cha mẹ được đến với Chúa và yêu Chúa. Tôi cho rằng đây cũng là một niềm vui, một vinh quang lớn lao mà Chúa ban riêng cho gia đình chị, một sự vinh quang bất diệt không bao giờ tàn lụi mà chỉ có Chúa mới thúc đẩy cho chị được tiến tới đỉnh cao này.

Cũng trong tuần tĩnh tâm Giới Trẻ Mùa Chay vừa mới đây, đang trong tâm trạng buồn chán, tôi bị đánh động bởi câu nói của cha giảng phòng: ”Sao tôi vẫn thấy nhiều người bị sóng gió ba chìm bảy nổi mà gương mặt họ vẫn tươi sáng rạng ngời”. Tôi thầm nghĩ thật là ích lợi cho tâm hồn khi được nghe những bài giảng trong những ngày Tĩnh Tâm. Hình như Chúa cũng muốn san sẻ cho mỗi người được tiếp thu một lời nào đó thật thấm thía cho riêng mình để làm hành trang cho cuộc sống hiện tại và tương lai, để phó thác và cậy trông vào Chúa mà sống vững vàng trong đời sống đức tin.

Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết một bài hát nói là sỏi đá cũng còn biết buồn, thì làm sao trái tim con người nhỏ yếu, mềm mại bằng xương bằng thịt mà không cảm thấy buồn. Làm sao khi con người mất đi một khúc ruột của mình mà không biết đau? Trên đời nhiều người cho rằng sống là phải nhìn xuống thì mới thấy mình hạnh phúc, vì mình khổ nhưng vẫn còn nhiều người khổ hơn, mình nghèo còn có nhiều người nghèo hơn. Nhưng về tinh thần, nếu muốn được thanh thản, bạn sẽ luôn phải nhìn lên để có một đức tin mãnh liệt, phải ngước cao lên để được nhìn thấy Chúa, để van nài nơi Lòng Thương Xót vô biên của Chúa cho tâm hồn được bình an, để được múc lấy tràn đầy sự giàu có mọi thứ Hồng Ân nơi trái tim yêu thương của Chúa, để được can đảm đứng vững trước mọi khó khăn thử thách dù bao cơn bão táp đang ập tới. Tôi cũng đã học được nơi Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê một câu nói mà tôi thấy cũng rất cần thiết cho mọi người. Ngài nói: ”Khi đau khổ cực độ. Con hãy nhìn lên Thánh Gía. Ôm choàng lấy Thánh Gía, và con sẽ thinh lặng đứng vững như Đức Mẹsmall_nvn_1262696351

Mẹ Maria của chúng ta cũng đã từng gặp muôn ngàn đau khổ, Mẹ đã chấp nhận đứng nhìn con mình đang đi dần vào cái chết. Mẹ buồn phiền đau đớn vì phải nghe bên tai những tiếng chê bai hơn là những lời khen ngợi. Người con Giêsu yêu dấu của Mẹ đã phải chết hai lần vì thêm một mũi đòng đâm thẳng vào cạnh sườn. Nhìn hình ảnh Mẹ đau khổ đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu, nhưng nơi Mẹ, chúng ta vẫn luôn cảm nhận một nét đẹp thanh khiết và tươi sáng rạng ngời, bởi vì Mẹ đã biết chấp nhận tất cả mọi sự bằng hai tiếng Xin Vâng trong niềm tin tưởng và phó thác mọi sự cho Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy luôn đồng hành với chúng con, để chúng con được đứng vững như Đức Mẹ, luôn biết Xin vâng theo thánh ý Chúa. Chúng con xác tín một điều là: Có Chúa bên cạnh, chắc chắn tình yêu sẽ lớn lên và buồn sầu được vơi đi. Xin cho chúng con luôn biết trông cậy vào Lòng Chúa Thương Xót, phó thác và Tạ ơn Chúa trong mọi hòan cảnh của cuộc sống.

Joseph Vũ St

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay. Như mọi năm, Mùa Chay bắt đầu từ thứ tư Lễ Tro và kéo dài trong 40 ngày. 40 ngày này nhằm chuẩn bị để chúng ta sống mầu nhiệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu, đón nhận cái chết và mừng ngày Phục sinh của Người. Ngoài ra, Mùa Chay còn nhắc cho chúng ta thời gian 40 đêm ngày Chúa ăn chay cầu nguyện, trước khi công khai ra truyền đạo, để mặc khải cho nhân loại sứ mệnh cứu nhân độ thế của Người. Trong Mùa Chay, Hội thánh muốn đón nhận sứ điệp cứu độ với một tấm lòng quảng đại đặc biệt. Vì thế, Hội thánh rất chú ý lắng nghe những lời của Chúa Kitô loan báo Nước Thiên Chúa. Lời nói cuối cùng của Người chính là cái chết trên cây Thập Tự để làm lễ giao hòa chúng ta với Thiên Chúa. Có ba ý tưởng chính cho chúng ta suy nghĩ và đem ra thực hành trong Mùa Chay.



1. Thánh giá

Trong Mùa Chay, mọi người chúng ta phải chú ý đặc biệt nhìn lên Thánh Giá để tìm hiểu thêm ý nghĩa hùng hồn mà Thánh Giá muốn nói với chúng ta. Khi nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không chỉ nhớ lại biến cố đã xảy ra cách đây hơn hai ngàn năm mà còn đón nhận một bài học cho thời đại chúng ta, cho người ngày nay. Thánh Giá của Người là một lời kêu mời mạnh mẽ thúc giục chúng ta ăn năn hối cải và thay đổi đời sống, vì chính Người đã bằng lòng chịu chết treo trên cây Thập Tự để cứu chuộc chúng ta, để biến đổi chúng ta từ tình trạng là những kẻ thù nghịch với Thiên Chúa trở nên con cái và thừa hưởng gia nghiệp muôn đời. Cho nên, chúng ta phải coi lời kêu gọi này là gửi đến cho mỗi người và mọi người nhân dịp Mùa Chay. Nói khác đi, sống Mùa Chay có nghĩa là nhờ Chúa Giêsu mà thay đổi đời sống và qui hướng về Thiên Chúa.



2. Cầu nguyện

Ý tưởng thứ hai là cầu nguyện. Trong Tin Mừng, rất nhiều lần Đức Giêsu nói đến cầu nguyện và gắn liền cầu nguyện với thay đổi đời sống. Phải cầu nguyện, tiếp xúc với Thiên Chúa mới mong thay đổi được đời sống, vì nhờ cầu nguyện, chúng ta được lay động thức tỉnh, từ đó nhìn ra những điều cần thay đổi trong đời sống mà ăn năn hối cải. Trong Mùa Chay, chúng ta phải cầu nguyện, tìm thời giờ và nơi để cầu nguyện. Cầu nguyện đưa chúng ta ra khỏi thái độ dửng dưng và làm cho chúng ta nhậy cảm với những điều có liên quan đến Chúa và các linh hồn. Cầu nguyện giáo dục lương tâm chúng ta và Mùa Chay rất thích hợp cho công việc này. Trong Mùa Chay, Hội Thánh nhắc bảo chúng ta phải xưng tội để lương tâm được trong sạch mà sống mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Kitô, không phải trong phụng vụ mà thôi nhưng trong cả tâm hồn nữa.



3. Ăn chay, chia sẻ

Làm phúc, bố thí và ăn chay là những phương thế liên hệ mật thiết với nhau để giúp chúng ta ăn năn hối cải. Ăn chay không chỉ có nghĩa là bớt ăn hay không ăn mà còn có nghĩa là thắng mình, là đòi hỏi với chính mình, sẵn sàng từ chối ăn uống và chấp nhận hy sinh những vui thích. Và làm phúc có nghĩa là chia vui sẻ buồn với người khác, giúp đỡ người ta, nhất là những ai lâm cảnh thiếu thốn, phân phát cho người ta không nguyên của cải vật chất mà cả tinh thần nữa. Chính vì thế, chúng ta phải cởi mở đối với người khác, biết nhận ra những nhu cầu của họ và cảm thông những nỗi đau buồn của họ, đồng thời tìm cách đáp ứng những nhu cầu đó và làm cho những nỗi đau thương của họ vơi nhẹ đi.

Như vậy, cầu nguyện để kết hợp với Thiên Chúa đồng thời cũng hướng chúng ta tới tha nhân. Khi chúng ta quảng đại với tha nhân, nhất là đối với những ai đau khổ và thiếu thốn là chúng ta sống kết hợp với Chúa Kitô vì Người tự đồng hóa với họ như Người nói: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đã hỏi han” (Mt 25, 35-36).

Trong Mùa Chay, chúng ta thường nghe đọc: “Đây là lúc Chúa thi ân, đây là ngày Chúa cứu độ". Vậy chúng ta hãy tận dụng thời gian này vì là thời thuận tiện và là thời Chúa ban ơn để chúng ta sám hối và tin vào Tin Mừng như Chúa dạy: “Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào tin Mừng” (Mc 1, 15).



c:\users\dinh tien\appdata\local\microsoft\windows\temporary internet files\content.ie5\vz5gkk6l\mc900026861[1].wmf

CHIA BUỒN
Được tin anh Giu-se Đinh Quang Tuấn Hải, là bào huynh

Lm Phê-rô Đinh Quang Mạnh Hùng; OP, cha Giảng

thuyết thánh lễ Lòng Chúa Thương Xót lúc 3 giờ chiều

mỗi thứ sáu hàng tuần tại Nhà thờ Tân Định.

Sinh năm 1966. Đã được Chúa gọi về lúc 6g30 sáng thứ năm 10/2/2011 (mồng 8 Tết Tân Mão) tại tư gia Kinh D – Cái Sắn – Cần Thơ.

Sau 3 tháng đau khổ cùng Đức Ki-tô với căn bệnh ung thư, anh đã được Chúa đưa đi bình an, mang lại nhiều ân sủng đức tin cho gia đình và người thân. Cha Tổng Linh Hướng, Ban Chấp Hành CĐ LTXC GP và các Giáo Hạt xin chia buồn cùng cha Giảng thuyết, tang quyến, và cũng chia sẻ với gia đình niềm hy vọng của Đức Ki-tô Phục Sinh.



Xin cộng đoàn hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn Giuse.
Gia Đình Lòng Thương Xót GP




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương