Kết quả nghiên cứU Ảnh hưỞng của thời vụ gieo cấY ĐẾn khả NĂng sản xuất hạt lúa lai f1 TỔ HỢp th3-3 VÀ th3-4 TẠi thanh hoá



tải về 1.17 Mb.
trang8/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.17 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

1.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp:

Theo số liệu thống kê, từ năm 2000 đến 2008, tỷ trọng của lĩnh vực công nghiệp-xây dựng (CN-XD) Thanh Hóa tăng dần đều và đã đạt được những thành tựu không nhỏ và đã đóng góp tích cực chuyển đổi kinh tế của tỉnh ( năm 2000 tỷ trọng CN-XD mới chỉ chiếm 26,6%; năm 2005-34,39%; năm 2007-36,87% và năm 2008 mặc dù gặp khó khăn cũng đạt được 36,4%). Chúng ta nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp –xây dựng theo từng ngành để làm sáng tỏ:



a) Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo ngành

Chuyển dịch cơ cấu theo ngành qua các năm (xem biểu 2)



Biểu 2: GDP ngành công nghiệp ở Thanh Hoá ( Giá so sánh)

Ngành

2001

2005

2006

2007

2008

Tổng số (tỷ đồng)

Khai thác

Chế biến

Điện nước

Xây dựng
Tỷ trọng (%)

Khai thác

Chế biến

Điện nước

xây dựng


2551,0

80,3


1666,4

65,0


739,3
100,00

3,14


65,26

2,54


28,96

4538,4

154,4


3038,0

117,0


1229,0
100,00

3,40


66,93

2,57


27,00

4990,4

194,5


3262,7

159,9


1372,3
100,00

3,89


65,37

3,20


27,49

5837,6 210,2 3665,4 426,2 1699,4
100,00 3,74 62,79 3,03 30,44

6768,6

257,9


3993,5

439,7


2077,5
100,00

3,81


59,01

6,49


30,69



Nguồn: Niên giám thống kê 2008, cục Thống kê Thanh Hoá, NXB Thống kê 2009

Biểu số liệu thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong lĩnh vực công nghiệp cho chúng ta thấy:

- Công nghiệp khai thác có phát triển, tuy nhiên số lượng tuyệt đối không nhiều và tốc độ không lớn, tỷ trọng của ngành công nghiệp này không lớn so với toàn thể lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Tỷ trọng của công nghiệp khai thác trong giai đoạn từ 2001 đến 2008 bình quân chỉ chiếm 3,54%; xu hướng thay đổi tỷ trọng tương đối ổn định nhưng không lớn.

- Công nghiệp chế biến là ngành có thế mạnh ở Thanh Hóa. Tỷ trọng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng khá lớn trong toàn bộ lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, bình quân chiếm trên 65% và cao hơn dần về những năm sau. Tuy nhiên, tỷ trọng thay đổi cũng không ổn định. Các sản phẩm giảm dần tỷ trọng là sản phẩm phi kim loại và kim loại; sản phẩm tương đối ổn định là sản xuất thuốc lá. Sản xuất các sản phẩm tăng tỷ trọng như: thực phẩm đồ uống; quặng và đá; sản phẩm may mặc, sản phẩm dệt, xi măng và clanhke, gạch xây dựng.

- Công nghiệp sản xuất điện, nước cũng như phân phối điện, nước trên địa bàn toàn tỉnh tỷ trọng không lớn. Mặc dù Thanh Hóa là tỉnh lớn, nhưng công nghiệp điện, nước chưa phát triển, tỷ trọng của công nghiệp điện, nước bình quân các năm từ 2001 đến 2009 chỉ chiếm 2,83% so với toàn lĩnh vực công nghiệp và xây dựng; tuy nhiên, tỷ trọng này đang có xu hướng tăng lên.

- Xây dựng là ngành phát triển ở Thanh Hóa.Tỷ trọng ngành xây dựng bình quân trong các năm từ 2001-2009 chiếm khoảng dưới 1/3 giá trị toàn khu vực công nghiệp và xây dựng ( 28,97)%; xu hướng chuyển dịch trong xây dựng là tích cực, nhất là từ năm 2008 khi Thanh Hóa lấy năm 2009 là năm xây dựng.



b) Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế:

Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, trong thời kỳ từ sau 2001 đến 2008 cơ cấu các thành phần kinh tế đã có sự thay đổi lớn và theo hướng: công nghiệp nhà nước giảm dần tỷ trọng; tỷ trọng công nghiệp tư nhân ( cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân) tăng lên rất nhanh, nhất là sau khi Tỉnh uỷ Thanh Hoá ra nghị quyết số 10 về định hướng phát triển doanh nghiệp, và chiếm một tỷ trọng lớn ( trên 60%); tỷ trọng công nghiệp hợp tác xã tăng không ổn định và không lớn. Sau những năm 2000 ở Thanh Hóa xuất hiện và phát triển loại hình doanh nghiệp có vốn nước ngoài, nhất là sau năm 2005 đến nay, các doanh nghiệp này đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển công nghiệp ở Thanh Hóa ( tiêu biểu như:nhà máy đường Việt-Đài, xi măng Nghi Sơn, nhà máy may Sakurai ...); loại hình doanh nghiệp này đang có xu hướng phát triển mạnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.Tổng hợp cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế ở Thanh Hóa chúng ta có thể xem biêủ 3 dưới đây.


Biểu 3. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế

của Thanh Hóa ( tính theo giá hiện hành)

Đơn vị tính (%)

Thành phần kinh tế

2005

2006

2007

2008

Tổng số

100,00

100,00

100,00

100,00

1-Nhà nước

- Trung ương

- Địa phương

2-Ngoài nhà nước

-Tập thể

-Tư nhân


- Cá thể

3-Có vốn nước ngoài



31,2

28,5


2,7

48,5


1,0

26,1


21,4

20,3


33,5

31,1


2,4

48,5


0,9

25,1


22,5

18,0


32,1

30,5


1,6

51,3


1,1

26,1


24,1

16,6


27,5

26,2


1,3

57,6


1,0

29,0


27,6

14,9


Nguồn: Niên giám thống kê Thanh Hoá 2008, cục Thống kê Thanh Hóa, NXB Thống kê 2009

c) Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo vùng kinh tế

Nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp các vùng ( vùng ven biển và hải đảo, đồng bằng đô thị và trung du miền núi) trong tỉnh Thanh Hóa trong những năm từ 2001 đến 2009 ta thấy:

- Vùng ven biển và hải đảo: Vùng này gồm 6 đơn vị hành chính là thị xã Sầm Sơn, các huyện Nga Sơn, Hậu lộc, Hoằng Hoá, Quảng xương, Tỉnh Gia với diện tích tự nhiên 1186,1 km2 ; nếu năm 1999 trong vùng có tổng số 20 319 cơ sở sản xuất công nghiệp, sử dụng 42 123 lao động thì năm 2007 tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp tăng nhanh đạt số lượng 60.223 và sử dụng 100778 lao động, đặc biệt khu kinh tế Nghi Sơn đã chuyển mình rất mạnh. Những năm gần đây một số nhà máy lớn đã bắt đầu đi vào sản xuất như : nhà máy xi măng Nghi Sơn, nhà máy xi măng Công Thanh, nhà máy bia Nghi Sơn. Và đã khởi công xây dựng một số dự án công nghiệp lớn như: dự án xử lý nước thải Sầm Sơn, các dự án: San lấp mặt bằng Khu liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn, nhà máy xi măng Thanh Sơn, nhà máy luyện thép POMIDO, nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn, nhà máy may SAKURAI. Nhìn chung, ngoài khu kinh tế Nghi Sơn đang xây dựng, vùng này quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, chưa khai thác được tiềm năng thế mạnh của vùng ven biển rộng lớn.

- Vùng đồng bằng và đô thị: Vùng này gồm 10 đơn vị hành chính là thành phố Thanh Hóa, thị xã Bỉm Sơn và các huyện Hà Trung, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Nông Cống, Triệu Sơn và Thọ Xuân với tổng diện tích tự nhiên là 1794,2 km2. Năm 1999 có 16 607 cơ sở sản xuất công nghiệp, sử dụng 56 113 lao động ; số cơ sở sản xuất công nghiệp tăng rất nhanh, năm 2007 đạt số lượng 65386 cơ sở sản xuất công nghiệp và sử dụng 106951 lao động. Vùng này tập trung những doanh nghiệp lớn, các khu công nghiệp của tỉnh; đến nay hằng năm vẫn sản xuất ra giá trị sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng gần 70% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Các dự án lớn trong vùng tiếp tục được tập trung đẩy nhanh tiến độ, nhất là các dự án sử dụng vốn ODA như: Dự án năng lượng nông thôn II mở rộng; dự án nước Lam Sơn-Sao Vàng; dự án phát triển toàn diện Thành phố Thanh Hoá. Trong vùng xuất hiện khu công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản ( chromite) lớn ở các huyện Triệu Sơn, Nông Cống. Đây là vùng có thế mạnh của tỉnh Thanh Hoá và đang có những chuyển biến tích cực.

- Vùng trung du và miền núi: Vùng này có 11 đơn vị hành chính là các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh và Thường Xuân với diện tích tự nhiện 8 188 km2. Vùng có điều kiện thuận lợi nuôi trồng và khai thác nguyên liệu nông, lâm sản nhưng sản xuất công nghiệp chưa vươn tới nhiều. Năm 1999 toàn vùng có 5030 cơ sở sản xuất công nghiệp với 9829 lao động làm việc; năm 2007 có 22531 cơ sở sản xuất công nghiệp, với 31585 lao động. Những năm gần đây khi công trình Cửa Đạt, thuỷ điện Sông Mực khởi công xây dựng trong vùng đã có nhiều biến đổi. Mặc dù đã có sự phát triển rõ nét, song đây vẫn là vùng có công nghiệp chậm phát triển nhất Thanh Hoá, sản xuất công nghiệp còn nhiều khó khăn, có huyện đến nay mới chỉ có vài doanh nghiệp.

1.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành nông, lâm nghiệp & thuỷ sản

Trong những năm gần đây chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung trong nền kinh tế của tỉnh là đúng hướng, tỷ trọng trong ngành nông nghiệp nói chung giảm dần, tuy nhiên nông nghiệp vẫn là ngành có vai trò hết sức quan trọng. Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở Thanh Hóa đạt được những thành tựu đáng ghi nhận; nông nghiệp và nông thôn Thanh Hoá đã có bước phát triển đáng kể. Cơ sở vật chất về tưới tiêu, sản xuất giống cây, giống con được đầu tư ngày một tăng và đã phát huy tác dụng; nhiều chính sách mới đã khuyến khích phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp mang lại hiệu quả. Theo số liệu thống kê giá trị sản xuất nông nghiệp ( theo giá thực tế) của Thanh Hóa các năm 2000, 2005, 2008 là 4260 tỷ đồng, 7500 tỷ đồng và 14723,1 tỷ đồng; chỉ số phát triển năm sau cao hơn năm trước trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 và ứng với các năm 2000, 2005 và 2008 là 104,3%; 104,1% và 102,1%. Các ngành sản xuất trong nội bộ nông nghiệp Thanh Hóa: Trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ có cơ cấu ứng với các năm 2000, 2005 và 2007 như sau:

Năm 2000: 80,8%; 17,3% và 1,9%

Năm 2005: 71,0%; 27,0% và 2,0%

Năm 2008: 67,8%; 29,7% và 2,5%

Từ số liệu thống kê và thực tiễn cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành nông nghiệp Thanh Hóa phù hợp với xu thế chung và đặc điểm sản xuất từng vùng. Đã hình thành được vùng chuyên canh sản xuất tập trung như : vùng trồng cây lương thực: lúa, ngô, khoai lang; cây công nghiệp ngắn ngày: lạc, cói, mía, dứa, sắn; cây công nghiệp dài ngày: cà phê, cao su... tạo được điều kiện gia tăng sản xuất hàng hoá. Chăn nuôi phát triển, đàn gia súc, gia cầm ( ngoại trừ các năm có dịch bệnh) tăng cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, đi sâu vào từng ngành trong nông nghiệp Thanh Hóa thấy rằng, có sự khác biệt nhau về chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ từng ngành theo hướng khác nhau.

Ngành trồng trọt hiện vẫn là ngành chiếm tỷ trọng lớn về giá trị sản xuất, về cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư. Diện tích trồng cây lương thực giảm dần, nhưng nhờ tăng cường thâm canh và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà trước hết là tiến bộ về giống lúa lai và giống ngô cao sản, nên sản lượng cây lương thực ở Thanh Hóa đạt trên 1,5 triệu tấn đã nhiều năm qua. Diện tích trồng cây lương thực mang lại hiệu quả thấp đã được chuyển đổi trồng cây công nghiệp ngắn ngày mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong số cây công nghiệp hàng năm cây mía vẫn chiếm ưu thế và mang lại hiệu quả cao. Diện tích vùng trung du, miền núi đã đảm bảo được nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản xuất đường ở các cơ sở Lam Sơn, Thạch Thành, Nông cống.

Ngành chăn nuôi đã có những chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá với sự tham gia và thành công của các dự án cải tạo đàn bò, nạc hoá đàn lợn và du nhập giống gia cầm có năng suất cao vào sản xuất. Phát triển nhanh các trang trại chăn nuôi lớn ở nhiều huyện trong tỉnh. Sự tác động và lan toả của mô hình trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm ở các xã Quý Lộc huyện Yên Định và xã Quảng Thành thành phố Thanh Hóa giúp cho sự chuyển dịch cơ cấu trong chăn nuôi đúng hướng và đạt kết quả tốt. Chăn nuôi đại gia súc ở các huyện cũng có những tiến bộ, đàn bò tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi bò sữa đã bắt đầu được tổ chức thực hiện trên địa bàn các huyện có điều kiện tốt. Tuy nhiên, nhìn chung chuyển dịch cơ cấu của ngành chăn nuôi ở Thanh Hóa còn chậm, kết quả mang lại chưa tương xứng với tiềm năng.

Chuyển dịch cơ cấu trong ngành lâm nghiệp ở Thanh Hoá cũng đạt được những kết quả bước đầu. Chuyển dịch cơ cấu trong lâm nghiệp được thể hiện từ chuyển hướng lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội với nhiều thành phần tham gia bảo vệ, chăm sóc, xây dựng mới vốn rừng. Rừng và đất rừng giao ổn định, lâu dài cho nhân dân mà hộ gia đình là mô hình sản xuất chủ yếu đã có những tác dụng rất tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi Thanh Hóa. Đã chuyển từ khai thác là chủ yếu sang xây dựng vốn rừng trên cơ sở quy hoạch xây dựng các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng trồng nguyên liệu tập trung với quy mô lớn.

Tuy đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng chuyển dịch cơ cấu ngành lâm nghiệp ở Thanh Hóa còn nhiều tồn tại. Trước hết Thanh Hóa vẫn chưa xác định được cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện của từng vùng, tốc độ trồng rừng nhìn chung là chậm, tỷ lệ trồng cây thành rừng còn thấp, có vùng rừng sản xuất sau nhiều năm khởi động vẫn chưa định hình như vùng trồng nguyên liệu giấy Châu Lộc.

Ngành thuỷ sản trong những năm gần đây cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận: Sản lượng ngày một tăng, ngành có tốc độ phát triển cao. Sản lượng năm 2002 chỉ đạt 57723 tấn thì năm 2008 đạt 91699 tấn. Tốc độ phát triển năm sau luôn cao hơn năm trước và phát triển tương đối đồng đều, vững chắc: Nếu năm 2001 chỉ số phát triển là 106,9%; thì các năm 2004-107,2%; năm 2005- 107,4%; năm 2006-107,7%; năm 2008-109,3%. Song, nhìn tổng thể thì sự chuyển dịch của khai thác, đánh bắt, nuôi trồng và dịch vụ không được thể hiện rõ. Số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng nuôi trồng, tỷ trọng khai thác và dịch vụ trong cơ cấu giá trị sản xuất qua các năm gần đây thay đổi không đáng kể. Tỷ trọng khai thác trong cơ cấu các năm 2005 là 60,55%; năm 2006-59,63%; năm 2008- 59,68%. Tỷ trọng nuôi trồng tương ứng với các năm trên là 36,20%; 36,7% ; 37,70% và tỷ trọng dịch vụ trong ngành thuỷ sản các năm trên là 3,25%; 3,65% và 3,62%.

Theo số liệu thống kê ngành thuỷ sản có mức tăng trưởng khá, với mức tăng cao hơn ngành nông và lâm nghiệp. Tuy nhiên, trong chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản còn nhiều hạn chế: Ngành nuôi trồng vẫn chủ yếu nuôi quảng canh, năng suất thấp; chưa khai thác hết tiềm năng lớn về diện tích và năng suất; đáng lưu ý là nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn. Ngành khai thác, chủ yếu là khai thác ở biển, vẫn chưa tận dụng triệt để các nguồn lực đầu tư. Chương trình đánh bắt xa bờ với tầu lớn và phương tiện hiện đại không thắng lợi. Dịch vụ trong ngành chưa đáp ứng được yêu cầu của nuôi trồng và khai thác.

1.3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ

Trong những năm vừa qua, hoạt động dịch vụ ở Thanh Hóa đã có những bước tiến đáng kể cả về chất lượng, số lượng và đã góp phần quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH của tỉnh mà trước hết là trong phát triển kinh tế-xã hội.



Số liệu biểu 1 cho thấy: chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ trong tổng thể chuyển dịch các ngành kinh tế chung ở Thanh Hóa chậm và không ổn định: năm 2000 đạt 33,83%; năm 2005 đạt 33,12%; năm 2007 đạt 34,77% và năm 2008 chỉ đạt 34,0%. Tuy nhiên xem xét tất cả các ngành dịch vụ trong những năm gần đây thấy phần lớn các ngành dịch vụ đều tăng khá và tương đối đồng đều trên các lĩnh vực, đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu cho sản xuất và đời sống nhân dân ( xem biểu 4)

Biểu 4: Chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ Thanh Hóa 2005-2008

(theo giá so sánh 1994)





2005

2006

2007

2008

Tổng số ( tỷ đồng)

3669

4292,7

4825,6

5415,6

Thương nghiệp

770,0

1023,5

1162,1

1336,8

Khách sạn, nhà hàng

194,0

222,6

258,5

303,6

Vận tải, kho bãi và bưu điện

368,0

434,9

499,7

559,3

Tài chính và tín dụng

104,0

112,7

125,3

140,9

Hoạt động khoa học và C.nghệ

4,0

7,1

15,1

16,6

Kinh doanh tài sản và tư vấn

880,6

1047,6

1175,2

1281,5

Quản lý nhà nước và ANQP

561,0

612,4

705,2

768,2

Giáo dục và đào tạo

421,0

450,0

458,3

546,9

Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội

283,0

294,6

315,1

361,1

Hoạt độngVăn hóa và thể thao

14,0

15,0

16,7

18,9

Các hoạt động khác

69,4

72,3

82,7

81,8

Cơ cấu dịch vụ của tỉnh (%)

100,0

100,0

100,0

100,0

Thương nghiệp

21,0

23,8

24,07

24,7

Khách sạn nhà hàng

5,3

5,2

5,3

5,6

Vận tải, kho bãi và bưu điện

10,0

10,2

9,9

10,3

Tài chính và tín dụng

2,8

2,6

2,7

2,6

Hoạt động khoa học và công nghệ

0,11

0,12

0,13

0,3

Kinh doanh tài sản và tư vấn

24,0

24,4

23,4

23,7

Quản lý nhà nước và ANQP

15,3

14,3

14,6

14,2

Giáo dục và đào tạo

11,5

10,5

10,8

10,9

Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội

7,7

6,9

7,0

6,7

Hoạt động văn hoá và thể thao

0,4

0,3

0,4

0,4

Các hoạt động khác

1,9

1,6

1,7

1,5

Nguồn: Niên giám thống kê 2008, cục Thống kê Thanh Hóa, NXB Thống kê 2009

Số liệu trong biểu 3 cho thấy, chuyển dịch cơ cấu dịch vụ theo ngành có nhiều biến đổi; Tuy nhiên, nhìn chung chỉ có giá trị sản xuất của ngành thương mại, các hoạt động kinh doanh tài sản ( chủ yếu là đất đai) và tư vấn kinh doanh tài sản chiếm một tỷ trọng lớn; ngược lại các hoạt động khách sạn nhà hàng, tài chính và tín dụng chiếm một tỷ trọng hết sức khiêm tốn, đặc biệt giá trị hoạt động khoa học-công nghệ chiếm tỷ trọng không đáng kể.

Chuyển dịch cơ cấu dịch vụ theo thành phần kinh tế nói chung cũng có những thay đổi đáng chú ý: dịch vụ trong thành phần kinh tế Nhà nước giảm dần ( từ 28,1% năm 2001; 27,8% năm 2005 xuống còn 25,4% năm 2007); dịch vụ kinh tế ngoài nhà nước tăng nhanh ( từ 66,3% năm 2001, 68,1% năm 2005 lên 70,6% năm 2007); và dịch vụ kinh tế khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng không lớn năm 2001 chiếm 3,6%; năm 2005- 4,1% và năm 2007- 4,0%.

Công tác xuất khẩu của Thanh Hóa cũng đạt được những thành công đáng ghi nhận, trị giá hàng hóa xuất khẩu trên địa bàn tăng nhanh: năm 2000 mới đạt 36,95 triệu USD; năm 2001- 45,52 triệu USD, năm 2007 đạt 108, 82 triệu USD thì năm 2008 đạt được 226 USD. Những mô hình mới trong hoạt động xuất khẩu đã và đang được xây dựng, nhân rộng.

Nhìn tổng thể trong 8 năm vừa qua dịch vụ trong nền kinh tế của Thanh Hoá có tăng, nhưng không nhiều ( năm 2000 chiếm 33,83% năm 2008 cũng mới chỉ chiếm 34,0%). Cơ chế hoạt động đã thực hiện theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Chất lượng phục vụ đã được cải thiện; cơ cấu của các ngành dịch vụ đã thay đổi; đã có những dịch vụ mới, hiện đại; những mặt hàng chủ lực xuất khẩu của Thanh Hóa tăng khá và đã có những mô hình tốt trong hoạt động này. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động dịch vụ có những bước tiến mới tích cực, đặc biệt là các khu trung tâm thương mại, khu du lịch, đã có khách sạn lớn ... Tuy nhiên, các ngành dịch vụ ở Thanh Hóa mức độ phát triển còn thấp; hoạt động kinh doanh, thương mại cũng vẫn mới chỉ tập trung vào buôn bán hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trước mắt; chưa hình thành được nhiều trung tâm lớn để điều tiết thị trường; tốc độ tăng của du lịch vẫn rất chậm và khai thác tiềm năng du lịch chưa tốt. Các dịch vụ khoa học công nghệ, tài chính tín dụng nhìn chung còn rất yếu.

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên có nhiều, song tập trung ở những nguyên nhân chủ yếu dưới đây:

- Về khách quan: xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, tính tự cấp tự túc của nền kinh tế còn lớn ( đặc biệt ở 11 huyện miền núi); thu nhập thấp làm sức mua của dân cư chưa cao; cở sở hạ tầng kém phát triển đã hạn chế rất lớn đến phát triển ngành dịch vụ;

- Về chủ quan: Chưa có đầy đủ cơ chế, chính sách riêng thật sự chủ động, tích cực để khơi dậy các nguồn lực cho hoạt động dịch vụ; thiếu sự chủ động và khuyến khích để đầu tư đổi mới tổ chức kinh doanh dịch vụ; đầu tư cho thương mại, du lịch và dịch vụ nhất là những ngành nghề mới hết sức hạn chế.



1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương