Kết quả nghiên cứU Ảnh hưỞng của thời vụ gieo cấY ĐẾn khả NĂng sản xuất hạt lúa lai f1 TỔ HỢp th3-3 VÀ th3-4 TẠi thanh hoá



tải về 1.17 Mb.
trang9/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.17 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

1.4. Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thanh Hóa

Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVI và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ trước đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh đã đạt được những thành tựu nhất định. Có thể nhận định khái quát những thành tựu như sau:

- Trong gần 10 năm vừa qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trên địa bàn Thanh Hóa có bước phát triển tương đối phù hợp với điều kiện của địa phương.Tỷ trọng GDP trong chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế chung của thời đại: Công nghiệp, dịch vụ tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày một lớn; nông nghiệp tỷ trọng giảm dần.

- Đã hình thành và phát triển các cụm công nghiệp mang tính động lực phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh như: Cụm Nghi Sơn, cụm Lam Sơn-Mục Sơn, cụm Thạch Thành-Bỉm Sơn-Hà Trung, các cụm Đông bắc, Tây bắc ga và khu công nghiệp Lễ Môn.

- Đã hình thành và phát triển tương đối rõ nét các vùng tập trung, chuyên canh sản xuất nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh.

- Đã định hướng được việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của địa phương trong sản xuất sản phẩm hàng hoá như sản xuất mía đường, xi măng, may mặc, thuỷ sản, đá xây dựng để tạo thế tăng trưởng kinh tế.

- Định hướng khuyến kích phát triển nhanh và đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Xem sự đóng góp của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước này sẽ thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập đảm bảo đời sống cho dân cư trong tỉnh

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn Thanh Hóa còn hạn chế, khuyết điểm. Dưới đây là những hạn chế chủ yếu:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thanh Hóa diễn ra còn chậm so với bình quân chung của cả nước và tiềm năng vốn có của tỉnh.

- Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp đã có những định hướng nhưng diễn ra quá chậm, ngay với cây trồng truyền thống như cây lúa đến nay vẫn chưa có vùng chuyên canh mà vẫn còn manh mún, phân tán và chưa xác định được những loại cây trồng cơ bản mang lại hiệu quả cao ở khu vực trung du, miền núi rộng lớn.Thanh hoá có tiềm năng lớn trong ngành thuỷ sản, nhưng vẫn khai thác chưa hiệu quả.

- Trong chuyển dịch cơ cấu của các ngành kinh tế, sự gắn bó giữa sản xuất với thị trường, thương mại, dịch vụ chưa chặt chẽ, nhất là thiếu sự gắn bó để tạo sự hỗ trợ phát triển giữa sản xuất sản phẩm hàng hoá nông nghiệp với công nghiệp chế biến.

- Đã hình thành các cụm công nghiệp và khu công nghiệp tập trung, song ngoài khu Nghi Sơn đã có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư, còn lại các khu công nghiệp và các cụm công nghiệp khác sức thu hút chưa cao.

- Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến qúa trình đô thị hoá chưa cao, chưa tạo được đà cho thực hiện nhanh và hiệu quả CNH, HĐH nhất là công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.

Nguyên nhân của những yếu kém trên đây có nhiều, song có thể điểm lại những nguyên nhân khách quan và chủ quan chính đã được xác định như sau:

Về khách quan:

- Điểm xuất phát của nền kinh tế Thanh Hoá thấp. Chủ yếu là sản xuất nhỏ, manh mún; nền kinh tế tự túc, tự cấp, bao cấp còn tác động nặng nề đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Thanh Hoá là tỉnh đất rộng, người đông; nhưng diện tích và dân số trung du, miền núi chiếm tỷ lệ khá lớn đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Do phương thức hỗ trợ mang tính bình quân theo đầu tỉnh của Trung ương nhiều năm, đã hạn chế rất nhiều đến sự đầu tư cho tỉnh Thanh Hoá so với các tỉnh khác.

Về chủ quan:

- Công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thanh Hoá chủ yếu đang dừng lại ở bước tổng thể, triển khai thực hiện chưa đồng bộ.Công tác tổ chức và quản lý nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn hạn chế.

- Ảnh hưởng của tư tưởng sản xuất nhỏ, của cơ chế bao cấp và kế hoạch hoá tập trung rất lớn đến tư duy đổi mới của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như các nhà kinh doanh trong quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Môi trường kinh doanh theo định hướng XHCN đã được hình thành, nhưng chưa thu hút được mọi người dân, mọi thành phần kinh tế vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chưa có nhiều biện pháp tích cực huy động nguồn vốn đầu tư phát triển nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và miền núi .

II. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở THANH HÓA TRONG NHỮNG NĂM TỚI

Năm 2010 và những năm tiếp theo phát triển kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thanh Hóa nói riêng có nhiều thuận lợi. Cùng với những thuận lợi chung của cả nước, Thanh Hóa có những thuận lợi riêng như: Tiềm năng tăng trưởng kinh tế còn rất lớn và có thể phát huy mạnh hơn trong những năm tới. Có sự quan tâm đầu tư thích đáng của Nhà nước. Các dự án lớn trên địa bàn đang được đẩy mạnh tiến độ; một số cơ sở công nghiệp lớn sẽ hoàn thành đi vào hoạt động sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi những khó khăn, thách thức cũng rất lớn: Kinh tế thế giới chưa thoát khỏi khủng hoảng đã tác động tiêu cực đến kinh tế Việt Nam, kinh tế Thanh Hóa. Tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn; nguy cơ lạm phát, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường. Mặc dù trong những năm vừa qua Thanh Hóa đã đạt được những thành tích trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhưng so với cả nước tốc độ chuyển dịch còn chậm, tiềm năng và nội lực chưa được khai thác triệt để.

Thống nhất với những quan điểm định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thanh Hóa mà nghị quyết Đại hội Đảng bội tỉnh lần thứ XVI đã đề ra; ý kiến đồng tình, ủng hộ của các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở nhu cầu thị trường và lợi thế của Thanh Hóa; vừa huy động mạnh mẽ nội lực, vừa tăng cường thu hút các nguồn ngoại lực để khai thác lợi thế. Đồng thời chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo tính hiệu quả, tính bền vững trong phát triển kinh tế-xã hội, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH; tác giả bài viết nêu mấy giải pháp sau đây:

2.1. Đối với ngành công nghiệp

Tiếp tục tập trung mọi nguồn lực để phát triển mạnh mẽ các cụm công nghiệp động lực của tỉnh như: Nghi Sơn, Lam sơn-Mục Sơn; Thạch thành-Bỉm Sơn và các khu công nghiệp quanh Thành phố Thanh Hoá: Lễ Môn, Tây bắc ga, Đông bắc ga; mà trước hết tập trung mọi nguồn lực để xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn

Khuyến khích đẩy mạnh xây dựng các khu công nghiệp mới để khai thác và chế biến quặng Cromite tại các huyện Triệu Sơn và Nông Cống;

Thúc đẩy phát tiển các khu công nghiệp nhỏ cấp huyện và liên huyện để tạo điều kiện thành lập mới doanh nghiệp nhỏ và vừa;

Đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ để phát triển rừng kinh tế, tạo điều kiện phát triển kinh tế ở các huyện miền núi; đồng thời khuyến khích thành lập các nhà máy chế biến thuỷ sản, chế biến thức ăn gia súc nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế các huyện đồng bằng ven biển.

2.2. Đối với ngành nông nghiệp

Chuyển mạnh, sau đổi điền dồn thửa, việc thành lập các trang trại chăn nuôi và trồng trọt quy mô vừa và lớn để sử dụng cơ giới hoá theo hướng tập trung sản phẩm hàng hoá; tiếp tục chuyển mạnh sang trồng mía thâm canh tưới nước để có năng suất cao; khẩn trương thành lập các vùng trồng lúa chuyên canh để sản xuất sản phẩm chất lượng tốt xuất khẩu và các vùng trồng đậu tương quy mô lớn để thay thế số lượng lớn đậu tương nhập khẩu;

Tiếp tục phát triển trồng rừng kinh tế; sớm hoàn chỉnh quy hoạch các vùng trồng cây công nghiệp trên phạm vi toàn tỉnh; khuyến khích và đẩy mạnh việc chăn nuôi đại gia súc ở tất cả các huyện miền núi của tỉnh;

Đẩy mạnh và khuyến khích việc đầu tư nuôi trồng, chế biến thuỷ sản và đánh bắt thuỷ sản ven bờ, xa bờ như các đề án của sở Thuỷ sản (trước đây) xây dựng: Đánh bắt giữa lộng và khơi; đầu tư đồng bộ để đánh bắt xa bờ.



2.3. Đối với ngành dịch vụ

Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển các khu du lịch trọng điểm như: Sầm sơn, Lam kinh, Thành Nhà Hồ, suối cá Cẩm Lương, Hải tiến, Hải Hoà, Hàm rồng, Bến En …; đầu tư xây dựng được các tour du lịch để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước;

Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng vận tải hành khách bằng xe buýt; chú trọng xây dựng hệ thống kho bãi, dịch vụ công nghiệp, phát triển vận tải biển; tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: Tài chính, Ngân hàng, bảo hiểm, Bưu chính, Viễn thông, khoa học-công nghệ.

Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu tiểu ngạch những mặt hàng truyền thống, những đặc sản của Thanh Hoá như: chiếu cói, mây tre đan, mắm tôm, rượi, nem chua…

Đối với ngành dịch vụ, ngoài những giải pháp trên, dưới sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ sở hạ tầng cần thiết mở rộng và thành lập thêm các trung tâm thương mại lớn tại khu kinh tế Nghi Sơn và khu trung tâm miền núi Ngọc Lặc làm đầu mối cho tập trung và phân phối hàng hoá thuận lợi, hiệu quả.

Ngoài những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm tới cho các ngành nêu trên, có một số giải pháp chung cho tất cả các ngành dưới đây:

Giải pháp hàng đầu để thúc đẩy phát triển kinh tế của Thanh Hoá là cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, tạo sức hấp dẫn các nhà doanh nghiệp, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển.

Thúc đẩy nhanh chóng việc xây dụng cơ sở hạ tầng trên địa bàn, đặc biệt xây dựng đường giao thông. Đối với tất cả các ngành kinh tế, tất cả các lĩnh vực, các vùng, miền trong tỉnh Thanh Hoá cơ sở hạ tầng có ý nghĩa quyết định để phát triển. Đặc biệt hạ tầng cơ sở khu công nghiệp trọng điểm Nghi Sơn. Giao thông Thanh Hoá yếu kém đã làm hạn chế đến phát triển kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng. Chính vì vậy cần khẩn trương hoàn thành nâng cấp các “mạch máu” giao thông trong tỉnh như các tuyến đường 10, 45, 47; khẩn trương xây dựng các tuyến đường nối đường QL 1A với đường Hồ Chí Minh để tạo điều kiện phát triển kinh tế các huyện miền núi và vận chuyển hàng hoá xuống cảng biển Nghi Sơn; đồng thời thúc đẩy xây dựng các tuyến đường liên huyện, liên vùng, kẻ cả với các tỉnh lân cận như Hoà Bình, Ninh Bình để khai thác tiềm năng lớn của Thanh Hoá.

Tăng cường phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là giải pháp rất quan trọng để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng, phát triển kinh tế của Thanh Hóa nói chung. Tạo môi trường tốt để phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, nhất là đội ngũ doanh nhân; đồng thời đa dạng hoá các hình thức để đào tạo được nguồn lao động kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ cần thiết của Thanh Hóa .

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Thanh Hoá, Báo Nhân dân, ngày 21/2/2007.

[2] Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2001- 2010, Thanh Hóa, tháng 7/2001

[3] Quy hoach phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 2001- 2010 và dự báo năm 2020, Thanh Hoá năm 2000.

[4] Niên giám thống kê năm 2008, NXB Thống kê, Hà nội năm 2009

[5] Cục Thống kê Thanh Hóa, Báo cáo thống kê năm 2009.
TRANSFERRING ECONOMIC STRUCTURE IN THANH HOA REALITIES AND SOLUTIONS

Nguyen Van Bao1

1 The Union of Science & Technology societies Thanh Hoa provice

ABSTRACT


Thanh Hoa is a provice with areas of mountain, plain and coastal line. For the past years, the provice has been conducting its policies in social – economic development in which the policy in transferring economic structure orientating capacities of industrial products and developing industry groups in Nghi son, Bim son etc… in order to bring into full play of advantages compared within the areas in goods productivity. The article avaluater achievements, shortcomings and weaknesss in the past 5 years and puts forward groups of solution aiming at stimulating economic transferring in Thanh Hoa in the next coming years

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHẾ ĐỘ KHEN THƯỞNG NHÀ QUẢN LÝ TỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ-TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

Vũ Thị Cẩm Chi 1

1Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Hồng Đức

TÓM TẮT


Bài viết phân tích, đánh giá chế độ khen thưởng đối với các giám đốc điều hành (executive remuneration schemes) được áp dụng tại các tập đoàn, công ty trên khắp thế giới. Kết quả phân tích cho thấy cơ chế khen thưởng đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu bùng nổ từ mùa thu năm 2008. Cụ thể, bài viết chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa chế độ khen thưởng và các gian lận tài chính (financial manipulation). Hơn nữa, cơ chế khen thưởng liên quan đến quyền mua chứng khoán giá rẻ (stock options) và hợp đồng với những điều khoản thuận lợi cho giám đốc khi từ chức (golden parachutes) có thể khiến nhà quản lý thực hiện các dự án có tính rủi ro quá cao.

Cơ chế khen thưởng đối với các giám đốc điều hành luôn là chủ đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của các học giả, các nhà quản lý và công chúng; đặc biệt là sau sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu (Montagnan, 2008). Soros (2008) cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra không phải do những cú sốc bên ngoài mà chính bởi những nguyên nhân thuộc hệ thống. Dựa trên nhận định này, mục đích nghiên cứu của bài viết là trả lời câu hỏi :" Chế độ khen thưởng các nhà quản lý có tác động thế nào đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu?". Để trả lời câu hỏi này, bài viết phân tích mối quan hệ nhân quả giữa chế độ khen thưởng và cơn bão kinh tế tài chính trên cơ sở áp dụng lý thuyết về hành vi của công ty (the behavioral theory of the firm), hành vi tài chính (behavioral finance) và các lý thuyết tài chính khác. Cụ thể, bài viết tập trung phân tích vào chế độ thưởng cuối năm (annual bonuses), các quyền chọn mua chứng khoán với giá rẻ (stock options) và hợp đồng với những điều khoản thuận lợi cho giám đốc khi từ chức (golden parachutes). Cuối cùng, với những kết quả tìm được, bài viết khẳng định tác dụng ngược của một cơ chế khen thưởng chưa hợp lý là một trong những ngòi châm dẫn tới sự bùng nổ của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Từ đó, bài viết đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác quản trị doanh nghiệp.

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỘ KHEN THƯỞNG CÁC NHÀ QUẢN LÝ

1.1. Nguồn gốc của chế độ khen thưởng nhà quản lý

Theo Jensen, Murphy và Wruck (2004), mục đích của chế độ khen thưởng là nhằm lôi cuốn và khích lệ các nhà quản lý. Nhiều học giả đã nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa cơ chế khen thưởng và vấn đề quản trị doanh nghiệp (Conyon, 1997). Về cơ bản, chế độ khen thưởng xuất phát từ vấn đề liên quan đến công ty (agency problem). Jensen & Meckling (1976) giải thích rằng vấn đề này nhằm khuyến khích người đại diện hay nhân viên (agent) làm việc để tối đa hoá lợi ích của chủ doanh nghiệp (principal). Fama (1980) cho rằng cơ chế khen thưởng là không cần thiết nếu nhà quản lý đồng thời là cổ đông hay chủ doanh nghiệp. Ngược lại, nếu hai chủ thể này là khác nhau, doanh nghiệp cần áp dụng chế độ khen thưởng nhằm đảm bảo sự thống nhất về lợi ích giữa các cổ đông và nhà quản lý (Fama, 1980; Conyon, 1997).



1.2. Các hình thức khen thưởng nhà quản lý

Theo Pope và Young (2006), chế độ khen thưởng đối với nhà quản lý được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau; thông thường bao gồm bốn thành phần chính: lương, thưởng cuối năm, quyền mua chứng khoán với giá rẻ (hay còn gọi là quyền mua chứng khoán khích lệ) và kế hoạch khích lệ dài hạn.



Lương:

Lương là khoản thu nhập cơ bản của nhà quản lý, được xác định căn cứ vào kết quả điều tra về mức lương chung của ngành (Pope &Young, 2006)



Thưởng cuối năm:

Thưởng cuối năm cho nhà quản lý được trả dựa trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm đó (Pope & Young, 2006). Theo Indjejikian & Nanda (2002), thưởng cuối năm có mục đích khích lệ nhà quản lý hoạt động hiệu quả hơn và đây được coi là một trong những thành phần chính của cơ chế khen thưởng.



Quyền mua chứng khoán với giá rẻ:

Là quyền được mua các chứng khoán của công ty theo một giá cả nhất định (bằng hay thấp hơn giá thị trường lúc ban cấp quyền chọn) trong một thời gian quy định trong năm (Nguyễn Dỵ & Nguyễn Bích, 1999).



Kế hoạch khích lệ dài hạn:

Đây là phần thưởng được ban cấp cho nhà quản lý dưới hình thức tiền mặt hoặc cổ phiếu (thông thường là dưới dạng cổ phiếu) căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Buck et al, 2003).

Ngoài bốn thành phần chính nêu trên, chế độ khen thưởng đối với nhà quản lý còn bao gồm một hình thức được nhiều công ty áp dụng là hợp đồng với những điều khoản thuận lợi cho giám đốc khi từ chức (golden parachutes). Theo Singh và Harianto (1989), thuật ngữ này dùng để chỉ những quy định trong một hợp đồng lao động đảm bảo chi trả những khoản tiền bồi thường lớn cho các nhà quản lý chủ chốt trong trường hợp doanh nghiệp bị thôn tính.

Các bộ phận của gói khen thưởng đều nhằm mục đích đảm bảo lợi ích của các cổ đông thống nhất với lợi ích của nhà quản lý. Theo Jensen, Murphy và Wruck (2004), chế độ khích lệ là nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến công ty; tuy nhiên, cơ chế này cũng đồng thời là nguồn gốc làm phát sinh các vấn đề đó. Bebchuck và Fried (2005) cho rằng, chế độ khen thưởng ưu đãi đối với nhà quản lý nhìn chung chưa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được mong đợi. Hơn nữa, Stern (2007) khẳng định rằng những khiếm khuyết của cơ chế khen thưởng hiện đại có thể gây ra những hậu quả không thể lường trước.

2. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHẾ ĐỘ KHEN THƯỞNG NHÀ QUẢN LÝ TỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

Nhiều học giả cho rằng một trong những nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu liên quan đến vấn đề quản trị doanh nghiệp, trong đó có chế độ khen thưởng hiện đại đối với nhà quản lý. Tác động của chế độ khen thưởng tới cuộc khủng hoảng được thể hiện qua những cơ chế sau đây:



Thứ nhất, chế độ khen thưởng nhà quản lý có quan hệ chặt chẽ tới những gian lận tài chính:

Để làm rõ nhận định này, bài nghiên cứu sử dụng "lý thuyết về hành vi của công ty" (the behavioral theory of the firm) và "hành vi tài chính" (behavioral finance). Theo Harris và Bromiley (2007), thuật ngữ "lý thuyết về hành vi của công ty" dùng để chỉ việc một tổ chức kinh tế tìm mọi cách để đạt được tham vọng của mình; và khi kết quả kinh doanh của họ không được như mong muốn, họ sẽ có những biện pháp (manipulation) làm cho kết quả hoạt động có vẻ tốt hơn thực tế. Theo quan điểm của Fromlet (2001), những biện pháp đó nếu có liên quan đến các vấn đề tài chính thì có thể sử dụng thuật ngữ "hành vi tài chính", thuật ngữ này thường ám chỉ các gian lận tài chính. Liên quan đến cơ chế khen thưởng, nhiều nghiên cứu cho thấy những gian lận tài chính của nhà quản lý nhằm tăng tiền thưởng cuối năm thường liên quan đến quá trình dự trù ngân sách. Mặt khác, để được ban tặng nhiều quyền chọn mua chứng khoán với giá rẻ, nhà quản lý thường có những gian lận tài chính liên quan đến doanh thu và các báo cáo tài chính.

Trước hết, xét về chế độ khích lệ dưới hình thức thưởng cuối năm. Trong thực tế, thưởng cuối năm thường không nhất thiết phải dựa vào kết quả hoạt động thực trong năm mà dựa vào kế hoạch kinh doanh hay kế hoạch ngân sách mà công ty lập cho năm đó (Murphy, 2001). Do vậy, để duy trì được mức thưởng cuối năm, nhà quản lý thường đặt ra mục tiêu lợi nhuận ở mức mà họ có thể dễ dàng đạt được. Jensen (2003) nhấn mạnh rằng điều này không chỉ xảy ra đối với các nhà quản lý cấp dưới mà cả ở các nhà quản lý chủ chốt. Những thao tác liên quan đến quá trình ngân sách càng trở nên nghiêm trọng khi các nhà quản lý cấp trên áp đặt các nhà quản lý cấp dưới phải đạt được mục tiêu lợi nhuận bằng mọi giá.

Hơn nữa, liên quan đến chế độ thưởng dưới hình thức quyền chọn mua chứng khoán giá rẻ, các nhà quản lý lại có cách gian lận tài chính khác. Việc nắm giữ các quyền chọn mua chứng khoán khích lệ có liên quan trực tiếp tới sự thịnh vượng của nhà quản lý và các cổ đông bởi vì trị giá của các quyền chọn mua tỷ lệ thuận với giá của chứng khoán. Do đó, các giám đốc điều hành sẽ càng có động cơ thực hiện các hành vi gian lận như báo cáo không trung thực về doanh thu dẫn đến các dòng tiền và những thay đổi về giá trị của công ty không được phản ánh trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Harris & Bromley, 2007). Họ có thể "tiết kiệm" lợi nhuận sang năm sau bằng cách trì hoãn doanh thu sang năm sau hoặc tính trước các chi phí kinh doanh của những năm sau vào năm hiện tại (Jensen, Murphy & Wruck, 2004). Rõ ràng, sự "nguỵ trang" này dẫn đến thông tin không cân xứng giữa các nhà quản lý, các cổ đông, các nhà đầu tư và công chúng, và nghiêm trọng hơn, điều đó có thể gây ra những hậu quả xấu cho doanh nghiệp.

Trở lại với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện tại, Blackman (2009) chỉ ra rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế đã cho thấy việc báo cáo lãi tại rất nhiều tập đoàn, công ty là giả tạo. Ví dụ như trong trường hợp của Lehman Brother, định chế tài chính Mỹ 158 tuổi - "người tiên phong" của cơn bão kinh tế, ông Fuld - Giám đốc điều hành (CEO) của ngân hàng đã nhận được 16 tỷ đô-la Mỹ tiền thưởng vì "thành tích" mà ông đã công bố là "bốn năm liên tiếp (2004-2007) mang lại kết quả tài chính rất ngoạn mục cho Lehman Brother" (Rep.Waxman, 2008). Sự phá sản của Lehman Brother vào tháng 9 năm 2008 khi bị thua lỗ lên tới 660 tỷ đô-la Mỹ đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn tới tình trạng khan hiếm về vốn tín dụng, và hậu quả là đẩy nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái.

Thứ hai, cơ chế khen thưởng liên quan đến quyền mua chứng khoán giá rẻ (stock options) và hợp đồng với những điều khoản thuận lợi cho giám đốc khi từ chức (golden parachutes) có thể khiến nhà quản lý thực hiện các dự án có tính rủi ro quá cao.

Quyền chọn mua chứng khoán với giá rẻ ban cấp cho nhà quản lý không chỉ kích thích nhà quản lý thực hiện các gian lận tài chính mà còn là động cơ để họ thực hiện những dự án đầu tư có tính rủi ro cao (Brealey et al, 2008; Defusco et al, 1990). Điều này là do giá trị của quyền chọn mua tăng khi giá chứng khoán tăng nếu giá thực hiện không thay đổi. Trong trường hợp này, người có quyền chọn mua chứng khoán, tức nhà quản lý, có thể được hưởng lợi từ chênh lệch giữa giá thực hiện và giá thị trường của chứng khoán. Ngoài ra, giá trị của một quyền chọn mua tăng tỷ lệ thuận với lãi suất và sự biến động của giá chứng khoán (Brealey et al, 2008). Do vậy, nhà quản lý sẽ có động cơ tham gia vào các dự án kinh doanh có tính mạo hiểm cao nhằm tăng giá chứng khoán (Sander, 2001).

Chủ đề gây tranh cãi nhiều hơn là chế độ thưởng dưới hình thức hợp đồng với những điều khoản thuận lợi cho giám đốc khi từ chức (golden parachutes). Mục đích ban đầu của chế độ khích lệ này là nhằm khuyến khích và giữ chân người lãnh đạo giỏi. Tuy nhiên, chế độ thưởng này bị chỉ trích là phần thưởng cho những thất bại thay vì những thành tích trong quản lý (Berrone, 2008). Ví dụ, Stan O'Neal - Giám đốc điều hành của Merrill Lynch đã bị thôi việc sau khi ngân hàng này bị báo lỗ và phải sát nhập với tập đoàn tài chính Bank of America để tránh nguy cơ phá sản . Bù lại, Stan O'Neal được nhận 161 triệu đô-la Mỹ tiền thưởng bao gồm cả cổ phiếu và quyền chọn mua cổ phiếu với giá rẻ (Ashton và Rushe, 2009).

Liên tưởng tới cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự sụp đổ của các định chế "quá lớn không thể thất bại" (too big to fail) như Lehman Brothers, Fiannie Mac & Fieddie Mac được cho là do các giám đốc điều hành đã quá mạo hiểm. Xu hướng này là do cơ chế khen thưởng bất hợp lý. Để theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn trước mắt, nhiều giám đốc điều hành (CEO) của các ngân hàng hàng đầu Hoa Kỳ và các tập đoàn kinh tế khác đã thực hiện đầu tư mạo hiểm như là cung cấp các khoản cho vay dưới chuẩn (sub-prime mortgage loans) hoặc những sản phẩm tài chính phái sinh phức tạp có tính rủi ro cao1 (Crotty et al, 2008; Pezzuto, 2008). Cũng theo Taleb (2009), chính chế độ khen thưởng nhà quản lý đã một phần gây nên sự phá sản của nhiều đại gia tài chính trên toàn cầu, hậu quả là đẩy nền kinh tế thế giới vào tình trạng tồi tệ hơn những gì loài người có thể tưởng tượng.

3. NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA CHO CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã phản ảnh tác dụng ngược của chế độ khen thưởng đối với nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu của bài viết cho thấy những khiếm khuyết trong cơ chế khen thưởng như thưởng cuối năm, quyền chọn mua chứng khoán với giá rẻ và hợp đồng với những điều khoản thuận lợi cho giám đốc khi từ chức đã kích thích các nhà quản lý cấp cao tìm mọi cách tối đa hoá lợi ích cho chính họ. Để đạt được điều này, họ có xu hướng thực hiện những gian lận tài chính như báo cáo không trung thực về thực trạng lỗ/lãi của doanh nghiệp và tiến hành những dự án kinh doanh có độ rủi ro cao.

Từ mối quan hệ nhân quả giữa chế độ thưởng nhà quản lý và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, bài viết đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác quản trị doanh nghiệp nói chung và công tác quản trị tài chính doanh nghiệp nói riêng như sau:

Một là, các doanh nghiệp nên lựa chọn hình thức khen thưởng hợp lý đối với nhà quản lý;

Hai là, các doanh nghiệp cần xác định mức khen thưởng phù hợp với hiệu quả quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp;

Ba là, các doanh nghiệp cần có cơ chế giám sát hợp lý nhằm phát huy hiệu quả và tính tích cực của chế độ khen thưởng;

Ngoài ra, để hạn chế những thiếu sót của cơ chế khen thưởng, các nhà chính sách nên cân nhắc nhiều hơn tới chất lượng hiệu quả kinh doanh và các nhân tố phi tài chính như sự phát triển bền vững hay sự hài lòng của khách hàng.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Aldrick, P. (2008) "Financial Crisis: Gordon Brown on the offensive over City bonus", Telegraph, 9th October.

Tham khảo tại: http://www.telegraph.co.uk/finance/financetopics/financialcrisis/3167591/Finan cial-Crisis-Gordon-Brown-on-the-offensive-over-City-bonuses.html (19/10/ 2009).

[2] Ashton, J and Rushe, D (2009) "No more money for nothing - The backlash against the bank's bonus culture has begun", Timesonline, 25th January.

Tham khảo tại: http://business.timesonline.co.uk/tol/business/industry_sectors/banking_and_fin ance/article5581070.ece (10/10/ 2009).

[3] Bebchuck, L. and Fried, J. (2005), "Pay without Performance: Overview of the issues", Harvard Law School, Business Discussion Paper series, Paper 528, Year 2005. Tham khảo tại: http://lsr.nellco.org/Harvard/olin/papers/528' (14/10/2009).

[4] Berrone, P. (2008), "Current global financial crisis: an incentive problem", Occasional Paper, OP-158, IESE Business School, October, 2008. Tham khảo tại: http://www.iese.edu/research/pdfs/OP-0158-E.pdf (10/10/2009).

[5] Blackman, C (2009) "International Economy - The global financial crisis and the collapse of the neo-liberal paradign", 30th March.

Tham khảo tại: http://www.stabroeknews.com/2009/guyana-review/03/30/international-economy-the-global-financial-crisis-and-the-collapse-of-the-neo-liberal-paradigm/ 18/10/2009).

[6] Brealy, R. and Myers, S and Allen, F. (2008), Principles of Corporate Finance, McGraw-Hill International Edition, Ninth edition, 2008, ISBN: 978-007- 126327-6.

[7] Buck et al (2003) "Long Term Incentive Plans, Executive pay and UK Company Performance", Journal of Management Studies, Vol. 40, Issue. 7, November 2003, pp. 1703-1723.

[8] Conyon, M. (1997) "Corporate Governance and executive compensation", International Journal of Industrial Organization, Vol.15, 1997, pp 443-509.

[9] Crotty et al (2008) "Proposals for effectively regulating the U.S Financial system to avoid yet another meltdown", Working Paper 2008-15, 7th October 2008.

[10] Defusco et al (1990) "The effect of executive stock option plans on stockholders and bondholders", The Journal of Finance, Vol. XLV, No. 2, June 1990, pp. 617-627.

[11] Fama, E. (1980) "Agency problem and The Theory of the firm", The Journal of Political Economy, Vol. 88, No.2, Apr.1980, pp. 288-307.

[12] Fromlet, H. (2001) "Behavioral Finance - Theory and Practical application", Business Economics, Vol. 36, Issue. 3, July 2001, pp. 63-69.

[13] Harris, J. and Bromiley, P. (2007) "The influence of Executive Compensation and Firm Performance on Financial Mispresentation", Organization Science, Vol. 18, Issue. 3, May-June 2007, pp. 350-367.

[14] Indjejikian, R. & Nanda, D. (2002) "Executive Target Bonuses and what they imply about performance standard", The Accounting Review, Vol. 77, No. 4, October 2002, pp.793-819.

[15] Jensen, M (2003) "Paying people to lie: the Truth about the Budgeting Process", European Financial Management, Vol. 9, No. 3, 2003, pp. 379-

[16] Jensen, M. & Meckling, W. (1976) Theory of the firm: Managerial Behavior, Agency cost and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, October, 1976, Vol. 3, No. 4, pp. 305-360.

[17] Jensen, M & Murphy, K & Wruck, E (2004) "Remuneration: Where we've been, how we got to here, what are the problems, and how to fix them"; Harvard Business School NOM Research Paper No. 04-28. Tham khảo tại: http://ssrn.com/abstract=561305 (17/10/2009).

[18] Montagon, P. (2008) "Let the market set the level of executive rewards", Financial Times, 11th November.

Tham khảo tại: http://us.ft.com/ftgateway/superpage.ft?news_id=fto111120081403021558; (11/10/2009).

[19] Murphy, K (2001) "Performance standards in incentive contracts", Journal of Accounting & Economics, Vol. 30, 2001, pp. 245-278.

[20] Pezzuto, I. (2008), "Miraculous Financial Engineering or Toxic Finance? The genesis of the US subprime mortgage loan crisis and its consequences on the global financial markets and real economy", SMC (Swiss Management Center) Working Paper, ISSN 1662-761X, Issue 12/2008.

[21] Pope, P. and Young, S. (2006) "Executive Remuneration: An investor's guide".Tham khảo tại: www.manifest.co.uk/reports/remuneration/pope_and_young_executiv e_compensation.html (13/10/ 2009).

[22] Sander, W. (2001) "Behavioral Responses of CEOs to stock ownership and stock option pay", Academy of Management Journal, Vol. 44, No. 3, 2001, pp. 477-492.

[23] Singh, H & Harianto, F. (1989) "Management-board relationships, takeover risk, and the adoption of golden parachutes", Academy of Management Journal, Vol. 32, No. 1, (1989), pp. 7-24.

[24] Soros, G. (2008) "The crisis and what to do about it", Real-world economic review, Issue No. 48, December 2008, pp. 312-318.

[25] Stern, S. (2007), "Hidden Ingredients of a better board performance". Tham khảo tại: http://www.ft.com/cms/s/1/871b3b38-49b8-11dc-9ffe- 0000779fd2ac.html (10/10/2009).

[26] Taleb, N. (2009) "How the bank bonuses let us all down". Financial Times, 25th Feb. Tham khảo tại: www.ft.com/cms/s/0/b9d5c3f2-02dc- 11de- b58b-000077b07658.html. (18/10/2009).

[27] Waxman, A. (2008), Opening statement of Rep. Henry A.Waxman Chairman, Committee on Oversight and Government Reform Causes and Effects of Lehman Brothers Bankruptcy, 6th October 2008. Tham khảo tại: www.oversight.house.gov (11/10/2009).

[28] Zingales, L (2008) "Causes and Effects of the Lehman Brothers Bankruptcies". Tham khảo tại: http://faculty.chicagobooth.edu/luigi.zingales/research/papers/zingales_long.pdf (12/10/2009).



1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương