Kết quả nghiên cứU Ảnh hưỞng của thời vụ gieo cấY ĐẾn khả NĂng sản xuất hạt lúa lai f1 TỔ HỢp th3-3 VÀ th3-4 TẠi thanh hoá



tải về 1.17 Mb.
trang11/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.17 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

2.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản thuộc chương trình 135 trên địa bàn huyện Bá thước

Một là, làm tốt công tác kế hoạch: Trong thời gian tới huyện Bá thước cần chú trọng nâng cao chất lượng trong việc lập phương án phân bổ vốn đầu tư. Muốn vậy, cơ quan tham mưu là Phòng tài chính – Kế hoạch phải có sự chuẩn bị phương án chu đáo để Uỷ ban nhân dân trình ra Hội đồng nhân dân huyện. Cần phải nêu cao vai trò của Hội đồng nhân dân nói chung và của từng đại biểu nói riêng để ra quyết định chính xác về phương án phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Chú trọng ngay từ khâu quyết định chủ chương đầu tư. Muốn vậy, khi xác định chủ trương đầu tư cần phải được bàn bạc, cân nhắc, tính toán các khía cạnh về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, môi trường.... Ngoài ra, khi xác định chủ chương đầu tư nhất là đối với các công trình xây dựng cơ bản như các công trình thuộc dự án 135 ở Bá thước chủ yếu là những công trình phục vụ dân sinh, xây dựng hạ tầng cơ sở cho những vùng còn khó khăn thì cần phải được đưa ra bàn bạc rộng rãi trong nhân dân, những người được hưởng lợi và sử dụng công trình sau này.

Hai là, tổ chức tốt công tác nghiệm thu và quản lý chất lượng công trình: Cần có quy định nhằm gắn chặt trách nhiệm của cá nhân những người tham gia nghiệm thu công trình. Nhất là đối với cán bộ giám sát công trình. Quy định trách nhiệm rõ ràng, nếu để trường hợp nghiệm thu sai tăng về khối lượng hoặc không đúng về chất lượng công trình, nếu các cung đoạn sau phát hiện thấy sự sai lệch giữa thực trạng công trình và khối lượng nghiệm thu thì những người có liên quan trực tiếp phải chịu trách nhiệm về vật chất tương ứng với giá trị sai lệch. Nêu cao vai trò của Ban giám sát nhân dân trong việc tham gia giám sát, quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình. Thành phần Ban giám sát nhân dân phải là những người có trách nhiệm ở địa phương và là những người dân có uy tín, được tín nhiệm, tránh cơ cấu.

Ba là, nâng cao chất lượng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc nhà nước huyện: Phải nâng cao tỷ lệ vốn được thanh toán trên tổng kế hoạch vốn được giao. Khắc phục tình trạng chậm thanh toán và tình trạng nguồn vốn dồn vào cuối năm mới thanh toán, thậm chí sang đầu quý I năm sau. Trong thời gian tới Bá thước cần chú ý khắc phục việc lập, phân bổ và giao kế hoạch chậm, đẩy nhanh tiến độ công tác kế hoạch. Nâng cao năng lực của Chủ đầu tư trong việc hoàn thiện các hồ sơ thủ tục gửi Kho bạc nhà nước huyện thanh toán

Bốn là, Thúc đẩy việc quyết toán vốn đầu tư dự án xây dựng cơ bản hoàn thành: Tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo quyết liệt để khắc phục tình trạng chậm quyết toán các công trình. Trước hết là phải phối hợp đồng bộ các khâu trong quá trình chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện. Bên cạnh việc thúc đẩy tiến độ quyết toán các công trình hoàn thành thì huyện Bá thước cũng cần chú ý nâng cao chất lượng thẩm tra quyết toán, cần phải bắt buộc đi kiểm tra thực địa. Làm được như vậy sẽ nâng cao được hiệu quả quyết toán công trình hoàn thành, giảm chi ngân sách nhà nước. Trong trường hợp việc bố trí cán bộ chưa thể sắp xếp được ngay, chưa đáp ứng kịp thời cho công việc thẩm tra quyết toán thì huyện Bá thước nên có kế hoạch thuê các Công ty kiểm toán độc lập để họ tiến hành kiểm toán các công trình hoàn thành tránh tình trạng ứ đọng các công trình đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng mà không được quyết toán đúng thời hạn. [5, 26 ]

Nên có quy định cụ thể mức phạt đối với đơn vị Chủ đầu tư khi lập và gửi báo cáo quyết toán chậm cho cơ quan thẩm tra quyết toán, chẳng hạn như có thể là 0,05 % so với giá trị quyết toán hạng mục công trình, công trình, dự án hoàn thành cho một ngày gửi chậm báo cáo quyết toán vốn đầu tư hạng mục công trình, công trình, dự án hoàn thành.



Năm là, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ cán bộ: địa phương có kế hoạch tiêu chuẩn hoá cán bộ ở tất cả các khâu của quá trình quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện (cán bộ lập kế hoạch vốn, kiểm soát thanh toán vốn, thẩm tra quyết toán vốn đầu tư). Hệ thống cán bộ tham gia và có liên quan đến công việc quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản phải là những người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc được đảm đương, thường xuyên được bồi dưỡng và đào tạo chuyên sâu kiến thức ngành nghề được đảm nhận. Tăng cường công tác giáo dục và nâng cao phẩm chất đạo đức công vụ của người cán bộ công chức làm công tác quản lý đầu tư xây dựng. Phải xây dựng rõ quyền hạn và chế độ chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình. Khuyến khích các Nhà thầu, các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường xây dựng phát huy được lòng tự trọng và đạo đức trong kinh doanh, kiên quyết từ chối những nguồn lợi từ kinh doanh bất hợp pháp, cam kết không móc ngoặc, hối lộ, thậm chí tố cáo các hành động không lành mạnh và phi đạo đức trong kinh doanh xây dựng. Chính quyền địa phương cần phát huy vai trò chủ đạo của mình, nêu cao vai trò tự giám sát và giám sát lẫn nhau của các doanh nghiệp xây dựng thi công trên địa bàn.

3. KẾT LUẬN

Có thể nói hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản thuộc chương trình 135 là công việc phức tạp, song có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một địa phương thuộc diện huyện nghèo như Bá Thước. Hơn nữa, nhất là trong thời điểm huyện đang bắt đầu triển khai thực hiện chương trình 30a của Chính phủ với một khối lượng xây dựng cơ bản rất lớn thì vấn đề trên càng trở nên cấp thiết. Bài viết đã tổng kết, đánh giá tình hình quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản thuộc chương trình 135 trên địa bàn huyện Bá Thước giai đoan 2005 – 2008. Từ đó đưa ra năm nhóm giải pháp góp phần hoàn thiện công tác này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Học viện Tài chính (2005). Giáo trình Quản lý Tài chính công, Nhà xuất bản Tài chính, Hà nội.

[2] Kho bạc nhà nước Bá thước (2005,2006,2007,2008). Báo cáo tình thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2005, 2006, 2007, 2008 Bá thước.

[3] Sở Xây dựng Thanh hoá (2007). Hệ thống hoá văn bản pháp lý về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, Thanh hoá.

[4] UBND huyện Bá thước (2005, 2006, 2007, 2008). Báo cáo tình hình quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành năm 2005, 2006, 2007, 2008 Bá thước.

[5] Lê Hoằng Bá Huyền (2009),Tài chính – QTKD số ra tháng 11/2009. Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ quyết toán các công trình XDCB thuộc dự án 135 trên địa bàn huyện Bá Thước, tỉnh Thanh hóa, Nhà xuất bản Tài chính, Hà nội

TO PERFECT THE MANAGEMENT OF STATE BUDGET EXPENSES ON CONSTRUCTION AND INVESTMENT FOR 135 PROJECT IN BA THUOC DISTRICT

Lê Hoằng Bá Huyền1

1Department of Economics and Business Administration, Hong Duc University

ABSTRACT


Construction investment plays an essential role in the social economic development of a nation, a province and a sector as it lays the foundation for a stable growth. However, State budget expenses on construction and investment are very complicated, which relates to many sectors, levels, organizations and individuals. Thus, management of expenses on construction investment has become increasingly complicated but particularly important. Despite the fact that many efforts have been made, State budget management of construction investment expenses of the 135 project in Ba Thuoc District, for recent years, has demonstrated some limitations. The paper describes the realities, and; accordingly, proposes some major solutions to enhance the efficiency of State budget expenses on construction and investment for the 135 project in Ba Thuoc district.

XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM RÈN LUYỆN

KỸ NĂNG GIAO TIẾP, ỨNG XỬ CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM

MẦM NON

Nguyễn Thị Hoa1

1Bộ môm Tâm lý Giáo dục, trường Đại học Hồng Đức
TÓM TẮT

Kỹ năng giao tiếp sư phạm là một trong những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng đối với hoạt động của người giáo viên. Thực tế, khi đi thực hành, thực tập sinh viên giao tiếp, ứng xử với mọi người nói chung và với trẻ nói riêng còn nhiều hạn chế. Bài viết đi sâu nghiên cứu xây dựng hệ thống tình huống sư phạm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non hiện nay.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Kỹ năng giao tiếp sư phạm là một phẩm chất nghề nghiệp quan trọng trong quá trình hoạt động của người giáo viên nhằm giải quyết các tình huống nảy sinh trong hoạt động giáo dục và dạy học.

Thực tế, khi đi thực hành, thực tập, sinh viên sư phạm mầm non giao tiếp, ứng xử với mọi người nói chung và với trẻ nói riêng còn nhiều hạn chế và lúng túng. Để đạt được kết quả trong giao tiếp, ứng xử đòi hỏi người giáo viên phải được rèn luyện kỹ năng giao tiếp đầy đủ, chu đáo ngay từ khi học trong trường sư phạm.

Việc xây dựng hệ thống tình huống sư phạm với mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên là một yêu cầu rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, lòng yêu nghề, mến trẻ và đáp ứng yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non hiện nay.

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Để xây dựng được hệ thống tình huống sư phạm đạt hiệu quả và có giá trị trong việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên, chúng tôi đi sâu nghiên cứu một số vấn đề như sau:

2.1. Một số khái niệm cơ bản

- Kỹ năng giao tiếp sư phạm: là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ phối hợp hài hoà, hợp lý của giáo viên nhằm đảm bảo sự tiếp xúc với học sinh đạt kết quả cao trong hoạt động dạy học và giáo dục, với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất trong điều kiện thay đổi.



Tình huống sư phạm: Là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hoạt động sư phạm của người giáo viên. Cụ thể, tình huống sư phạm trong môi trường giáo dục trẻ mầm non là những tình huống chứa đựng mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên mầm non. Các mâu thuẫn đó là: giữa yêu cầu giáo dục của giáo viên với trẻ và trình độ hiện có; giữa yêu cầu phát triển của trẻ với điều kiện sống và giáo dục của trẻ; giữa nhu cầu phát triển của trẻ với khả năng sư phạm của giáo viên; giữa nhu cầu phát triển của trẻ với khả năng trình độ đạt được của chính trẻ…

- Đặc trưng cơ bản, khái quát nhất của quá trình giao tiếp, ứng xử của cô giáo mầm non với trẻ em là: Sự mẫu mực về nhân cách của cô giáo, đó là tấm gương quan trọng để trẻ nhập tâm, bắt chước và học tập phỏng theo, đó là giao tiếp với những người xung quanh. Nhờ vậy mà khả năng hợp tác với mọi người được hình thành và phát triển, từ đó trẻ dễ dàng thích ứng với các nhóm xã hội sau này.



2.2. Phân loại tình huống sư phạm

Căn cứ vào đặc điểm chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, có thể phân loại các tình huống sư phạm sau:



- Tình huống diễn ra trong hoạt động học có chủ đích: Hoạt động học có chủ đích của trẻ ở trường mầm non được diễn ra hàng ngày với sự hướng dẫn của giáo viên nhằm giúp trẻ tiếp thu những tri thức sơ đẳng về tự nhiên, xã hội và con người, trong quá trình hướng dẫn đó có rất nhiều các tình huống sư phạm nảy sinh đòi hỏi giáo viên cần giải quyết kịp thời.

- Tình huống diễn ra trong hoạt động vui chơi: Hoạt động vui chơi là hoạt động chiếm thời gian nhiều nhất trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ, mối quan hệ chơi của trẻ đa dạng và phong phú gắn liền với việc thoả mãn nhu cầu chơi của trẻ. Khi trẻ chơi, nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, những lúc đó cô giáo cần có mặt kịp thời để giải quyết các tình huống xảy ra.

- Tình huống diễn ra trong sinh hoạt hàng ngày: Ngoài giờ học và chơi, giáo viên còn thường xuyên chăm sóc trẻ từng bữa ăn, giấc ngủ và các sinh hoạt khác. Ở các thời điểm này cũng có rất nhiều các tình huống xảy ra đòi hỏi giáo viên giải quyết.

2.3. Phân loại kỹ năng giao tiếp, ứng xử sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu về giao tiếp sư phạm, các nhà Tâm lý học và Giáo dục học đã đưa ra nhiều cách phân loại kỹ năng giao tiếp sư phạm. Song, dù phân loại theo cách nào đi chăng nữa thì khi xử lý một tình huống sư phạm nào đó, giáo viên không chỉ sử dụng một kỹ năng riêng biệt, mà đồng thời phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau. Do đó, để hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm cho SV, đòi hỏi phải có một hệ thống bài tập rèn luyện từ đơn giản đến phức tạp, có các tình huống rèn luyện từng kỹ năng và những tình huống vận dụng tổng hợp các kỹ năng.

Vì điều kiện và thời gian có hạn, chúng tôi chỉ xây dựng các tình huống sư phạm nhằm rèn luyện tổng hợp các kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên với hai mức độ từ dễ đến khó như sau:

- Mức độ 1: Giáo viên đưa ra tình huống, các phương án giải quyết; yêu cầu sinh viên chọn phương án hợp lý nhất và phân tích cơ sở lí luận, thực tiễn của phương án đó.

- Mức độ 2: Giáo viên đưa ra tình huống sư phạm; yêu cầu sinh viên đưa ra phương án giải quyết và phân tích cơ sở lí luận, thực tiễn cho cách giải quyết của mình.

2.4. Nguyên tắc xây dựng tình huống sư phạm trong các hoạt động của trẻ ở trường MN

Tình huống sư phạm phải phù hợp và đảm bảo tính mục đích trong việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên sư phạm mầm non; cần đảm bảo tính phổ biến, phong phú, đa dạng và gắn với thực tiễn công tác chăm sóc giáo dục trẻ; đảm bảo kích thích thái độ tích cực tranh luận của sinh viên; có tính khái quát; xây dựng nhiều loại khác nhau và ở các độ tuổi của trẻ mẫu giáo.



2.5. Xây dựng chuẩn và thang đánh giá

- Xác định chuẩn đánh giá về kỹ năng giao tiếp, ứng xử của sinh viên trên ba mặt: Nhận thức; thái độ và kỹ năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết tình huống.

- Xây dựng thang đánh giá kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên theo 2 mức độ trên với 4 loại điểm như sau: Loại giỏi (9- 10 điểm); Loại khá (7- 8 điểm); Loại trung bình (5- 6 điểm); Loại yếu (dưới 5 điểm) (có tiêu chí cụ thể)

2.6. Thử nghiệm hệ thống tình huống sư phạm.

Nhóm nghiên cứu đã xây dựng được 150 tình huống, qua nhiều lần chỉnh sửa, sau đó tổ chức hội thảo nhằm lấy ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp có chuyên môn về giáo dục mầm non, chúng tôi chọn ra 130 tình huống diễn ra trong hoạt động vui chơi, học tập và trong sinh hoạt hằng ngày của trẻ để đưa ra thử nghiệm với hai mức độ như trên, thông qua việc tổ chức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho 189 sinh viên.

+ Quá trình thử nghiệm gồm ba bước sau:

* Bước 1: Chuẩn bị:

Gồm các nội dung công việc sau:

- Xác định mục đích, yêu cầu của việc sử dụng hệ thống tình huống sư phạm nhằm chuẩn bị tâm thế cho sinh viên. Yêu cầu cần đạt được là:

+ Hình thành các kỹ năng giao tiếp, ứng xử sư phạm cho sinh viên.

+ Sinh viên có thái độ tích cực học tập, tập trung chú ý, tự giác khi giải quyết các tình huống sư phạm.

+ Biết phát hiện được các vấn đề trong tình huống sư phạm.

+ Biết dự kiến các phương án giải quyết và lựa chọn các phương án giải quyết tối ưu.

+ Biết huy động tìm kiếm tri thức, kỹ năng để giải quyết vấn đề.

+ Rút ra được bài học từ việc giải quyết vấn đề. Qua đó sinh viên nắm được các tri thức, kinh nghiệm trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non thông qua việc giải quyết các tình huống.

- - Xây dựng kế hoạch thử nghiệm (Nội dung, thời gian, địa điểm…)

- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác.



* Bước 2: Tiến hành thử nghiệm.

Trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ chúng tôi cho sinh viên làm quen với các tình huống trên, giới thiệu tài liệu sách báo và cung cấp cho sinh viên những kiến thức cần thiết để giúp cho sinh viên những kiến thức khoa học để giải quyết các tình huống, sau đó với các hình thức thảo luận nhóm, làm việc cá nhân, sinh viên đ­ược hiểu rõ hơn về tình huống sư phạm. Với 130 tình huống chia làm 2 mức độ như đã nêu, mỗi mức độ 65 tình huống sư phạm, chúng tôi chia thành nhiều đợt khác nhau, nhóm đề tài cho 198 sinh viên giải quyết các tình huống sư phạm dư­ới dạng bài kiểm tra, sau đó chúng tôi tổ chức chấm và phân tích kết quả.



* Bước 3: Kết thúc thử nghiệm và xử lí kết quả thử nghiệm.

Để đánh giá hiệu quả tác động của các tình huống sư phạm đối với việc rèn luyện kỹ năng ứng xử, giao tiếp của sinh viên trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, chúng tôi áp dụng chuẩn đánh giá và thang đánh giá đã xây dựng.

Kết thúc thử nghiệm, thu được kết quả sau:

Quá trình thử nghiệm ở cả 2 mức độ, căn cứ vào chuẩn và thang đánh giá đã xây dựng, chúng tôi thu được kết quả khá khả quan, đó là: Mỗi tình huống được sinh viên giải quyết đều có điểm trải rộng cả 4 mức điểm (giỏi, khá, trung bình, yếu) tỉ lệ giữa các mức điểm có sự chênh lệch đáng kể, tập trung chủ yếu là điểm khá và điểm trung bình. Những tình huống đa số sinh viên đạt điểm giỏi có nghĩa là những tình huống đó quá dễ đối với khả năng của sinh viên. Ngược lại, những tình huống đa số sinh viên bị điểm kém, có nghĩa là những tình huống đó quá khó đối với khả năng của sinh viên .

Trong quá trình hư­ớng dẫn sinh viên luyện tập, chúng tôi nhận thấy: Sinh viên có thái độ rất tích cực, rất thích thú khi đ­ược trao đổi, bàn bạc, tranh luận giải quyết các tình huống. Các em phát biểu rằng: có rất nhiều tình huống lý thú, ngộ nghĩnh, ngây thơ và cách giải quyết hợp lý đã giúp cho các em hiểu rõ hơn về vai trò của mình trong chăm sóc giáo dục trẻ đồng thời các em có cơ hội trải nghiệm với thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ, sẽ rất có ích khi đi kiến tập và thực tập sau này.

Từ kết quả đã phân tích và căn cứ vào nguyên tắc đã đề ra, chúng tôi rà soát lại các tình huống ở cả 2 mức độ để loại ra những tình huống quá dễ hoặc quá khó và không phù hợp với nguyên tắc đề ra. Mỗi mức độ chọn ra 55 tình huống. Cuối cùng lấy ý kến đóng góp của các chuyên gia.



+ Kết quả ý kiến đánh giá của chuyên gia

Sau khi chọn ra 110 tình huống sư phạm, nhóm đề tài tiếp tục xin ý kiến của các giảng viên có chuyên môn sâu về một số nội dung của hệ thống tình huống sư phạm bằng phiếu trưng cầu ý kiến, kết quả thu được ở bảng sau:



Bảng: Ý kiến đánh giá của các chuyên gia.( Số lượng: 8 người)

Mức độ

Yêu cầu


Rất phù hợp (rất đảm bảo)

Phù hợp (đảm bảo)

Khôngphù

hợp (không

đảm bảo)


SL

%

SL

%

SL

%

1. Tình huống sư phạm phù hợp và đảm bảo tính mục đích trong việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên sư phạm mầm non

4

50.0

4

50.0

0

0

2.Tình huống sư phạm đảm bảo tính phổ biến, phong phú, đa dạng và gắn với thực tiễn công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

6

75,0

2

25,0

0

0

3. Tình huống sư phạm đảm bảo kích thích thái độ tích cực tranh luận của sinh viên khi giải quyết vấn đề.

3

37,5

5

62,5

0

0

4. Tính phù hợp của việc phân chia các mức độ rèn luyện kĩ năng cho sinh viên.

3

37,5

5

62,5

0

0

Từ kết quả bảng trên cho thấy, 100% ý kiến các chuyên gia đều cho rằng: Hệ thống tình huống sư phạm đã đảm bảo tính mục đích và mức độ phù hợp trong việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp, ứng xử cho sinh viên từ dễ đến khó. Các tình huống sư phạm đảm bảo tính phổ biến, phong phú, đa dạng và gắn với thực tiễn công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Các tình huống sư phạm đảm bảo kích thích thái độ tích cực tranh luận của sinh viên khi giải quyết vấn đề. Không có giảng viên nào khẳng định hệ thống tình huống sư phạm không phù hợp và không đảm bảo.

2.7. Kết quả nghiên cứu

Sau một thời gian thử nghiệm và trưng cầu ý kiến chuyên gia. nhóm đề tài rà soát, chỉnh sửa và loại bỏ tiếp một số tình huống chưa chặt chẽ. Kết quả, chúng tôi chọn ra 100 tình huống hoàn chỉnh ở 2 mức độ.

Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi khẳng định: Các tình huống đó phù hợp với trình độ nhận thức của sinh viên và được coi là phù hợp nhất trong việc rèn luyện cho sinh viên kỹ năng giao tiếp, ứng xử nói riêng và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói chung.

Hệ thống tình huống sư phạm đã xây dựng giúp sinh viên có thể hình dung được cách tiếp cận với trẻ ở từng hoàn cảnh cụ thể trong các hoạt động ở trường mầm non, đồng thời cũng làm giảm bớt tính trừu tượng của tri thức lý luận, gợi mở cho sinh viên thực tiễn phong phú, đa dạng về ứng xử, giao tiếp trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ ở trường mầm non. Quá trình giải quyết tình huống này sẽ tạo động lực thúc đẩy sinh viên tập vận dụng tri thức lý luận vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ. Qua đó, sẽ giúp sinh viên rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, ứng xử cũng như các kỹ năng tổ chức các hoạt động trong trường mầm non, góp phần hình thành và phát triển các năng lực sư phạm cần thiết của người giáo viên mầm non sau này.

Việc đưa hệ thống tình huống sư phạm vào giảng dạy còn giúp sinh viên tăng cường húng thú học tập, kích thích óc tò mò, lòng ham hiểu biết, lòng yêu nghề, yêu trẻ... Đặc biệt, khi sinh viên giải quyết tình huống sư phạm còn có tác dụng hình thành và phát triển kỹ năng phát hiện, giải quyết các vấn đề trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non sau này.

Sau đây là một số tình huống minh hoạ :

+ Mức độ 1:

* Trước giờ cho trẻ làm quen với các loại quả ở lớp mẫu giáo (4- 5 tuổi), giáo viên đã chuẩn bị sẵn một số quả cam, chuối, nho ... đựng trong giỏ và được đậy kín. Lúc giáo viên không để ý thì có một số cháu đến lấy ăn hết. Khi vào giờ học giáo viên mới phát hiện ra. Lúc ấy trong giỏ chỉ còn lại vỏ (cam, chuối ...). Trước tình huống đó, bạn giải quyết theo cách nào sau đây và giải thích vì sao?

a. Giáo viên nói với trẻ: "Các con ăn như vậy là giống con mèo ăn vụng, thật là xấu".

b. Giáo viên bình tĩnh và sử dụng ngay các vỏ đó để hướng dẫn trẻ quan sát, tìm hiểu đặc điểm của các loại quả.

c. Phạt trẻ và thay bằng tranh ảnh các loại quả để dạy trẻ.

* Giờ chơi ghép tranh ở lớp mẫu giáo (5- 6 tuổi) chủ đề: “Làm quen với các phương tiện giao thông” cô giáo chia lớp thành 2 nhóm để chơi trò chơi thi ghép tranh. Mỗi nhóm có 9 miếng ghép hình ô tô. Hiệu lệnh báo hết thời gian thi thì nhóm 1 ghép xong tranh, còn nhóm 2 thiếu 1 miếng ghép. Trong lúc cô không để ý có 1 cháu ghép nốt miếng còn lại ở nhóm 2. Khi nhận xét xong nhóm 1 và quay sang nhóm 2 cô giáo mới phát hiện ra bức tranh đã ghép đủ. Trong tình huống đó, bạn sẽ chọn phương án nào sau đây và giải thích vì sao?



1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương