Kết quả nghiên cứU Ảnh hưỞng của thời vụ gieo cấY ĐẾn khả NĂng sản xuất hạt lúa lai f1 TỔ HỢp th3-3 VÀ th3-4 TẠi thanh hoá



tải về 1.17 Mb.
trang12/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.17 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

a. Cô giáo coi như không phát hiện ra việc nhóm 2 lén ghép thêm vào tranh và vẫn tuyên bố cho cả 2 nhóm đều thắng.

b. Cô giáo hỏi cả lớp: "Bức tranh của nhóm 2 cũng đã ghép xong nhưng có gì không đúng luật chơi?" Cô cho các cháu tự phát hiện, sau đó cô xử lý theo đúng luật chơi).

c. Cô giáo tuyên bố: nhóm 1 thắng nhóm 2 thua và phê bình nhóm 2 ghép thêm tranh khi đã hết thời gian.

* Khi dạy trẻ mẫu giáo (5- 6 tuổi) về các con vật nuôi thuộc nhóm gia cầm, giáo viên giải thích: "Các con vật thuộc nhóm gia cầm là những con vật có hai chân và đẻ trứng". Sau đó cho các cháu kể tên các con vật. Bất ngờ cháu Hùng nói: "Con thưa cô, mẹ con thuộc nhóm gia cầm vì mẹ con có hai chân ạ".

Trước tình huống đó, cô giáo xử lý theo cách nào sau đây và giải thích vì sao?



a. Cô giáo giải thích để cháu Hùng và cả lớp hiểu: Mẹ không thuộc nhóm gia cầm.

b. Phạt Hùng, không cho nói nữa.

c. Cô giáo cười và bỏ qua.

* Cháu Hà (3 tuổi) đang đi bộ dạo chơi cùng cô, không may bị ngã và cháu đã khóc. Trước tình huống đó, bạn chọn theo cách nào sau đây và giải thích vì sao?

a. Cô vội vàng đỡ cháu dậy và vỗ về an ủi.

b. Cô dỗ trẻ bằng cách đánh vào đám đất, vừa đánh vừa nói” chừa này, chừa này” “đám đất làm Hà ngã này”để trẻ nín.

c. Cô bình thản nói: Ngã một tí, cũng chỉ nhẹ nhàng thôi, không sao, đứng lên đi nào. Sau đó giải thích vì sao cháu bị ngã giúp cháu nhận ra nguyên nhân.

+ Mức độ 2:

* Trong giờ kể câu chuyện:"Gấu qua cầu" lớp mẫu giáo (5- 6 tuổi), cô giáo đưa bức tranh có 2 con gấu (một con mầu trắng và một con mầu đen) và chiếc cầu. Cô giáo hỏi: "Các con thấy các chú gấu này thế nào?". Cháu Lâm trả lời:"Con thưa cô: Gấu giống cô ạ"(Cô mặc áo mầu trắng). Trong trường hợp này, bạn xử lý như thế nào? Nêu cơ sở khoa học của cách xử lý đó?

* Khi ăn cơm, cháu Nam (4 tuổi) cầm thìa bằng tay trái. Cô yêu cầu cháu cầm sang tay phải, cháu Nam nói: "Mẹ cháu bảo cầm tay trái cũng được". Trước tình huống đó, cô giáo xử lý như thế nào? Tại sao?

* Trong giờ chơi, Bé Nhung (3- 4 tuổi) đang say sưa cầm bàn là lật búp bê phía trước, phía sau để là quần áo cho búp bê (là vào bộ quần áo mà búp bê đang mặc). Bạn sẽ xử lý tình huống này như thế nào và giải thích vì sao?

* Khi cô giáo cho cả lớp ra ngoài trời để quan sát cây, cô ngắt một chiếc lá để cho trẻ xem cấu tạo của lá. Bỗng nhiên trẻ nói: ''Cô dạy con không được ngắt lá mà hôm nay sao cô lại ngắt?”. Trước tình huống đó bạn xử lý như thế nào và giải thích tại sao?

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



3.1. Kết luận

- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non, chúng ta xây dựng được hệ thống tình huống sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên sư phạm mầm non trong quá trình đào tạo.

- Hệ thống tình huống sư phạm được xây dựng đã đảm bảo được các nguyên tắc đề ra.

- Hệ thống tình huống sư phạm đóng góp tích cực vào việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử nói riêng và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói chung, giúp sinh viên nhanh chóng hình thành các năng lực sư phạm cần thiết, tạo cơ sở thuận lợi cho quá trình thực hành, thực tập sư phạm và công tác chăm sóc giáo dục trẻ sau này.

3.2. Kiến nghị

- Khoa Sư phạm Mầm non sử dụng hệ thống tình huống sư phạm đã xây dựng trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên.

- Làm tài liệu nghiên cứu cho giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy và học thuộc các môn cơ sở và chuyên ngành mầm non.

- Làm tài liệu cho giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non và phụ huynh tham khảo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh. Giao tiếp sư phạm. NXB Giáo dục, 2001.

[2] Ngô Công Hoàn. Giao tiếp và ứng xử sư phạm. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 1997.

[3] PGS. Trịnh Trúc Lâm - PGS Nguyễn Văn Hộ. Ứng xử sư phạm. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2005.

[4] Vũ Mạnh Quỳnh. Ứng xử sư phạm những điều cần biết. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2006.

[5] Nguyễn Ánh Tuyết. Bài tập thực hành tâm lý học và giáo dục học, NXB ĐHSP,1992.



BUIDING PEDAGOGICAL CIRCUMSTANCES SYSTEMS TO PRACTICE SKILLS OF COMMUNICATION, AND BEHAVIOR FOR PRE-SCHOOL STUDENTS

Nguyễn Thị Hoa1

1Division of Psychology Education, Hong Duc University

ABSTRACT


The pedagogical communication skill is one of the most important professional qualities for any teacher’s activities. In fact, when practiced, students practice communicating and behaving with people in general and with children are in particular still limited. The paper researches further on building the pedagogical circumstance systems; practicing communication and behavior skills for students, which contribute to improving the quality of training and meeting the requirements of professional standards of pre-school teachers nowadays .

CÁC DẠNG TÌNH HUỐNG DẠY HỌC VÀ HÌNH THỨC

BIỂU ĐẠT TÌNH HUỐNG DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN

GIÁO DỤC HỌC THEO HƯỚNG TIẾP CẬN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Nguyễn Thị Hà Lan1

1Bộ môn Tâm lý Giáo dục, trường Đại học Hồng Đức

TÓM TẮT


Dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ) là một cách tiếp cận mới trong lý luận dạy học hiện nay nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo, độc lập cũng như hình thành thái độ, phẩm chất tích cực, chủ động của người học. Tuy nhiên, để dạy học theo tiếp cận GQVĐ thành công thì một trong những khâu quan trọng mà yêu cầu người dạy phải thực hiện đó là phải thiết kế, chuyển hoá nội dung dạy học thành các vấn đề học tập, tình huống dạy học (THDH) và sử dụng các kỹ thuật, hình thức biểu đạt, mô phỏng vấn đề, THDH hoặc câu hỏi nêu vấn đề để tạo tình huống có vấn đề và nhu cầu nhận thức ở người học. Môn GDH là môn học có những đặc thù so với các môn khoa học khác. Vì vậy, xây dựng và sử dụng các THDH là một công việc đòi hỏi người GV không những nắm vững chuyên môn của GDH mà bên cạnh đó cần có những kiến thức nhất định về các môn khoa học và những kiến thức về giao tiếp, ứng xử trong giáo dục, trong cuộc sống để xây dựng các vấn đề phong phú, giúp cho SV lĩnh hội nội dung học tập một cách vững chắc và sáng tạo đồng thời rèn luyện kỹ năng GQVĐ cho SV; gắn lý luận và thực hành nghề nghiệp.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ) là một tiếp cận dạy học theo xu thế phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Để dạy học GQVĐ có hiệu quả thì nhân tố có ý nghĩa và vai trò quan trọng là tình huống dạy học (THDH). Trong dạy học GQVĐ, thay vì truyền đạt nội dung học tập dưới dạng tường minh, giáo viên (GV) tổ chức nội dung đó thành các vấn đề học tập (dưới hình thức câu hỏi, nhiệm vụ và THDH) và hướng dẫn, khuyến khích người học suy nghĩ, tìm tòi, oikhám phá, đặt ra và nhận thức được vấn đề, giải quyết vấn đề để đạt hiệu quả học tập cao. Sử dụng các THDH trong dạy học môn GDH sẽ tăng tính hấp dẫn của môn học, gắn lý luận và thực tiễn, giúp sinh viên (SV) hiểu và nhớ bài lâu và đặc biệt phát triển được năng lực hoạt động trí tuệ (cả tư duy và kĩ năng GQVĐ).

2. NỘI DUNG



2.1. Vài nét về dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học GQVĐ hay còn có các tên gọi khác như dạy học dựa trên vấn đề, dạy học định hướng vấn đề… đã được các nhà nghiên cứu giáo dục ở nhiều nước quan tâm. Dạy học nêu và GQVĐ bắt đầu được quan tâm nghiên cứu sâu sắc từ cuối thế kỷ 19 ở các nước châu Âu và được nghiên cứu, áp dụng rộng rãi vào những năm 70 của thế kỷ 20 mà những thành tựu và ứng dụng của nó luôn gắn với tên tuổi của các nhà giáo dục Ba Lan và Liên Xô (cũ) như V.Okôn (10 ), I.Ia Lecne (8 ), N.G Kazansky, T.S Nazarova (7). Nếu như dạy học nêu và GQVĐ được các nhà giáo dục Ba Lan, Liên Xô (cũ) nghiên cứu và vận dụng trong dạy học các môn khoa học tự nhiên, xã hội ở các trường phổ thông thì gần đây, đã có nhiều nhà giáo dục ở các nước như Mỹ, Canada, Hà Lan, Ôxtrâylia, New Zealand đi sâu nghiên cứu và ứng dụng trong giảng dạy, đào tạo đại học, đặc biệt là đào tạo y khoa của trường McMaster, Canada. Tiêu biểu là một số nhà nghiên cứu giáo dục như: Hmelo Silver (16), Claire Major (17 ) Barbara Duch, Susan Gron (12 ) Howard Barrows (11) Donal R. Wood (15), David Boud, Grahame Feletti (13), Diana Dolmans (14), Wim Gijseliaers (18). Ở Việt nam cũng có nhiều nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề, dạy học giải quyết vấn đề như: Nguyễn Ngọc Quang (10 ), Nguyễn Ngọc Bảo (1), Trần Văn Hà, Vũ Văn Tảo (9 ) đã nghiên cứu dạy học nêu và GQVĐ, dạy học dựa trên vấn đề dưới các góc độ khác nhau như mục tiêu, tác dụng của dạy học nêu và GQVĐ; những thách thức, khó khăn của dạy học nêu và GQVĐ; vai trò của giảng viên, người cố vấn trong dạy học nêu và GQVĐ; các chiến lược dạy học của giảng viên, chiến lược GQVĐ của sinh viên, đặc trưng của dạy học GQVĐ; tình huống dạy học trong dạy học nêu và GQVĐ… Có thể thấy rằng, các nhà giáo dục trong và ngoài nước đã rất quan tâm, nghiên cứu lý luận cũng như ứng dụng của dạy học GQVĐ trong dạy học nói chung, trong dạy học các môn khoa học cơ bản trong các trường phổ thông, trong đào tạo SV các trường đại học và xem đây là một trong những tiếp cận mới trong lý luận dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy tính tích cực nhận thức, khả năng tư duy và GQVĐ cho người học. Trong dạy học GQVĐ, nhân tố trung tâm chính là vấn đề học tập, tình huống dạy học - yếu tố tạo nên môi trường học tập và kích thích tính tích cực nhận thức của người học để nhận thức và mong muốn GQVĐ; GV không trực tiếp tổ chức cho HS chiếm lĩnh nội dung học tập mà thông qua việc xây dựng vấn đề học tập, THDH để tổ chức cho người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ, tình cảm. Vì vậy, việc xây dựng các dạng THDH, hình thức biểu đạt THDH là một công việc quan trọng đóng góp cho sự thành công trong dạy học GQVĐ.



2.2. Xây dựng các dạng Tình huống dạy học và hình thức biểu đạt tình huống dạy học trong dạy học môn giáo dục học theo tiếp cận giải quyết vấn đề

2.2.1 Môn GDH trong trường sư phạm

Trong các trường sư phạm - nơi đào tạo giáo viên tương lai, môn GDH là môn khoa học nghiệp vụ sư phạm, nhằm trang bị cho SV hệ thống những kiến thức cơ bản, hiện đại cùng những kỹ năng trong hoạt động giáo dục; hình thành thái độ, tình cảm nghề nghiệp và định hướng rèn luyện phẩm chất, nhân cách của người GV, nhà giáo phù hợp với yêu cầu của xã hội. Nếu như các môn khoa học cơ bản, chuyên ngành trang bị cho SV sư phạm hệ thống tri thức khoa học cần thiết để truyền đạt cho HS, tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức cho HS thì những kiến thức của môn GDH lại cung cấp cho SV sư phạm những kỹ năng, nghệ thuật để chuyển tải tri thức đến người học, để tổ chức quá trình nhận thức của người học và tiến hành các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, nội dung môn học GDH có những đặc thù riêng so với các môn khoa học cơ bản khác như yêu cầu SV biết vận dụng các kiến thức lý luận để GQVĐ trong thực tiễn giáo dục, bài tập và thực hành còn ít, tính cập nhật giữa nội dung môn học với thực tiễn giáo dục cao. Bên cạnh đó, đối tượng học môn GDH vô cùng phong phú, đa dạng từ nhiều khoa và chuyên ngành đào tạo khác nhau. Vì vậy, để dạy học môn GDH nói chung và dạy học môn GDH theo tiếp cận GQVĐ thành công, ngoài trình độ chuyên môn về GDH, người GV cần phải có những kiến thức và am hiểu nhất định về các môn khoa học cơ bản (kiến thức phổ thông nền tảng) để có thể vận dụng các kiến thức đó xây dựng các vấn đề, THDH phù hợp với đặc điểm của SV thuộc chuyên ngành đào tạo khác nhau. Vì vậy xây dựng THDH và sử dụng các hình thức mô phỏng, biểu đạt THDH để vận dụng trong dạy học môn GDH theo tiếp cận GQVĐ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn GDH trong trường sư phạm.

2.2.2. Xây dựng các dạng Tình huống dạy học và hình thức biểu đạt tình huống dạy học trong dạy học môn giáo dục học

2.2.2.1. Các dạng THDH môn GDH

Dựa trên những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về dạy học GQVĐ, về các dạng vấn đề, đặc điểm của một vấn đề tốt và dựa trên đặc thù môn GDH và đặc thù của đào tạo trong trường sư phạm, chúng tôi thấy rằng có thể chia THDH môn GDH thành các dạng cơ bản sau:



- Dạng 1: THDH phản ánh, chứa đựng trực tiếp nội dung lý luận môn GDH. Đây là loại tình huống mà bản thân hình thức của tình huống đó chứa đựng nội dung, kiến thức của môn GDH, thông qua việc cung cấp THDH dạng này, SV sẽ giải quyết và nắm vững nội dung môn học. THDH dạng này khi thiết kế và xây dựng sẽ vận dụng được cho nhiều khoa khác nhau, các chuyên ngành đào tạo khác nhau.

Ví dụ: Khi nói đến giáo dục là một hiện tượng chỉ có ở con người, có sinh viên đã băn khoăn và chỉ ra rằng, động vật cũng thực hiện quá trình giáo dục, ví như: mèo mẹ dạy mèo con bắt chuột, vịt mẹ dạy vịt con biết bơi, gà mẹ dạy gà con kiếm mồi…



Anh (chị) hãy cho biết quan điểm của mình về các hiện tượng trên và lý giải để em sinh viên đó hiểu đúng về bản chất của giáo dục.

- Dạng 2: THDH phản ánh, chứa đựng nội dung các môn khoa học cơ bản như KHTN (Toán, Lý, Sinh.) và KHXH (Văn, Sử, ..). Môn GDH được giảng dạy trong trường sư phạm với các khoa đào tạo khác nhau nên ngoài những tình huống sử dụng chung cho các khoa (TH dạng 1), GV cần nghiên cứu, xây dựng các THDH mà hình dục thức của nó chứa đựng kiến thức các khoa học cơ bản khác nhau để nâng cao tính tích cực, hứng thú cho SV; gần gũi với SV, kích thích SV GQVĐ để từ đó lĩnh hội nội dung môn GDH tốt hơn. Dạng tình huống dạy học này sẽ có tác dụng mạnh mẽ khi áp dụng cho từng khoa đào tạo .

Ví dụ 1: Trong giờ toán lớp 5, khi dạy cho HS cách tính diện tích hình thang ABCD, GV đã tiến hành như sau:

Cách 1: Từ 2 đỉnh A, B của hình thang vẽ đường thẳng vuông góc xuống cạnh đối diện CD. Lúc đó, hình thang đã được chia thành 2 hình tam giác và 1 hình chữ nhật.

Cách 2: Kéo dài đường thẳng đi qua đỉnh A của hình thang và cắt trung điểm của cạnh bên BC.

Sau đó, đối với cách 1 GV gợi ý cho HS cách tính diện tích hình thang dựa vào cách tính diện tích của các hình tam giác và hình chữ nhật tạo bởi hình thang. Đối với cách 2, GV gợi ý cho HS cách tính diện tích hình thang quy về cách tích diện tích hình tam giác có diện tích bằng diện tích hình thang.

Sau khi học sinh tính ra kết quả, GV yêu cầu HS phân tích và rút ra công thức tính diện tích hình thang.

Đánh giá cách xây dựng động lực của GV trong tiết dạy trên, ý nghĩa của việc xây dựng động lực đối với hiệu quả tư duy, giải quyết các nhiệm vụ học tập của HS?

Ví dụ 2: Khi dạy bài thơ Mây và Sóng (Văn học lớp 8), GV bắt đầu vào bài giảng bằng cách cho HS nghe một đoạn trong bài hát Mẹ yêu con của nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý, sau đó yêu cầu HS hãy kể tên những văn bản nói về tình mẹ con. Sau khi HS trả lời, GV đã nói rằng : ‘’ Có thể nói tình mẹ con là một đề tài vĩnh cửu trong văn học, đã có nhiều tác giả viết về đề tài này, đại thi hào Targo (Ấn Độ) cũng có một bài thơ hay về tình mẹ con, đó là bài thơ Mây và Sóng, sau đây chúng ta cùng tìm hiểu bài thơ này.”  

Hãy nhận xét cách đặt vấn đề vào bài mới của GV trên? Những nguyên tắc dạy học nào được GV vận dụng và cho biết ý nghĩa của nguyên tắc dạy học đó ?

- Dạng 3: THDH phản ánh mối quan hệ ứng xử trong dạy học, giáo dục. Nếu như dạng tình huống 1 và 2 áp dụng trong dạy học môn GDH để giúp SV nắm vững kiến thức lý luận, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thì dạng TH3 này sẽ có tác dụng hình thành niềm tin, tình cảm và đạo đức nghề nghiệp cho SV. Thông qua việc giải quyết các THDH dạng này, SV không chỉ nắm vững tri thức lý thuyết và còn biết vận dụng trong các tình huống quen thuộc và hơn nữa sẽ có thái độ, tình cảm tích cực đối với môn học cũng như nghề nghiệp của mình.

Ví dụ: Cô giáo dạy văn lớp 10 ở một trường THPT ra đề bài kiểm tra môn Văn như sau: “Em hãy phát biểu cảm nghĩ về một người thân yêu nhất”. Đến giờ trả bài kiểm tra, có một bài làm được cô giáo cho điểm 9,5/10 cùng với lời phê như sau: “Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động. Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu. Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời”.



Anh ( chị) hãy phân tích cách nhận xét, đánh giá của cô giáo về kết quả học tập của học sinh và phân tích nhiệm vụ của dạy học ?

Phân tích các chức năng của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học?

- Dạng 4: THDH phản ánh các tình huống trong cuộc sống, trong lao động: Môn GDH không chỉ cung cấp cho SV các kiến thức, kỹ năng về NVSP của người GV mà còn trang bị cho họ những hiểu biết về nhận thức, tình cảm của con người, những yếu tố xã hội ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển tâm lý, nhân cách con người. Thông qua việc tiếp xúc và giải quyết các THDH dạng này, SV sẽ tự lĩnh hội NDHT một cách vững chắc.

Ví dụ: Trong bài thơ Chuyện ở lớp của Tô Hà, tác giả viết về cuộc nói chuyện giữa người mẹ và cô con gái đang học tiểu học, trong các khổ thơ 1,2 của bài thơ, cô bé đó đều mách mẹ về các “thói hư, tật xấu” của mấy người bạn trong lớp. Người mẹ lắng nghe con và cuối cùng cách ứng xử của người mẹ thể hiện ở đoạn kết như sau:

“ … Vuốt tóc con mẹ bảo

Thôi đừng kể đâu đâu

Nói mẹ nghe ở lớp

Con đã ngoan thế nào ”



Anh (chị) hãy cho biết ý nghĩa giáo dục của bài thơ trên? Hãy cho biết những nội dung giáo dục nào được đề cập trong tình huống trên và cho biết các con đường để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đó..

2.2.2.2. Các hình thức biểu đạt THDH

Theo nghiên cứu của chúng tôi, có thể chia THDH thành 4 hình thức biểu đạt:



Hình thức 1: THDH được biểu đạt bằng một câu chuyện giáo dục

Ví dụ: GV trình bày, biểu đạt một THDH thông qua một câu chuyện giáo dục: “ Một câu chuyện cảm động” ( Trong cuốn Quà tặng của cuộc sống- NXB trẻ 2006). Sau khi biểu đạt câu chuyện, GV đặt các câu hỏi:



Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa của những việc mà cô giáo chủ nhiệm đã làm đối với học sinh của mình? Từ đó rút ra bài học sư phạm cần thiết trong công tác chủ nhiệm nói riêng, trong công tác giáo dục nói chung.

Hình thức 2:  THDH được biểu đạt một tình huống có thật hoặc hư cấu

Trong dạy học môn GDH theo tiếp cận GQVĐ, thay vì truyền đạt nội dung dạy học, GV có thể sử dụng một THDH có thật hoặc hư cấu nhưng tiềm ẩn vấn đề, nhiệm vụ nhận thức đối với SV.

Ví dụ: Kì thi ĐH 2009 đã có 1 đề thi Văn đáng nhớ: "Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mỹ A. Lin-côn (1809-1865) viết: xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi. Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống".

Anh (chị) có nhận xét gì về cách ra đề của GV trên, từ đó cho biết ý nghĩa và nhiệm vụ của quá trình dạy học nói chung, quá trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh nói riêng?

Hình thức 3:  THDH được biểu đạt bằng Clip

Đây là hình thức biểu đạt THDH gây được hứng thú và cảm xúc đối với SV trong dạy học môn GDH. Hình thức này dựa vào tính năng và tác dụng của CNTT trong dạy học, đáp ứng được yêu cầu của đổi mới PPDH trong các nhà trường hiện nay. GV sưu tầm, khai thác và tự quay phim các hoạt động giáo dục sau đó lựa chọn các đoạn tư liệu để sử dụng trong dạy học GQVĐ.

Ví dụ: 1/ GV minh họa một đoạn phim về cách đặt vấn đề vào bài mới của GV trường phổ thông.

2/ GV minh họa một đoạn phim về cách sử dụng các mức độ câu hỏi nêu vấn đề; cách nhận xét của GV trường phổ thông về câu trả lời của HS trong một giờ học.



Hình thức 4:  THDH mô phỏng của chính SV (nhập vai, đóng kịch)

Ngoài các hình thức biểu đạt THDH như trên, GV có thể thiết kế các THDH sau đó dàn dựng cho SV nhập vai, đóng kịch để mô phỏng trong dạy học. Việc các SV được thực hiện những công việc như vậy sẽ vừa tạo được một không khí, môi trường học tập gần gũi, sôi nổi đối với mọi SV nhưng đồng thời sẽ tạo những điều kiện cho SV nhận thức sâu sắc hơn về hoạt động giáo dục, hoạt động nghề nghiẹp của bản thân sau này; kích thích được tư duy cũng như hứng thú học tập của SV.

Ví dụ: 1/ GV yêu cầu một nhóm SV đóng vai là GVCN đến thăm nhà HS cá biệt và đưa ra một vài tình huống ứng xử để SV xử lý (GVCN, Phụ huynh, HS cá biệt)

2/ GV yêu cầu một nhóm SV đóng vai là GV gặp tình huống ứng xử với HS vô lễ, vi phạm kỷ luật trong giờ học.

3. KẾT LUẬN

Xây dựng và sử dụng THDH và các hình thức biểu đạt THDH là công việc quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của dạy học môn GDH theo tiếp cận GQVĐ. Chính vì vậy, mỗi giảng viên phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ về công việc đó để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghệ thuật sư phạm cũng như hiệu quả học tập của SV. Thay vì thuyết trình nội dung học tập, GV cung cấp các THDH; biểu đạt các THDH để SV nghiên cứu, giải quyết qua đó lĩnh hội nội dung môn học, GV chỉ là người trợ giúp cho SV . Với cách thức dạy học đó, không chỉ giúp cho không khí, môi trường học tập sôi nổi, tích cực mà còn giúp cho SV phát huy vai trò chủ thể, độc lập của mình trong học tập để giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề của THDH , từ đó nâng cao hiệu quả học tập môn GDH trong trường sư phạm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Ngọc Bảo ( 1995). Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học. Tài liệu BDTX chu kỳ 1993-1996 cho giáo viên PTTH. BGD &ĐT, vụ giáo viên.

[2] Đặng Thành Hưng (2002). Dạy học hiện đại: Lý luận, biện pháp, kỹ thuật. NXB ĐHQG.

[3] N.G Kazansky, T.S Nazarova (1983). Lý luận dạy học. NXB Giáo dục

[4] I. Ia Lecne (1977). Dạy học nêu vấn đề. NXB Giáo dục

[5] Nguy ễn Ngọc Quang (1982). Lý luận dạy học hoá học, T1, NXB Giáo dục

[6] V. Okôn (1776). Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề. NXB Giáo dục

[7] Dolmans Diana (1994) How Students Learn in a Problem-based curriculum. Maastricht, Netherlands: Universitaire Pers Maastrict.

[8] Donald Woods R. (1995) Problem-based learning: Helping Your Students Gain the Most from PBL. Distributed by The Book Store, McMaster University, Hamilton, Ontario, Canada.

[9] Wilkerson, L., & Gijselaers, W.H. (Eds.) (1996). Bringing Problem-Based Learning To Higher Education: Theory And Practice. New Directions in Teaching and Learning, Jossey-Bass Quarterly Sourcebooks, number 68. San Francisco: Jossey-Bass Publishers.



FORMS OF TEACHING SITUATIONS AND THE EXPRESSION OF TEACHING SITUATIONS IN TEACHING PEDAGOGY BASE ON THE APPROACH PROBLEM SOLVING

Nguyen Thi Ha Lan1

1Division of Psychology Education, Hong Duc University

ABSTRACT


Problem solving teaching is a new pedagogical approach to formulate and develop creative and independent skills as well as active and constructive attitudes of learners. However, for the success of Problem solving teaching, it is important to design and transform teaching contents into problems and teaching situations, as well as to use techniques, simulations or questions to make problem cases that needed to be solved. Pedagogy is a particular discipline to compare with other disciplines because it is for teaching skills and being the background of different disciplines. Therefore, designing and using problem – solving teaching activities require the teacher not only has a good command of specialized knowledge in other fields for developing situations in teaching and for helping students master contents in their learning process and at the same time help them train their skills in problem – solving in both theory and practice.


1 Những sản phẩm tài chính phái sinh như các quyền chọn và các hợp đồng kỳ hạn nảy sinh từ một loại chứng khoán hay một hãng làm cơ sở cho chúng (Từ điển Tài chính- Đầu tư-Ngân hàng-Kế toán, NXB Khoa học Kỹ thuật, 1999, trang 162)

Bài viết thuộc phạm vi báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài cấp cơ sở “ Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế khoán đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Thanh Hoá”





1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương