Lịch sử ĐẢng cộng sản việt nam và ĐẢng bộ TỈnh bình dưƠNG



tải về 223.14 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích223.14 Kb.
  1   2


GỢI Ý ĐÁP ÁN CÂU HỎI CUỘC THI TÌM HIỂU “LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG”

Câu 1: Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức mấy kỳ đại hội? Hãy nêu rõ thời gian, địa điểm tổ chức. Nêu tên các đồng chí Tổng Bí thư (hoặc Bí thư thứ nhất) từ khi Đảng ta được thành lập đến nay?

Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã trải qua 11 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng ghi nhận những thắng lợi, thành tựu và những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.



  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I

Diễn ra từ ngày 27-31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc) do dồng chí Hà Huy Tập chủ trì.

Đại hội bầu đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. (Đến tháng 10/1936, TƯ Đảng được tổ chức lại, đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư; tháng 3/1938, BCH TƯ Đảng họp Hội nghị toàn thể, bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư; tháng 11/1940, Hội Nghị TƯ 7, Trường Chinh nắm quyền Tổng Bí thư).

Đại hội lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Đại hội đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II

Diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

Dự đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên cộng sản trên toàn Đông Dương.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng, đồng thời đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.

Đại hội bầu ra BCH TƯ gồm 19 đồng chí chính thức và 10 đồng chí dự khuyết. Trong đó, Bộ chính trị có 7 đồng chí chính thức và 1 dự khuyết. Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư.

Dưới ánh sáng của đường lối Đại hội lần thứ II của Đảng và các nghị quyết hội nghị Trung ương, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cải cách ruộng đất ngay trong chiến tranh, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, giành nhiều thắng lợi trên các chiến trường cả nước trong chiến dịch Đông-Xuân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đưa đến thắng lợi hội nghị Geneve, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.


  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III

Đại hội diễn ra từ ngày 5-10/9/1960 tại Hà Nội. Có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đã về dự Đại hội. Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 đồng chí và 31 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH TƯ Đảng.



  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV

Đại hội diễn ra từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội.

Tham dự đại hội có 1008 đại biểu chính thức thay mặt cho 1.550.000 đảng viên của cả hai miền đất nước, cùng với sự có mặt của nhiều Đảng Cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.

Đại hội đã thảo luận, đánh giá quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội trên toàn đất nước. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, gồm:

+ Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa

+ Đường lối xây dựng kinh tế trong thời kì quá độ

ĐH thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.

ĐH đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

ĐH còn bổ sung Điều lệ Đảng, thay chức danh Bí thư thứ nhất là TBT, bỏ chức danh Chủ tịch Đảng. ĐH bầu BCH TƯ gồm 101 đồng chí chính thức, Bộ chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm TBT.



  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V

Đại hội diễn ra từ ngày 27-31/3/1982. Tham dự Đại hội có 1033 đại biểu thay mặt 1.727.000 đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở.

Đại hội lần thứ V của Đảng là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, tập hợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ, phương hướng… nhằm giải quyết những vấn đề gay gắt nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam. Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI

Đại hội diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội.

Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII

Đại hội diễn ra từ ngày 24-27/6/1991 tại Hà Nội.

Dự đại hội có 1.176 đại biểu, thay mặt cho hơn 2.155.022 đảng viên trong cả nước.

ĐH đã bầu BCH T.Ư gồm 146 ủy viên, bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên (Hội nghị BCH T.Ư lần thứ 6 khóa VII tháng 11/1993 đã bầu bổ sung thêm 4 ủy viên Bộ Chính trị).

Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.



  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

Đại hội diễn ra từ ngày 28/6-1/7/1996 tại Hà Nội.

Dự Đại hội có 1.198 đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước.

Nhiệm vụ của đại hội là thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá độ lên CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.

Đại hội “có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu cột mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta”. Đại hội VIII của Đảng là Đại hội tiếp tục đổi mới vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Đại hội đã bầu BCH T.Ư gồm 170 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư (sau đó, tại Hội nghị BCHTƯ lần thứ 4 khóa VIII – tháng 12/1997, đồng chí Lê Khả Phiêu đã được bầu làm Tổng Bí thư).


  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX

Đại hội diễn ra từ ngày 19-22/4/2001 tại Hà Nội.

Tham dự ĐH có 1.168 đại biểu là những đảng viên ưu tú được bầu từ các đại hội đảng bộ trực thuộc, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn Đảng.

Đại hội IX của Đảng có ý nghĩa trọng đại mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX gồm 150 uỷ viên.

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X

Đại hội diễn ra từ ngày 18-25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội.

Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đây là Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết, với Bộ Chính trị gồm 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên.


Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X.

Đồng chí Nguyễn Văn Chi, Uỷ viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng khoá X.



  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI 

Đại hội lần thứ XI của Đảng chính thức diễn ra từ ngày 12 đến 19/01/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình với sự tham dự của 1.377 đại biểu, đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên sinh hoạt ở gần 54.000 tổ chức cơ sở Đảng.

Đồng chí Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ Chính trị (khóa X), Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đọc Diễn văn khai mạc Đại hội. Đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) trình bày Báo cáo về các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X trình bày Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.



* DANH SÁCH CÁC TỔNG BÍ THƯ ĐCSVN

1. Trần Phú: được bầu làm TBT vào tháng 10/1930.

2. Lê Hồng Phong: bầu tại ĐH I.

3. Hà Huy Tập: 10/1936.

4. Nguyễn Văn Cừ: 3/1938.

5. Trường Chinh: 11/1940,  chính thức tại HN trung ương VIII (5/1941) ĐH II

6. Lê Duẩn: ĐH III (9/1960, ĐH IV (12/1976, ĐH V (3/1982), (14/7/1986: qua đời)

7. Nguyễn Văn Linh: ĐH VI (12/1986).

8. Đỗ Mười: ĐH VII (6/1991), ĐH VIII (6/1996).

9. Lê Khả Phiêu: tại HN TƯ lần thứ IV (12/1997)

10. Nông Đức Mạnh: ĐH IX (4/2001), ĐH X (4/2006).

11. Nguyễn Phú Trọng



Câu 2: Hãy nêu tóm tắt về thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam?

I. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG  CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ

Đồng chí Trần Phú sinh ngày 01/5/1904, quê ở xã Việt Yên, nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh - một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng. Thân sinh của đồng chí là cụ Trần Văn Phổ và cụ Hoàng Thị Cát.

Cụ Trần Văn Phổ là một nhà nho nghèo, yêu nước. Sau khi đậu giải Nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương) vào năm 1848, Cụ được cử làm giáo thụ tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1901, Cụ vào dạy học tại Tuy An, tỉnh Phú Yên. Năm 1907, Cụ được bổ nhiệm làm Tri huyện huyện Đức Phổ. Dù dạy học hay làm quan, Cụ luôn là người chính trực, thanh liêm, yêu nước, thương dân. Khi thực dân Pháp tăng cường bóc lột tại Việt Nam, nhân dân đứng lên phản kháng, triều đình Nhà Nguyễn đã thẳng tay đàn áp nhân dân và bắt Cụ phải thi hành mệnh lệnh, nhưng Cụ đã đứng về phía nhân dân. Vì quá uất ức trước sự bạo tàn của thực dân, phong kiến, không chịu sự đe dọa, bức bách của kẻ thù, Cụ đã quyên sinh để phản kháng chế độ hà khắc lúc bấy giờ.

Cụ bà Hoàng Thị Cát - thân mẫu của đồng chí Trần Phú là người hiền hậu, tần tảo chăm lo chồng, con. Sau khi chồng mất, gia đình cụ Hoàng Thị Cát lâm vào cảnh khốn khó, Cụ lâm bệnh nặng, rồi qua đời vào đầu năm 1910, khi đồng chí Trần Phú mới 6 tuổi.

Mẹ mất, đồng chí Trần Phú về Quảng Trị ở với anh, chị ruột. Năm 1914, đồng chí vào Huế học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, tiếp đó học tại Trường Quốc học Huế.

Năm 1922, sau thi đỗ đầu kỳ thi Thành Chung do Trường Quốc học Huế tổ chức, đồng chí Trần Phú được bổ nhiệm dạy học tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, Thành phố Vinh. Trong quá trình dạy học, đồng chí có dịp gần gũi với công nhân và nông dân, nhiệt tình truyền đạt kiến thức văn hoá, giác ngộ tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng cho những người lao động.

Năm 1925, Đồng chí Trần Phú tham gia sáng lập và hoạt động tích cực trong tổ chức Hội Phục Việt. Khi bị bọn mật thám phát hiện, những người lãnh đạo Hội quyết định đổi tên thành Hội Hưng Nam, sau đó lại đổi tên thành Việt Nam Cách mạng Đảng, rồi Tân Việt Cách mạng Đảng. Trong những ngày sôi động đó, đồng chí Trần Phú thôi nghề dạy học, tập trung cho hoạt động cách mạng.

Tháng 9/1925, đồng chí Trần Phú được Hội Phục Việt cử sang Lào để vận động cách mạng. Thời gian hoạt động ở Lào, đồng chí đã đi sâu tìm hiểu đời sống và nguyện vọng của công nhân, nông dân, giác ngộ cách mạng cho họ và bước đầu tự rèn luyện lập trường, ý thức giai cấp công nhân cho mình.

Tháng 6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Được tin, Ban lãnh đạo Hội Hưng Nam cử đồng chí Trần Phú sang gặp các đồng chí trong tổ chức này để đề nghị hợp nhất hai tổ chức. Trong thời gian này, đồng chí Trần Phú được lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc đặt tên là Lý Quý, được huấn luyện về lý luận chính trị và kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, vào Cộng sản Đoàn và được cử về nước hoạt động.

Tháng 12/1926, đồng chí Trần Phú về đến thành phố Vinh. Sau khi báo cáo việc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên dự định hợp nhất các tổ chức cách mạng trong và ngoài nước, đồng chí truyền đạt lại những lời dạy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, giúp các đồng chí trong nước cải tổ Hội Việt Nam cách mạng đồng chí theo đường lối và tổ chức của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Ở trong nước một thời gian, trước sự truy nã gắt gao của kẻ thù, đồng chí lại được cử sang Quảng Châu làm việc tại cơ quan Tổng bộ Thanh niên.

Mùa xuân năm 1927, trước yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo cán bộ cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đồng chí Trần Phú sang học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. Lúc ấy, đồng chí mang tên là Li-ki-vơ. Ở trường này, theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc - đại diện Quốc tế Cộng sản, một nhóm cộng sản Việt Nam được thành lập, đồng chí Trần Phú được chỉ định làm Bí thư của nhóm. Dù vào học muộn một năm, sức khỏe yếu, nhưng với trí thông minh, ham học hỏi cùng với nghị lực mạnh mẽ, đồng chí Trần Phú đã nỗ lực phấn đấu không chỉ theo kịp các đồng chí khác, mà còn giúp đỡ cho một số anh em cùng khóa vươn lên học tập. Ngày 11/10/1929, Triều Nguyễn theo lệnh đế quốc Pháp kết án tử hình vắng mặt đồng chí Trần Phú.

Đầu năm 1930, sau khi học xong ở Trường Đại học Phương Đông, đồng chí Trần Phú đã xin tổ chức cho về nước hoạt động.

Tháng 4/1930, đồng chí Trần Phú về đến Hà Nội và đến tháng 7/1930 được cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Trần Phú đã khẩn trương tổ chức trao đổi với các đồng chí lãnh đạo Đảng trên các lĩnh vực, các vùng và nghiên cứu, khảo sát thực tế tình hình phong trào công nhân Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Hòn Gai, Thái Bình... Trong căn buồng xép của tầng hầm chật chội ở ngôi nhà số 90 - Thợ Nhuộm - Hà Nội, bản Luận cương chính trị của Đảng đã được đồng chí Trần Phú khởi thảo. Luận cương chính trị đã được Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10/1930) thảo luận và nhất trí tán thành. Cũng tại Hội nghị này, Trần Phú chính thức được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, khi đó đồng chí mới 26 tuổi.

Sau Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10/1930) của Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương quyết định đóng trụ sở tại Sài Gòn để thuận lợi cho việc lãnh đạo phong trào cách mạng cũng như việc liên lạc với Hương Cảng (Trung Quốc) và Mác-xây (Pháp). Tại Sài Gòn, đồng chí Trần Phú được một đảng viên làm bồi bếp cho tên đốc học người Pháp bố trí ở ngay trong nhà để đảm bảo giữ bí mật.

Tháng 3/1931, đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai. Hội nghị đã nhận định tình hình cách mạng và đề ra những chủ trương, biện pháp mới nhằm đẩy mạnh phong trào, củng cố tổ chức Đảng. Sau Hội nghị, bọn mật thám ra sức lùng sục, đánh phá hàng loạt cơ sở Đảng. Ngày 18/4/1931, đồng chí Trần Phú bị địch bắt tại Sài Gòn và bị tra tấn rất dã man, nhưng chúng đã không khuất phục được ý chí của người cộng sản kiên trung. Đồng chí tuyên bố dứt khoát “Đừng hỏi làm gì nữa vô ích. Ta không thể đem công việc của Đảng ta nói cho các ngươi nghe”. Cuối cùng kẻ thù đã bất lực trước tinh thần gang thép ấy và đưa đồng chí ra Toà án Sài Gòn để xét xử. Tại đây, đồng chí Trần Phú đã thể hiện lòng dũng cảm, trí thông minh, bản lĩnh kiên cường, biến tòa án của kẻ thù thành nơi lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp và nêu cao uy tín của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong những ngày bị giam cầm, tra tấn, đồng chí Trần Phú luôn nêu cao tấm gương đấu tranh cách mạng. Hàng ngày, đồng chí vẫn tham gia bồi dưỡng lý luận chính trị và kinh nghiệm công tác cho các đồng chí tù chính trị, căn dặn anh em, đồng chí luôn giữ vững tinh thần, đặt niềm tin sắt son vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng. Tuy sức khỏe yếu, nhưng Trần Phú vẫn tích cực cùng anh em, đồng chí tham gia đấu tranh chống lại chế độ tù đày hà khắc của thực dân. Tháng 8/1931, bệnh của Trần Phú nặng hơn, bọn mật thám phải đưa đồng chí về Nhà thương Chợ Quán. Sức khỏe của đồng chí ngày càng yếu đi, ngày 06/9/1931, đồng chí Trần Phú đã trút hơi thở cuối cùng tại Nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn) khi mới 27 tuổi - độ tuổi đang tràn đầy tài năng sáng tạo, cống hiến cho cách mạng. Trước khi hy sinh, đồng chí Trần Phú đã nhắn nhủ các đồng chí của mình: Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!

Sau gần 68 năm kể từ ngày đồng chí Trần Phú hy sinh, phần mộ của đồng chí được tìm thấy tại Nghĩa trang Chợ Quán, Sài Gòn, nay là Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào lúc 09 giờ, ngày 12/01/1999, tại Hội trường Thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu, sau đó di dời hài cốt đồng chí về an táng tại đồi Hội Sơn, Cồn Nổi (Quần Nội) trước bến Tam Soa thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.



Câu 3: Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới đất nước từ Đại hội lần thứ mấy, năm nào? Nội dung chủ yếu Nghị quyết của Đại hội đổi mới?

Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18-12-1986.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới.

- Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện). 

- Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu. 

- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. 

Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính sách xã hội, kế hoạch hoá dân số và giải quyết việc làm cho người lao động. Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân. Trên lĩnh vực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. 

Báo cáo Chính trị chỉ rõ 6 nhiệm vụ chủ yếu của bộ máy Nhà nước và nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng. 

- Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể. 

- Xây dựng chiến lược kinh tế- xã hội và cụ thể hoá chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. 

- Quản lý hành chính – xã hội và hành chính kinh tế, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỷ cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh. 

- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những mất cân đối và đề ra những biện pháp để khắc phục. 

- Thực hiện quy chế làm việc khoa học có hiệu suất cao.

- Xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.



Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập vào thời gian nào, ai là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên? Công tác cấp bách trước mắt của Đảng bộ tỉnh sau khi được thành lập là gì?

Thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ I của Đảng về công tác phát triển Đảng, đồng thời đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, tháng 2/1936, Xứ ủy Nam Kỳ đã chỉ định BCH Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một gồm 5 đồng chí: Trương Văn Nhâm, Nguyễn Thị Bảy là 2 cán bộ tăng cường của Xứ ủy và 3 cán bộ địa phương, trong đó có đồng chí Hồ Văn Cống.

Đồng chí Trương Văn Nhâm – Xứ ủy viên kiêm Bí thư tỉnh ủy.

Công tác cấp bách trước mắt của Đảng bộ sau khi thành lập là ổn định tổ chức chi bô, tổ chức và vận động quần chúng đấu tranh.

Ý nghĩa của việc thành lập tỉnh ủy lâm thời: Đánh dấu một bước ngoặt trong phong trào cachs mạng của giai cấp công nhân và nhân dân tỉnh TDM. Từ đây tỉnh có cơ quan đầu não để trực tiếp lãnh đạo phong trào trong tỉnh.

Câu 5: Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước 30-4-1975 đến tháng 11-2015, Đảng bộ tỉnh Sông Bé - Bình Dương đã trải qua mấy kỳ đại hội? Hãy cho biết họ và tên các đồng chí giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy qua từng nhiệm kỳ? Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của nghị quyết các kỳ đại hội?

Tháng 2/1976, tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước được sáp nhập thnahf tỉnh Sông Bé, đồng thời TW Cục cũng chỉ định BCH lâm thời Đảng bộ tỉnh Sông Bé.



* Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé lần thứ I:

- Họp tại TX Thủ Dầu Một. Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Đỗ Văn Nuống.

- Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu:

+ Tổng kết thắng lợi của Đảng bộ và quân dân Sông Bé sau 2 năm giải phóng, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quyết định phương hướng kế hoạch 5 năm 1976-1980.

+ Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo toàn diện của các cấp bộ Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động và kiện toàn bộ máy chính quyền nhân dân các cấp.

+ Nắm vững và thực hiện tốt 3 cuộc cách mạng, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, văn hóa, đẩy lên một bước phong trào thi đua lao động XHCN, cần kiệm xây dựng nhà nước.

+ Tiếp tục trấn áp bọn phản cách mạng, ra sức củng cố quốc phòng an ninh, trật tự xã hội.

+ Xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể ngày càng vững mạnh về số lượng, chất lượng.



* Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé lần thứ II:

- Diễn ra từ ngày 26/12/1979-1/1/1980. Bí thư tỉnh ủy là đồng chí Đỗ Văn Nuống.

- Mục tiêu, nhiệm vụ:

+ Xây dựng tỉnh Sông Bé thành tỉnh công – nông – lâm nghiệp toàn diện.

+ Sớm cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

+ Tăng nhanh nguồn hàng xuât khẩu, làm tốt nghĩa vụ với Nhà nước.



* Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé lần thứ III:

- Được tiến hành 2 vòng tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Nguyễn Văn Luông làm Bí thư tỉnh ủy.

- Mục tiêu, nhiệm vụ: Thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược của Đảng trong giai đoạn mới: Xây dựng thành công XHCN và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

* Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé lần thứ IV:

- Họp từ 28/10-01/11/1986 tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Nguyễn Văn Luông tiếp tục được bầu làm Bí thư tỉnh ủy.

- Mục tiêu, nhiệm vụ:

+ Kiên quyết điều chỉnh, bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư theo hướng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, gắn sản xuất với chế biến giúp giải quyết nhu cầu lương thực thực phẩm tại chỗ, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng phù hợp với nguyên liệu địa phương. Phấn đấu ổn định cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

+ Tạo sự tích lũy kinh tế địa phương và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, xây dựng thêm CSVC của CNXH, đảm bảo đầu tư hiệu quả, nhanh chóng thu hồi vốn.

+ Đẩy mạnh cải tạo XHCN và nâng cao chất lượng quan hẹ sản xuất. hình thành đồng bộ cơ chế mới, thiết lập trật tự lỷ cương trong quản lý kinh tế - xã hội.

+ Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh, tích cực giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

* Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé lần thứ V:

- Được tiến hành 2 vòng tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Nguyễn Minh Triết được bầu làm Bí thư tỉnh ủy.

- Mục tiêu, nhiệm vụ:

Đây là đại hội của trí tuệ - đổi mới – dân chủ - kỷ cương – đoàn kết để tiếp tục củng cố và phát huy những thành quả cách mạng.

+ Đưa kinh tế tỉnh tiếp tục phát triển, thúc đẩy tăng trưởng và có tích lũy.

+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

+ Chăm lo, ổn định cuộc sống nhân dân.

* Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Sông Bé – Bình Dương lần thứ VI:

- Diễn ra ngày 27/4/1996. Đồng chí Nguyễn Minh Triết được bầu giữ chức Bí thư tỉnh ủy.

- Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc Hội, ngày 26/11/1996 BTV tỉnh Sông Bé ra quyết định về việc chia tách tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.

- Ngày 01/01/1997 tỉnh Bình Dương được tái lập. BCH lâm thời Đảng bộ tỉnh Bình Dương gồm 37 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Minh Triết giữ chức Bí thư tỉnh ủy.

- Tỉnh ủy lâm thời tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Bình Dương lần thứ VI từ ngày 17-19/12/1997, đồng chí Nguyễn Minh Đức được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.

- Đại hội đã đề ra những mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp ơhats triển kinh tế, văn hóa, xã hội, công tác quốc phòng an ninh, công tác xây dựng Đảng, đổi mới hoạt dộng của chính quyền, đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động của các mặt trận và các đoàn thể nhân dân.



* Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Bình Dương lần thứ VII

- Diễn ra từ ngày 2-5/1/2001 tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Nguyễn Minh Đức được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 7/2004 đồng chí Nguyễn Minh Đức nghỉ hưu, đồng chí Mai Thế Trung giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.



* Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Bình Dương lần thứ VIII

- Diễn ra từ ngày 20-23/12/2005 tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Mai Thế Trung tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.

- Đây là Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới vì sự phát triển bền vững.

* Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Bình Dương lần thứ IX:

- Diễn ra từ ngày 28-30/9/2010 tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Mai Thế Trung tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.

- Đây là Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước ngoạt đưa tỉnh nhà chuyển sang thời kỳ mới, phấn đấu cao độ đưa tỉnh Bình Dương phát triển nhanh và bền vững, thành đô thị công nghiệp và dịch vụ hiện đại, văn minh, giàu đẹp.

* Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Bình Dương lần thứ X:

- Diễn ra từ ngày 25-27/10/2015 tại TX Thủ Dầu Một. Đồng chí Trần Văn Nam được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.

- Mục tiêu, nhiệm vụ:

+ Nâng cao nhận thức đối với cấn bộ Đảng viên và nhân dân tỉnh nhà về tiềm năng, lợi thế cũng như những cơ hội thách thức của Bình Dương trong thời gian tới.

+ Tập trung thực hiện tái cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh, thu hút đàu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên phát triển công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

+ Làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, huy đọng nguồn lực phát triển hạ tầng kinh tế, giao thông.

+ Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ xã hội, chí trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân.

+ Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh.



Câu 6: Tỉnh Thủ Dầu Một (nay là Bình Dương) được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày, tháng, năm nào? Hãy cho biết, đến tháng 10-2015 tỉnh Bình Dương có bao nhiêu bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu Nhà nước “Mẹ Việt Nam anh hùng”, bao nhiêu Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động. Hãy kể tên các Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động?

- Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Dương được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 6/11/1978.

- Đến tháng 10/2015, tỉnh Bình Dương có 1672 bà mẹ được phong và truy tặng danh hiệu Nhà nước “Mẹ Việt Nam anh hùng”.

- Đến tháng 10/2015, tỉnh Bình Dương có 41 cá nhân được phong và truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



TT

Họ Tên

Sinh Năm

Quê Quán

Tuyên dương ngày, tháng, năm

1

Nguyễn Văn Bé

1941

Phú cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương

17/9/1967

2

Bùi Văn Bình

1955

Thạnh Phước, Tân Uyên, Bình Dương

29/8/1985

3

Huỳnh Thị Chấu

1928

Tân Mỹ, Tân Uyên, Bình Dương

6/11/1978

4

Nguyễn Văn Chê

1941

Phú An Bến Cát, Bình Dương

6/11/1978

5

Ngọc Văn Dòng

1940

Quốc Khánh, Tràng Định, Lạng Sơn

6/11/1978

6

Đặng Văn Đâu

1940

Phước Hòa Phú Giáo, Bình Dương

17/9/1967

7

Trần Nọc Dao

1954

Hà Phong, Hạ Long, Quảng Ninh

20/12/1979

8

Lê Kim Hà

1944

Phú Cường, Thị Xã Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương

20/12/1994

9

Nguyễn Văn Hỗn

1951

Khánh Bình, Tân Uyên, Bình Dương

6/11/1978

10

Võ Thị Huynh

1940

An Điền ,Bến Cát, Bình Dương

20/9/1971

11

Minh Lai

1973

Phú Cường, Thị Xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

6/11/1978

12

Hoàng Trọng Lập

1948

Thới Hòa, Bến Cát, Bình Dương

3/06/1976

13

Nguyễn Văn Lê

1942

Bình Mỹ, Tân Uyên, Bình Dương

17/9/1967

14

Đoàn Thị Liên

1944

Vĩnh Tân, Tân Uyên, Bình Dương

28/04/200

15

Võ Thành long

1943

Vĩnh Tân , TaanUyeen, Bình Dương

6/11/1978

16

Trần Văn Luân

1928

Lai uyên, Bến Cát, Bình Dương

28/4/2000

17

Hồ Văn Mên

1953

An Thuận, Thuận An, Bình Dương

24/06/2005

18

Nguyễn Đức nghĩa

1944

Hoằng phú, Hoằng Hóa, Thanh hóa

17/9/1967

19

Nguyễn Anh Nhiển

1952

An Điền, Bến Cát, Bình Dương`

28/4/2000

20

Đỗ Tấn Phong

1925

Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình Dương

26/11/1975`

21

Từ Văn Phước

1936

Tân phước Khánh, Tân Uyên, Bình Dương

17/9/1967

22

Ngô Chí Quốc`

1929

Thủ Đức, Thành Phố , Hồ Chí Minh`

7/5/1956

23

Nguyễn Văn Song

1923

Thới Hòa, Bến Cát, Bình Dương

19/5/1952

24

Lê Văn Tách

1940

An Bình, Dĩ An, Bình Dương

20/10/1976

25

Phạm Văn Tèo

1950

Phước Hòa, Phú Giáo, Bình Dương

6/11/1978

26

Đoàn Văn Thái

1948

Long Nguyên, Bến Cát, Bình Dương

20/12/1969

27

Nguyễn Văn Thẩm

1931

An Tây, Bến Cát, Bình Dương

7/7/1986

28

Nguyễn Văn Thành

1938

Thới Hòa , Bến Cát, Bình Dương

6/11/1978

29

Lê Tính

1942

Châu Thành, Tây Ninh

6/11/1973

30

Nguyễn Xuân Tình

1943

Cẩm xuyên, Hà TĨnh

10/2/1970

31

Lê Văn Tớn

1934

Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương

24/06/2005

32

Võ Tấn Trạng

1933

Mỹ Qúy, Đức Huệ, Long An

20/9/1971

33

Ngô Minh Trị

1936

Thanh Tuyền Dầu Tiếng, Bình Dương

5/5/1965

34

Phạm Văn Trọng

1944

An Tây, Bến Cát, Bình Dương

6/11/1978

35

Lê Thị Trung

1946

Bình Chuẩn, Thuận An, Bình Dương

6/11/1978

36

Đoàn Ái Việt

1942

Chánh Phú Hòa, Bến Cát, Bình Dương

6/11/1978

37

Huỳnh Văn Nghệ

1914

Thường Tân, Tân Uyên, Bình Dương

23/2/2010

38

Nguyễn Thji Tươi

1940

Tân Mỹ, Tân Uyên, Bình Dương

23/2/2010

39

Lê Văn Mầm

1941

Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình Dương

27/4/2012

40

Trương Văn Rài

1944

Thanh An, Dầu Tiếng, Bình Dương

27/4/2012

41

Nguyễn Văn Hóa




Bình Mỹ, Bắc Tân Uyên, Bình Dương

25/4/2015


  1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương