Kết quả nghiên cứU Ảnh hưỞng của thời vụ gieo cấY ĐẾn khả NĂng sản xuất hạt lúa lai f1 TỔ HỢp th3-3 VÀ th3-4 TẠi thanh hoá



tải về 1.17 Mb.
trang7/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.17 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

H2: Minh hoạ về việc đăng nhập tài khoản để sử dụng chương trình

“Tell Me More” là một phần mềm học tiếng Anh gồm có 4 cấp độ Beginer, Intermediate, Advanced, và Business. “Tell Me More” giúp người học thực hành nói – giao tiếp (hội thoại) ngay trên máy tính với người bản xứ. Điều này rất thuận tiện cho người học do không phải e ngại vì khả năng nói của mình hay phải đi xa để được thực hành nói. Hơn nữa, chỉ khi nào người học phát âm và nói đúng thì chương trình mới chuyển sang câu hội thoại tiếp theo - tức là mới có thể tiếp tục cuộc hội thoại.





H3: Minh hoạ về các cuộc hội thoại đã được cài đặt trong chương trình

Đặc biệt, nếu người học có khả năng nói (phát âm) chưa chuẩn thì “Tell Me More” có một phần riêng giúp người học luyện phát âm theo đúng chuẩn của người bản xứ theo từng từ hoặc từng câu đúng ngữ điệu dưới sự giám sát của một biểu đồ phát âm và được chấm điểm ngay tức thì, người học có thể tự luyện với công cụ này cho tới khi đạt điểm cao nhất.





H4: Minh hoạ so sánh về sự phát âm của người bản ngữ và người học tiếng Anh

Ngoài ra, chương trình còn có đủ các phần học tập, thực hành khác như: ngữ pháp, viết, từ vựng, luyện nghe, tìm hiểu văn hoá nước Anh, trò chơi để giải trí. Người học chỉ việc nhấp chuột vào các biểu tượng là có thể chọn được cho mình chương trình cần học.





H5: Minh hoạ về những chương trình thực hành có thể áp dụng vào dạy kỹ năng nói

4. BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG PHẦN MỀM ‘TELL ME MORE’ VÀO PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NÓI CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH TIẾNG ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC



4.1. Thực trang dạy và học tiếng Anh tại trường Đại học Hồng Đức

4.1.1. Thông tin về sinh viên

Khả năng Tiếng Anh của sinh viên khi bắt đầu nhập học vào trường đại học Hồng Đức là khá tốt bởi vì, cũng như sinh viên từ các trường đại học lớn khác trong nước, các em phải dự kỳ thi tuyển sinh vào đại học bao gồm ba môn Tiếng Anh, Toán và Văn và phải đạt tổng trên 20 điểm. Hơn nữa, trong những năm gần đây, Trường Đại học Hồng Đức còn quy định sinh viên thi tuyển vào chuyên ngành Tiếng Anh phải đạt điểm Tiếng Anh tối thiểu là 5. Tuy nhiên, ở các trường phổ thông, học sinh chỉ tập trung vào việc làm các bài tập ở dạng viết. Các em không chú ý đến các kỹ năng. Khi học tại Trường Đại học Hồng Đức, sinh viên phải cùng lúc phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ cơ bản, vì vậy sinh viên gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là kỹ năng nói. Chính vì vậy, trong những giờ học kỹ năng nói đầu tiên, hầu như các em không thể nói Tiếng Anh lưu loát và không thể diễn đạt ý của mình bằng Tiếng Anh.



4.1.2. Đội ngũ cán bộ giảng dạy

Khoa Ngoại ngữ có 32 giảng viên, trong đó có 22 giảng viên Tiếng Anh. Trong số giảng viên Tiếng Anh có 10 giảng viên có trình độ thạc sỹ, 3 giảng viên đang tham gia nghiên cứu sinh và 3 giảng viên đang theo học các khóa học đào tạo thạc sỹ trong nước và ngoài nước. Từ khi thành lập, Trường Đại học Hồng Đức đã có mối quan hệ tốt với một số trường Đại học và các tổ chức giáo dục của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới như: Thái Lan, Singapore, Canada, Australia và Mỹ. Hầu như năm nào cũng có một số giáo viên khoa ngoại ngữ cũng được gửi tới những đất nước này để nâng cao trình độ Tiếng Anh và tham gia các khóa học phương pháp giảng dạy. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về khả năng giao tiếp cho sinh viên, giảng viên Khoa Ngoại ngữ đã tìm kiếm những tài liệu phù hợp và phương pháp giảng dạy hiệu quả, và đã quyết định sử dụng phương pháp giảng dạy theo đường hướng giao tiếp cho tất cả các bậc học. Mục tiêu của phương pháp này là thúc đẩy sinh viên sử dụng ngôn ngữ đích một cách thành thạo.



4.1.3. Giáo trình giảng dạy và phương pháp giảng dạy kỹ năng nói

Khoa Ngoại ngữ Trường đại học Hồng Đức đào tạo sinh viên sư phạm tiếng Anh hệ chính qui gồm: hệ đại học đào tạo trong 4 năm với 8 học kỳ, và hệ liên thông từ cao đẳng đào tạo trong 18 tháng với 4 học kỳ, .

Đối với hệ đại học chính quy đào tạo theo niên chế, trong năm học thứ nhất và thứ 2, sinh viên được học 3 tiết (mỗi tiết 45 phút) kỹ năng nói mỗi tuần. Trong năm thứ 3 và năm thứ 4, sinh viên học 2 tiết mỗi tuần. Đối với hệ liên thông, 4 kỹ năng tiếng Anh chỉ học ở kỳ 1, mỗi kỹ năng học 45 tiết.

Đối với sinh viên sư phạm tiếng Anh được đào tạo theo hệ thống tín chỉ, các kỹ năng được xếp vào 3 năm đầu, mỗi kỹ năng 3 tín chỉ (67,5 tiết), mỗi kỳ các em học 2 kỹ năng.

Tài liệu chính được sử dụng trong việc giảng dạy kỹ năng nói là Let’s Talk 1, 2 và 3 của Leo Jones, Interaction 2 của Judith Tanka & Linda R. Baker. được thiết kế thành đề cương chi tiết. Ngoài ra khi xây dựng đề cương chi tiết, giáo viên phải giới thiệu thêm nhiều nguồn tài tiệu khác nhau cho sinh viên tham khảo.

Các giáo viên được phân công dạy kỹ năng nói đều cố gắng tìm phương pháp phù hợp nhất để phát triển kỹ năng nói cho sinh viên đạt hiệu quả tốt nhất. Các phương tiện hay được sử dụng nhất là cassettes, tranh ảnh, báo, tạp chí…



4.1.4. Đối tượng tham gia vào đề tài

Đối tượng của đề tài là 285 sinh viên bao gồm 48 sinh viên năm thứ nhất, 32 sinh viên năm thứ hai và 41 sinh viên năm thứ ba, 84 học viên liên thông k2 và 80 học viên liên thông k3. Với 285 sinh viên, học viên có 17 sinh viên học viên nam chiếm 6% và 268 nữ sinh chiếm 94%. Tuổi đời trung bình của sinh viên học viên là 20-23 với lứa tuổi ít nhất là 18 và nhiều nhất là 32 và số năm học tiếng Anh trung bình là 6-7 năm với năm học ít nhất là 3 năm và năm học nhiều nhất là 12 năm.

Việc phát phiếu điều tra các đối tượng nói trên giúp nhóm nghiên cứu nắm được thực trạng của việc dạy và học kỹ năng nói của giáo viên và sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại trường Đại học Hồng Đức nhằm ứng dụng hiệu quả của việc ứng dụng các phần mềm vào việc phát triển kỹ năng nói.

Để kết quả dạy học thử nghiệm dễ đối chiếu, nhóm nghiên cứu đã chọn một lớp sinh viên năm thứ nhất (48 em) tham gia vào quá trình dạy học thử nghiệm phần phát âm và nâng cao độ trôi chảy bằng cách chia đôi lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm 24 em.



4.2. Lựa chọn cấp độ phù hợp với trình độ của sinh viên

Phần mềm ‘Tell Me More’ có 4 cấp độ: Beginer, Intermediate, Advanced, và Business. Để ứng dụng phần mềm ‘Tell Me More’ vào dạy kỹ năng nói một cách có hiệu quả, trước hết giáo viên phải xác định được trình độ của sinh viên để lựa chọn cấp độ cho phù hợp. Sau khi lựa chọn cấp độ phù hợp với đối tượng người học, giáo viên cần phải khai thác phần mềm và tìm ra những chương trình cần thiết cho việc dạy kỹ năng nói một cách hiệu quả vì mỗi cấp độ đều có những chương trình khác nhau dùng để dạy nhiều nội dung như: từ vựng, ngữ pháp, cách phát âm, hội thoại, trình bày theo chủ đề…

Đối với sinh viên năm thứ nhất, việc dạy phát âm được coi là rất cần thiết vì trong quá trình học ở phổ thông, các em ít được rèn luyện cách phát âm mà chỉ tập trung vào học ngữ pháp, cấu trúc câu và từ vựng. Vì vậy giáo viên nên chọn cấp độ Beginer và chương trình dạy phát âm thông qua hội thoại trực tiếp với người bản ngữ để dạy cách phát âm cho sinh viên. Ở cấp độ này, giáo viên cũng có thể khai thác thêm một số chương trình dạy từ vựng, cấu trúc nhằm nâng cao vốn từ tích cực cho sinh viên.

Đối với sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3, giáo viên nên chọn trình độ Intermediate và Advanced vì kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cũng như kiến thức ngôn ngữ của sinh viên đã đủ để trình bày ý kiến, quan điểm của mình về một vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày hoặc một sự kiện đang diễn ra trong nước cũng như trên thế giới. Chương trình ở 2 cấp độ này rất phong phú. Ngoài những chủ đề đa dạng với những bài trình bày mẫu một cách sống động, cả người dạy và người học đều có thể khai thác nhiều nội dung khác về văn hoá, đất nước, con người thông qua các hoạt động ngôn ngữ tinh tế.



4.3. Lựa chọn nội dung giảng dạy phù hợp cho từng cấp độ

Việc lựa chọn nội dung phù hợp với từng cấp độ cũng được coi là một khâu quan trọng góp phần vào việc năng cao khả năng nói tiếng Anh của sinh viên. Với thời lượng nhất định đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn nội dung sao cho không quá dễ cũng không quá khó đối với từng cấp độ.

Đối với sinh viên năm thứ nhất, cần lựa chọn những chương trình có những cách kết hợp, sử dụng từ vựng ở mức độ đơn giản thông qua các hoạt động lời nói như: cách nói về sức khoẻ, gia đình, công việc, sở thích, các môn thể thao, các hoạt động giải trí, cách miêu tả đồ vật, miêu tả hình dáng, tính cách của người…

Đối với sinh viên năm thứ 2 hoặc sinh viên năm thứ 3, nội dung lựa chọn cần phải có sự chọn lọc hơn. Ở cấp độ Intermediate hoặc Advanced, giáo viên có thể chọn những nội dung khá phức tạp liên quan đến các vấn đề nổi bật trong xã hội và có thể giúp cho sinh viên có khả năng phát triển tư duy độc lập, sáng tạo trong quá trình tranh luận như: sự ô nhiễm môi trường, so sánh giữa cuộc sống ở thành thị và nông thôn, sự bùng nổ dân số, sự đô thị hoá, thảm hoạ thiên nhiên và những thảm hoạ do con người gây ra…



4.4. Quy trình thực hành luyện kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên thông qua việc ứng dụng phần mềm “Tell Me More”

4.4.1. Quy trình thực hành luyện phát âm

Để chọn chương trình luyện phát âm, giáo viên chọn biểu tượng ‘dialogue’, trên màn hình sẽ xuất hiện nhân vật cùng tham gia hội thoại và các tình huống lựa chọn phù hợp với nội dung của đoạn hội thoại. (H3). Giáo viên yêu cầu sinh viên chú ý nghe nhân vật nói sau đó chọn một trong các sự lựa chọn đã có sẵn trên màn hình rồi đáp lại. Giáo viên nhấp chuột vào biểu tượng ‘speak’ cho sinh viên phát âm sau đó thu lại giọng nói của sinh viên. Lúc này trên màn hình xuất hiện một biểu đồ phát âm, giọng nói của sinh viên được đánh giá bằng cách chấm điểm ngay trên máy . Dựa vào biểu đồ phát âm đó, giáo viên có thể xác định được sinh viên của mình phát âm chính xác ở mức độ nào (H4). Nếu sau 2 hoặc 3 lần, sinh viên phát âm vẫn chưa đạt điểm cao nhất, giáo viên nhấp chuột vào biểu tượng ‘speak’, người bản ngữ sẽ phát âm mẫu, giáo viên yêu cầu sinh viên phát âm theo giọng của người bản ngữ. Cứ như vậy, giáo viên cho sinh viên luyện cho tới khi đạt điểm cao nhất. Sau khi luyện nói với người bản ngữ, giáo viên yêu cầu sinh viên làm việc theo cặp, nhóm để tự luyện hội thoại với nhau. Trong quá trình sinh viên tự luyện tập, giáo viên yêu cầu sinh viên nhớ nội dung của đoạn hội thoại và cố gắng trình bày nội dung đó bằng lời của mình để tình huống được diễn ra một cách tự nhiên.

Trong quá trình dạy thử nghiệm, chúng tôi thấy đây là một việc làm đòi hỏi sự kiên trì của giáo viên cũng như của sinh viên. Trong những giờ học kỹ năng nói, sinh viên được thực hành với người bản ngữ trong nhiều tình huống khác nhau, đồng thời việc ghi lại giọng nói của sinh viên đã giúp sinh viên rút ra được những nguyên tắc phát âm cơ bản để đạt được mức độ chuẩn xác nhất. Thông qua các tình huống có sẵn trong chương trình, sinh viên có thể tự tạo ra các tình huống tương tự để thực hành, nâng cao khả năng nói tiếng Anh của mình. Thực tế qua 10 tuần dạy thử nghiệm, cách phát âm của sinh viên đã được cải thiện rõ rệt. Sinh viên thấy hứng thú khi tham gia vào các hoạt động lời nói trong mỗi giờ học kỹ năng nói.

Kết quả kiểm tra sau khi dạy thử nghiệm cho thấy trong thang điểm100, trong đó điểm phát âm chiếm 20 điểm thì điểm phần phát âm của sinh viên được học kỹ năng nói có ứng dụng phần mềm “Tell Me More” cao hơn hẳn so với sinh viên học kỹ năng nói không ứng dụng phần mềm “Tell Me More”. Kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng 1:



Bảng 1: Kết quả điểm kiểm tra phát âm sau khi dạy thử nghiệm

Điểm phát âm

20/20

19/20

18/20

17/20

16/20

15/20

14/20

13/20

12/20

11/20

10/20

9/20

A

(24 SV)


1

3

2

3

6

4

3

2

0

0

0

0

B

(24 SV)


0

0

1

0

2

1

6

2

4

2

3

3

A: SV học kỹ năng nói có ứng dụng phần mềm “Tell Me More”

B: học kỹ năng nói không ứng dụng phần mềm “Tell Me More”

4.4.2. Quy trình thực hành luyện kỹ năng thuyết trình

Để chọn chương trình luyện kỹ năng thuyết trình một nội dung thuộc chủ đề trong chương trình học, giáo viên chọn biểu tượng ‘Topics’, trên màn hình sẽ xuất hiện một loạt chủ đề. Để nội dung bài học đúng với chương trình đã soạn sẵn, giáo viên phải chuẩn bị chọn trước một số nội dung thuộc chủ đề của bài học. Sinh viên có thể chọn bất cứ dung nào có liên quan đến chủ đề chính để trình bày. Trước khi trình bày, giáo viên tổ chức cho sinh viên thảo luận theo cặp, nhóm trong khoảng thời gian nhất định rồi đại diện của từmg nhóm trình bày trước lớp. Sau đó giáo viên cho sinh viên xem người bản ngữ trình bày mẫu. Trong quá trình quan sát người bản ngữ trình bày sinh viên có thể rút ra được những kinh nghiệm riêng cho mình và cố gắng học cách xử lý tình huống ngôn ngữ cũng như cách sử dụng từ vựng, phong thái thể hiện ý tưởng của mình một cách trôi chảy nhất.

Trong kỹ năng nói, độ trôi chảy được đánh giá cao chiếm 25 điểm trong tổng số100 điểm. Kết quả kiểm tra sau 10 tuần dạy thử nghiệm cho thấy những sinh viên học kỹ năng nói có ứng dụng phần mềm “Tell Me More” có số điểm về độ trôi chảy cao hơn so với sinh viên học kỹ năng nói không ứng dụng phần mềm “Tell Me More”. Kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng 2:

Bảng 2: Kết quả điểm kiểm tra độ trôi chảy sau khi dạy thử nghiệm


Điểm

25/25

24/25

23/25

22/25

21/25

20/25

19/25

18/25

17/25

16/25

15/25

A

(24 SV)


0

0

4

2

8

2

3

3

2

0

0

B

(24 SV)


0

0

0

1

3

3

5

6

3

2

1

A: SV học kỹ năng nói có ứng dụng phần mềm “Tell Me More”.

B: SV học kỹ năng nói không ứng dụng phần mềm “Tell Me More”

4.4.3. Quy trình thực hành luyện kỹ năng tự tổ chức các hoạt động nói tiếng Anh và kết quả thực tiễn

Bên cạnh việc dạy phát âm và dạy cách trình bày chủ đề, giáo viên có thể chọn chương trình ‘Culture’ (Văn hoá) để phát triển kỹ năng nói. Đây là chương trình nhằm giúp sinh viên tìm hiểu về văn hoá, đất nước, con người mà sinh viên đang học tiếng. Để giờ học có hiệu quả, giáo viên cần chọn nội dung phù hợp và tổ chức giờ học thành cuộc thi giữa các đội trong lớp. Sinh viên sẽ đóng tất cả các vai: thành viên ban tổ chức, người dẫn chương trình, thí sinh dự thi. Giáo viên là người điều khiển màn hình giúp sinh viên thực hiện cuộc thi. Thông qua hoạt động này, sinh viên không những rèn luyện được kỹ năng làm việc nhóm, óc tư duy lôgic, khả năng phán đoán mà còn rèn luyện được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chính xác trong từng tình huống. Những hoạt động như thế này sẽ tạo ra không khí học tập sôi nổi, hào hứng và thu hút được nhiều sinh viên cùng tham gia.

Việc nghiên cứu ứng dụng phần mềm ‘Tell Me More’vào dạy kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh trường Đại học Hồng Đức bước đầu đã thu được một số kết quả nhất định. Các giờ học có ứng dụng phần mềm đều sôi nổi và hiệu quả hơn thông qua việc cả thầy và trò đều tham gia tích cực vào các hoạt động lời nói. Sinh viên như được thực hành ngôn ngữ trong ngay môi trường bản ngữ, được đánh giá chính xác, được hướng dẫn một cách tỉ mỉ, cụ thể. Đây là động lực thúc đẩy các em có ý thức tự rèn luyên năng cao khả năng nói tiếng Anh. Sau thời gian học thử nghiêm, sinh viên đã cải thiện được cách phát âm và cảm thấy tự tin hơn khi giao tiếp, trình bày quan điểm của mình bằng tiếng Anh. Điều đó được chứng minh qua việc các em đã tự tin tham gia biên dịch, phiên dịch, làm tình nguyện viên cho giải Cầu Mây Châu Á lần thứ XII tổ chức tại Thanh Hoá tháng 10/2009 được ban tổ chức giải đánh giá cao. Các em đã tự tin tham gia trợ giảng tại các lớp tiếng Anh của Trung tâm Giáo dục Quốc tế , tham gia vào Câu Lạc Bộ nói tiếng Anh của trường do Trung tâm Giáo dục Quốc tế trường Đại Học Hồng Đức phối hợp cùng với tổ chức tiếng Anh Quốc Tế Fullbright tại Thanh hoá tổ chức.

5. KẾT LUẬN



Bài báo đã giới thiệu được tính năng và đưa ra một số biện pháp và quy trình ứng dụng phần mềm ‘Tell Me More’vào dạy kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh trường Đại học Hồng Đức. Thông qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi một lần nữa khẳng định rằng, việc ứng dụng phần mềm ‘Tell Me More’vào dạy kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh thực sự đã mang lại kết quả khả quan.

Ngoài những chương trình nhóm nghiên cứu đã khai thác và ứng dụng vào dạy kỹ năng nói, phần mềm ‘Tell Me More’ còn bao gồm nhiều chương trình hữu hiệu để có thể tiếp tục nghiên cứu, khai thác và ứng dụng vào dạy kỹ năng nghe hoặc viết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bailey, Kathleen M. (2005). Practical English Teaching: Speaking. New York.

[2] Downes T., Fatouros, C. (1995). Learning in an Electronic World, P.E.T.A, NSW

[3] Fatouros C.,Walters-Moore C. (1997). Using Software in English, Primary English Teaching Association, NSW.

[4] Ingvarson, D (ed) (1997). A Teacher's Guide to the Internet: the Australian Experience, Heinemann, Melbourne.

[5] McGregor, R.(1997) www.english: Student Projects for the Internet, English Club, VIC.

[6] Nguyễn Lân Trung (2002). “The classroom of Tomorrow”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Giáo dục ngoại ngữ – Hội nhập và phát triển, p61 – 65.

[7] Nunan, D. (1989). Designing tasks for the communicative classroom. Cambridge University Press.

[8] Warschauer M. & Carla Meskill (2000), “Technology and second language learning”,In J.Rosenthal (Ed), Handbook of undergraduate second language education (303 – 318), Mahwah, New Jersey: Lawrence Erlbaum, Available online

[9] www.teachercreated.com

[10] hcm@edusoft.com.vn



A RESEARCH ON THE APPLICATION OF ENGLISH SOFTWARE

TELL ME MORE’ IN TEACHING SPEAKING SKILLS TO ENGLISH MAJORS AT HONG DUC UNIVERSITY



Nguyen Thi Hong, Trinh Hong Nam1

1Department of Foreign language, Hong Duc University

ABSTRACT


The article is about the study on the application of English softwares to develop speaking skills for English majors at Hong Duc University. Through the survey of real situations on teaching and learning speaking skills of lecturers and students as well as through the application of softwares in teaching speaking skills, especially the study on features and the way to apply English software ‘Tell Me More’, we suggest some methods and processes in order to make a better use of this software for English teachers and English majors of Hong Duc University in teaching and learning English speaking skills.

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA, THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH

Nguyễn Văn Bảo1

1 Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật, tỉnh Thanh Hóa

TÓM TẮT


Thanh Hóa là một trong những tỉnh có đầy đủ các vùng miền: Miền núi, đồng bằng và ven biển. Những năm qua, Tỉnh ủy, UBND đã chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách phát triển Kinh tế - Xã hội trong đó có chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, giảm dần sản phẩm ngành nông nghiệp; hình thành và phát triển các cụm công nghiệp tại Nghi Sơn, Bỉm sơn… phát huy lợi thế so sánh của các vùng miền trong sản xuất sản phẩm hàng hóa. Bài báo đã đánh giá những thành tựu và những tồn tại, yếu kém trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hơn 5 năm qua từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch kinh tế ở Thanh Hóa trong những năm tới.

1. THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH THANH HÓA

Những năm đầu của thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nhanh kinh tế-xã hội và Thanh Hóa đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) không ngừng tăng, năm sau cao hơn năm trước; tăng trưởng kinh tế đạt trung bình hằng năm trong giai đoạn 2000-2008 đạt trên 10%. GDP (theo giá so sánh) các năm 2000, 2005, 2006, 2007 và 2008 là 7 708,3 tỷ đồng; 11 910,0 tỷ đồng; 13 125,5 tỷ đồng; 14 499,6 tỷ đồng và 16 142,7 tỷ đồng. GDP năm 2007 gấp hơn 2 lần so với năm 2000.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: tỷ trọng sản phẩm ngành nông nghiệp giảm dần, sản phẩm ngành công nghiệp, xây dựng và sản phẩm dịch vụ tăng dần. Đây là định hướng đúng. Nếu xem xét cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo các khu vực kinh tế chúng ta thấy rõ điều ấy trong biểu số 1 dưới đây:

Biểu 1: Cơ cấu tổng sản phẩm của Thanh Hóa (%)


Khu vực kinh tế

Các năm




2000

2005

2007

2008 2009

Nông, lâm, thuỷ sản

39,57

32,29

28,36

29,89 27,2

Công ngiệp, xây dựng

26,60

34,59

36,87

36,11 37,1

Dich vụ

33,83

33,12

34,77

34,00 35,7

Từ số liệu thống kê, chúng ta có thể nêu lên các nhận xét sau đây:

Tỷ trọng sản phẩm trong khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm đáng kể; tỷ trọng sản phẩm trong khu vực công nghiệp, xây dựng tăng dần nhưng chậm; tỷ trọng sản phẩm khu vực dịch vụ trong giai đoạn 1995 - 2009 chỉ tăng những năm gần đây còn hàng chục năm từ 1995 đến 2005 không tăng mà giảm. Hiện tượng trên cần được xem xét kỹ lưỡng để có thể nêu các giải pháp chính xác cho phát triển kinh tế đúng hướng. Bởi vậy cần phải nghiên cứu, đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng lĩnh vực nêu trên.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương