Kết quả nghiên cứU Ảnh hưỞng của thời vụ gieo cấY ĐẾn khả NĂng sản xuất hạt lúa lai f1 TỔ HỢp th3-3 VÀ th3-4 TẠi thanh hoá



tải về 1.17 Mb.
trang1/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.17 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 4. 2010

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỮU CƠ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG THEO PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC DỰ ÁN

Trịnh Thị Huấn1

1Khoa Khoa học Tự nhiên, trường Đại học Hồng Đức

TÓM TẮT


Bài báo thể hiện rõ một phương pháp dạy học đại học đó là phương pháp dạy học theo dự án. Đây là phương pháp dạy theo hướng tự học, tự nghiên cứu tương đối mới mẻ đối với người học song nó đem lại hiệu quả cao. Đặc biệt phương pháp này phù hợp với việc dạy học các tín chỉ hoá học hữu cơ ở trường đại học, cao đẳng, vì đây là ngành học có nhiều kiến thức liên quan trực tiếp đến ứng dụng thực tiễn và đời sống hàng ngày.

1. MỞ ĐẦU

Giáo dục phải được định hướng theo nhu cầu và phát triển xã hội. Nhà trường cần đào tạo các thế hệ mới là những người lao động có năng lực nhận thức, năng lực hành động tích cực, chủ động sáng tạo. Mục tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ở trường đại học hiện nay theo học chế tín chỉ là dạy cách học cho sinh viên, trang bị cho họ những phương pháp và kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu, thói quen học tập suốt đời, học tập gắn liền với thực tiễn xã hội. Để đạt được điều này vấn đề đặt ra chính là thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Vận dụng các lý thuyết của quá trình dạy học và tiếp cận dạy học vào việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ở các trường đại học Việt Nam có thể áp dụng một số PPDH, trong đó có dạy học theo dự án.

2. LÝ THUYẾT VỀ DẠY HỌC DỰ ÁN VÀ ỨNG DỤNG VÀO DẠY HỌC HOÁ HỌC HỮU CƠ

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được.

2.1. Quy trình dạy học theo dự án:

Các giai đoạn dạy học theo dự án:

Giai đoạn quyết định chủ đề: Giảng viên cùng người học đề xuất ý tưởng, xác định mục đích dự án.

Giai đoạn xây dựng kế hoạch: Người học lập kế hoạch làm việc, phân công lao động.

Giai đoạn thực hiện: Người học làm việc nhóm và cá nhân theo kế hoạch. Kết hợp lý thuyết và thực hành, tạo sản phẩm mới.

Giai đoạn giới thiệu sản phẩm: Người học thu thập sản phẩm, giới thiệu và công bố sản phẩm dự án.

Giai đoạn đánh giá: Giảng viên và người học đánh giá kết quả và quá trình, rút ra kinh nghiệm.

Quy trình thực hiện:



Bước 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án

- Người học thảo luận nhóm, đề xuất, xác định đề tài.

- Chú ý đến hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống của địa phương. Có thể từ một bài báo cáo hoá học sẵn.

- Chú ý đến hướng người học. Giảng viên là cố vấn, có thể giới thiệu các hướng đề tài đang được quan tâm. Chẳng hạn các vấn đề như: nước, không khí, thức ăn, ô nhiễm, sản xuất hóa học ...

- Trong dự án đó người học sẽ đóng vai trò gì?

Bước 2: Xây dựng đề cương, lập kế hoạch thực hiện

- Người học xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.

- Xây dựng các tiêu chí để đánh giá sản phẩm của dự án

Bước 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm

- Sản phẩm thông tin mới được tạo ra.

- Thông qua việc thực hiện dự án học tập, các kiến thức về môn học và các môn liên quan cùng kĩ năng sống được hình thành và phát triển.

- Thời gian thực hiện dự án có thể kéo dài trong nhiều tuần, nhiều tháng và đòi hỏi nỗ lực rất cao của mỗi thành viên.



Bước 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm

Các nhóm hoàn thành sản phẩm dự án, trình bày trước lớp.



Bước 5: Đánh giá dự án

Tự đánh giá, các nhóm đánh giá lẫn nhau, giảng viên đánh giá.

Dạy học dự án vượt xa hơn việc tạo nên một sự hứng thú trong học sinh, sinh viên. Những dự án được thiết kế tốt sẽ khuyến khích việc tìm hiểu tích cực và tư duy bậc cao. Những nghiên cứu về bộ não đã nhấn mạnh giá trị của những hoạt động học tập này, khả năng tiếp nhận những hiểu biết mới sẽ được thúc đẩy khi người học được kết nối với những hoạt động giải quyết vấn đề và khi người học được hỗ trợ để hiểu vì sao, khi nào, bằng cách nào các sự kiện và kỹ năng có liên quan đến nhau.

2.2. Ví dụ minh họa về dạy học theo dự án trong Hoá học hữu cơ 1 ở bậc Đại học sư phạm

Hoá học hữu cơ là môn học thực nghiệm, hầu hết các hợp chất hữu cơ đều tồn tại thực tế trong thế giới xung quanh ta, chẳng hạn các chất tạo nên cơ thể sống, các vật dụng sinh hoạt hàng ngày của con người... Chính vì vậy việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án trong các học phần, tín chỉ thuộc hoá học hữu cơ là vấn đề rất cần thiết.

Sau khi sinh viên nhận đề cương chi tiết học phần Hoá hữu cơ 1, giảng viên gợi ý trong tín chỉ này có một số vấn đề liên quan trực tiếp với thực tế đời sống con người và thiên nhiên như tecpen, nguồn gốc hiđrocacbon thiên nhiên.... Vì vậy giảng viên yêu cầu sinh viên cần thảo luận nhóm để đề xuất một chủ đề, dưới sự cố vấn, định hướng của giảng viên. Chẳng hạn sinh viên chọn chủ đề là nguồn hiđrocacbon thiên nhiên. Với dự án này sinh viên được thực hiện trong 10 ngày (tương ứng 5 giờ trên lớp), thời điểm thực hiện giáo viên ấn định theo đề cương chi tiết.

a. Thực hiện quy trình

Bước 1. Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án

Tên đề tài: “Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên”

Với mục đích: sử dụng, chế biến đúng cách nguồn nguyên liệu thiên nhiên nhằm nâng hiệu quả sử dụng và bảo vệ môi trường sống.

Bước 2. Xây dựng đề cương, lập kế hoạch thực hiện dự án

Một lớp học được chia làm 3 hoặc 4 nhóm. Mỗi nhóm có trưởng nhóm giao nhiệm vụ cho thành viên trong nhóm như những nhà hoá học với nhiệm vụ khác nhau để làm báo cáo tổng quan nghiên cứu về nguồn hiđrocacbon trong thiên nhiên, đi sâu vào nguồn gốc thành phần, phân loại và quá trình chế biến của dầu mỏ, khí thiên nhiên và than đá.



Bước 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm

Mỗi nhóm sinh viên sau khi giới thiệu tổng quan về các nguồn hiđrocacbon trong thiên nhiên sẽ đi sâu giới thiệu về công thức, nguồn gốc, thành phần, tính chất lí - hoá học của nó. Trình bày phân bố trong tự nhiên, cách chế biến và ứng dụng trong sinh hoạt, đời sống, cách khai thác, giữ gìn nguồn nguyên liệu hiđrocacbon thiên nhiên và ảnh hưởng của chúng đến môi trường sống.



Bước 4. Thu thập kết quả và công bố sản phẩm

Thông tin được tìm hiểu và thu thập từ sách giáo khoa, các loại sách tham khảo, phương tiện truyền thông (báo chí, truyền hình, truyền thanh, Internet), trao đổi với giảng viên và các chuyên gia ...

Tất cả dự án được trình bày bằng một báo cáo và một bài trình diễn trên power point qua máy tính, yêu cầu bài báo cáo phải sinh động, có hình ảnh thực tế, được thiết kế cẩn thận, có thể đưa ra một số mẫu vật như khí gas, các loại mẫu dầu mỏ. Gợi ý sinh viên làm bản tin hoá học về tìm hiểu nguồn gốc hiđrocacbon thiên nhiên.

Bước 5. Đánh giá dự án

Mỗi nhóm sinh viên trình bày báo cáo của mình sau đó các nhóm nhận xét và đưa ra câu hỏi tự đánh giá lẫn nhau, cuối cùng là đánh giá của giảng viên.



b. Nhiệm vụ của giảng viên trong quá trình thực hiện dự án

- Thông qua các hoạt động giảng viên cố vấn gợi ý để sinh viên đạt được các mục tiêu bài học như: kiến thức, thái độ, kỹ năng, tư duy, sản phẩm.

- Giảng viên đưa ra câu hỏi định hướng

Câu hỏi khái quát: Tầm quan trọng của việc sử dụng và chế biến đúng cách nguồn hiđrocacbon thiên nhiên trong đời sống con người.

Câu hỏi nội dung:

1) Nêu nguồn gốc, thành phần, phân loại, tính chất và hoá học chế biến dầu mỏ.

2) Nêu nguồn gốc, thành phần, phân loại, tính chất, ứng dụng và phân bố khí thiên nhiên.

3) Nêu cách chưng cất và xử lí than đá.

4) So sánh, nhận xét hàm lượng hiđrocacbon có trong các nguồn hiđrocacbon thiên nhiên.

5) Hiện nay cách sử dụng, chế biến các nguồn hiđrocacbon thiên nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường, nêu cách khắc phục (nếu có).

- Giảng viên tư vấn cho sinh viên một số phương tiện kỹ thuật, cách sử dụng nguồn tài liệu và tra tài liệu trên Internet.

Trong thời gian sinh viên thực hiện dự án giảng viên chỉ dẫn, gợi nên nghi vấn, thúc đẩy người học hiểu biết sâu hơn. Sau thời gian 3 - 4 ngày thực hiện giảng viên yêu cầu sinh viên trình bày đề cương và tiến trình thực hiện dự án. Sau 1 tuần người học bắt đầu trình bày dự án theo từng nhóm trước lớp, các nhóm tự đánh giá sản phẩm của nhau, tiếp đến giáo viên đánh giá kết quả và quá trình để rút kinh nghiệm.

Sau quá trình thực hiện dự án điều bất ngờ thu được là mỗi sinh viên không những tự lĩnh hội sâu sắc được kiến thức chuyên ngành mà còn pháp triển cả kiến thức tin học và một số kiến thức thực tiễn khác.

Trong dạy học dự án, nhiệm vụ học được giảng viên và người học cùng nhau đề xuất xác định, vì vậy sinh viên nào cũng có cơ hội để hoạt động. Việc tích hợp với các vấn đề của đời sống và thực hành làm cho học tập ở trường giống với học tập trong thế giới thật hơn, từ đó kích thích hứng thú học tập của người học. Dạy học dự án tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau. Nó giúp sinh viên với cùng một nội dung nhưng có thể thực hiện theo những cách khác nhau. Sinh viên được rèn luyện khả năng tư duy, suy nghĩ sâu hơn khi gặp những vấn đề khác nhau và được rèn khả năng vận dụng những gì đã học, đặc biệt các kiến thức về khoa học và công nghệ.

3. KẾT LUẬN

Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, nền giáo dục cần thiết phải đổi mới nội dung cũng như phương pháp để ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển của xã học mới.Việc lựa chọn phương pháp để dạy và học ở bậc đại học là dạy cách học, cách nghiên cứu, phát huy tính chủ động của sinh viên và khai thác được lợi ích của công nghệ thông tin vào môn học. Việc sử dụng một cách hiệu quả một số phương pháp dạy khác nhau, chẳng hạn dạy học theo dự án sẽ nâng cao tính chủ động, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học và cao đẳng.Tuy nhiên phương pháp dạy học dự án nên áp dụng cho những kiến thức liên quan nhiều đến thực tiễn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bransford, Brown and Conking. 2000, tr 23.

[2] Nguyễn Cương. Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông và đại học, NXB Giáo dục, 2007.

[3] Nguyễn Hữu Đĩnh (chủ biên), Đỗ Đình Rãng. Hóa học hữu cơ 1. NXB Giáo dục 2003.

[4] Đặng Thị Oanh, Dương Huy Cẩn, Nguyễn Thị Ngà, Nguyễn Thị Kim Anh. Đổi mới phương pháp dạy học ở các trường đại học thoe hướng tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Tạp chí Hoá học và ứng dụng, Số 11, năm 2008, tr32- 34.


INNOVATIVE METHODS OF TEACHING ORGANIC CHEMISTRY AT THE UNIVERSITIES AND COLLEGES BY THE METHOD OF TEACHING PROJECT

Trinh Thi Huan1

1 Department of Natural sciences, Hong Duc University

ABSTRACT


The article focuses on a typical teaching method, a project – based one which is in the light of sefl – study and self – research. The method is quite new for the learners, moreover it brings high effeciveness for them especially it is relevant to the credit – based training system for organic chemistry study at colleges and universities since that is the subject containing knowledge that requires pracrticality and daily life
SỬ DỤNG CÂU HỎI VÀ PHẦN MỀM POWERPOINT ĐỂ HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI TRONG DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ CẤU TRÚC TẾ BÀO NHÂN SƠ VÀ TẾ BÀO NHÂN THỰC, SINH HỌC 10 NÂNG CAO THPT

Lê Thị Huyền1, Phạm Văn Trọng1

1Khoa Khoa học Tự nhiên, trường Đại học Hồng Đức

TÓM TẮT


Hiện nay, dạy học đều hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm, làm cho họ phải tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức. Mỗi giáo viên đều ý thức được vấn đề này, nên đã từng bước tiếp cận và sử dụng các phương pháp, cách thức dạy học nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, sinh viên. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề: “Sử dụng câu hỏi và phần mềm PowerPoint để hình thành kiến thức mới trong dạy học các bài về cấu trúc tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực, sinh học 10 nâng cao Trung học phổ thông (THPT)”, nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu dạy học ngày càng cao của giáo dục - đào tạo Việt Nam hiện nay.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Dạy học hiện nay đều hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm, làm cho họ phải tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức để có thể lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và sâu sắc, mỗi giáo viên đều ý thức được vấn đề này, nên đã từng bước tiếp cận và sử dụng các phương pháp, cách thức dạy học nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, sinh viên, trong đó, giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong khâu dạy bài mới, nhưng chưa có hệ thống và mang tính tự phát, đặc biệt ít sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) dạng MCQ (Multiple Choose Question – dạng lựa chọn đa phương án).

Môn sinh học nói chung, chương II “cấu trúc của tế bào” nói riêng có nhiều kiến thức cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi được thể hiện qua kênh hình, có nhiều hình ảnh mầu, hình ảnh động cần khai thác, tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Hệ thống câu hỏi nói chung, câu hỏi TNKQ dạng MCQ nói riêng và phần mềm Power point với nhiều ưu việt, chúng ta biết kết hợp và khai thác triệt để sẽ đạt hiệu quả cao trong dạy học.

Vì vậy chúng tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi và phần mềm PowerPoint trong khâu dạy bài mới để tích cực hoá hoạt động dạy học và nâng cao chất lượng dạy học các bài về “cấu trúc tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực” sinh học 10 nâng cao THPT.

Trong bài này, chúng tôi tập trung đề cập đến cách sử dụng và kết quả của nó trong dạy học.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1. Đối tượng nghiên cứu

Quy trình sử dụng câu hỏi, phần mềm PowerPoint để hình thành kiến thức mới trong dạy học các bài về “cấu trúc tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực” sinh học 10 nâng cao THPT.



2.2. Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:



2.2.1. Nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan để soạn các giáo án trình chiếu, đề xuất biện pháp sử dụng câu hỏi, phần mềm PowerPoint để dạy các bài về “cấu trúc tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực” sinh học 10 nâng cao THPT.



2.2.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Chúng tôi gặp gỡ, trao đổi với những thầy cô có kinh nghiệm về lĩnh vực mình nghiên cứu, lắng nghe tư vấn của các thầy cô để giúp cho việc định hướng nghiên cứu triển khai đề tài.



2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.3.1. Chọn tr­ường, lớp thực nghiệm.

Chúng tôi chọn 4 lớp tr­ường THPT Triệu Sơn IV, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa để thực nghiệm. Trong đó:

+ Hai lớp thực nghiệm(TN) là lớp 10N­1 và 10N2.

+ Hai lớp đối chứng (ĐC) là lớp 10N­3 và 10N4.

Học sinh của 4 lớp này có số l­ượng, chất l­ượng, trình độ kiến thức và năng lực tư duy tương đư­ơng nhau.

Trong quá trình thực nghiệm chúng tôi kết hợp với các giáo viên sinh học ở trường để thảo luận, thống nhất nội dung, ph­ương pháp giảng dạy.



2.3.2. Bố trí thực nghiệm

- Thời gian từ 10 – 10 – 2007 đến 20 – 11 – 2007.

- Mỗi lớp dạy 5 bài giống nhau trong 5 tiết, trong đó:

Các lớp TN: Bài học đ­ược thiết kế theo phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ và phần mềm PowerPoint để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh bằng công tác tự lực nghiên cứu sách giáo khoa (SGK).

Các lớp ĐC: Bài học đ­ược thiết kế theo hướng dẫn ở sách giáo viên.

- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi kiểm tra bằng cách trả lời trực tiếp các câu hỏi ở trên lớp, mỗi học sinh ít nhất một lần; cuối đợt thực nghiệm kiểm tra chất lượng lĩnh hội và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh ở cả 2 nhóm (ĐC và TN) bằng 1 bài 45 phút.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Quy trình sử dụng câu hỏi để thiết kế giáo án dạy bài mới

3.1.1. Các bước: Gồm 4 bước

Bước 1: Giới thiệu bài học, giao câu hỏi tự luận lớn, đồng thời chia thành các câu hỏi nhỏ và phát phiếu học tập (là các câu hỏi TNKQ) cho học sinh. Hướng dẫn học sinh đọc SGK, trả lời câu hỏi TNKQ để trả lời câu hỏi tự luận nhỏ.

Bước 2: Học sinh về nhà đọc SGK, trả lời câu hỏi TNKQ để trả lời câu hỏi tự luận nhỏ  trả lời câu hỏi tự luận lớn (là kiến thức học sinh cần thu nhận).

Bước 3: Tiến trình lên lớp, tổ chức thảo luận theo nhóm hay cả lớp, chính xác hoá câu trả lời, lý giải các phương án của câu hỏi trắc nghiệm.

Bước 4: Ứng dụng kiến thức qua làm bài tập, trả lời câu hỏi để học sinh nắm vững kiến thức.

3.1.2 Ví dụ minh hoạ quy trình sử dụng câu hỏi để thiết kế giáo án dạy bài mới

Ví dụ dạy mục màng sinh chất trong bài 17: Tế bào nhân thực (tiếp theo)



Bước 1: Giới thiệu bài học.

- Giao câu hỏi tự luận lớn “Màng sinh chất có cấu tạo và chức năng như thế nào?”

- Để trả lời câu hỏi lớn này, giáo viên đưa ra các câu hỏi nhỏ sau:

1. Màng sinh chất được cấu tạo từ những thành phần nào?

2. Tại sao mô hình cấu trúc màng sinh chất gọi là mô hình khảm động?

3. Ngoài những thành phần chính cấu tạo nên màng sinh chất, thì màng sinh chất còn có những thành phần nào khác?

4. Chức năng của màng sinh chất là gì?

5. Nhờ đặc điểm nào của màng sinh chất mà các tế bào của cùng một cơ thể có thể nhận biết nhau và nhận biết các tế bào lạ của cơ thể?

Như vậy, từ câu hỏi lớn ban đầu, giáo viên chia ra thành 5 câu hỏi tự luận nhỏ khác nhau. Học sinh trả lời 5 câu hỏi nhỏ này mới có thể trả lời được câu hỏi lớn ban đầu.

- Phát phiếu học tập (là các câu hỏi TNKQ) cho học sinh. Sau khi đã giao câu hỏi tự luận nhỏ gây ra sự thắc mắc ở học sinh, để định hướng cho học sinh tự lực nghiên cứu SGK, giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh, yêu cầu học sinh sử dụng các phương án của câu hỏi trong phiếu học tập để trả lời các câu hỏi trên. Các câu hỏi TNKQ trong phiếu học tập được dựa trên những câu hỏi tự luận nhỏ. Trả lời được các câu hỏi trong phiếu học tập học sinh có thể trả lời được các câu hỏi nhỏ.

- Căn cứ vào chương trình, chúng tôi cho học sinh đọc từ trang 60 đến trang 62 SGK sinh học 10 nâng cao, để trả lời các câu hỏi.



Bước 2: Học sinh về nhà đọc SGK, trả lời câu hỏi TNKQ để trả lời câu hỏi tự luận nhỏ  trả lời câu hỏi tự luận lớn (là kiến thức học sinh cần thu nhận).

Bước 3: Tiến trình lên lớp, tổ chức thảo luận theo nhóm hay cả lớp, chính xác hoá câu trả lời, lý giải các phương án trong phiếu học tập.

Trong 5 câu hỏi tự luận nhỏ, có câu có ít học sinh trả lời được hoặc phương án trả lời không đồng nhất. Giáo viên cần tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm nhỏ (từng bàn) hay cả lớp để các em đi đến sự thống nhất chung trong câu trả lời.

Có thể lấy ví dụ ở câu hỏi tự luận số 2:

Tại sao mô hình cấu trúc màng sinh chất gọi là mô hình khảm động?

Để trả lời câu hỏi này, giáo viên yêu cầu các em trả lời câu hỏi:

Màng sinh chất là một cấu trúc khảm động vì:

 A. Các phân tử cấu tạo nên màng xếp xen kẽ và có thể thay đổi trong phạm vi màng.

 B. Được cấu tạo bởi nhiều loại chất hữu cơ khác nhau.

 C. Phải bao bọc xung quanh tế bào.

 D. Gắn kết chặt chẽ với khung xương tế bào.

 E. Liên hệ với các cấu trúc bên ngoài màng.

Với câu hỏi này, sau khi thảo luận, học sinh đi đến thống nhất: màng sinh chất là một cấu trúc khảm động vì các phân tử cấu tạo nên màng xếp xen kẽ và có thể thay đổi trong phạm vi của màng.

Giáo viên cần cho các em lý giải tất cả các phương án trả lời của câu hỏi để sau đó chính xác hoá câu trả lời và hình thành nên kiến thức chuẩn ở học sinh.

Bước 4. Ứng dụng kiến thức qua làm bài tập, trả lời câu hỏi để học sinh nắm vững kiến thức.

3.2. Cách sử dụng powerpoint để thiết kế giáo án

3.2.1. Nguyên tắc thiết kế

Đảm bảo tính trực quan, vừa sức, thống nhất giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học.



3.2.2. Các bước sử dụng PowerPoint để thiết kế giáo án

Có rất nhiều cách để thiết kế giáo án bằng PowerPoint, sau đây là các bước cơ bản chúng tôi đã sử dụng:



Bước 1. Mở PowerPoint chọn kiểu dáng và định dạng tổng quát cho tài liệu.

Bước 2. Định dạng cho slide.



Bước 3. Nhập nội dung cho từng slide.

Bước 4. Tạo hiệu ứng PowerPoint để hoàn thiện nội dung và hình thức trình chiếu các slide.

Bước 5. Chạy thử chương trình.

Bước 6. Đặt tên chương trình và ghi lại.

Từ nội dung chương trình, hệ thống câu hỏi và quy trình sử dụng câu hỏi chúng tôi đã soạn các giáo án thông thường. Các giáo án này cùng với nguyên tắc thiết kế và các bước sử dụng PowerPoint chúng tôi đã thiết kế được 5 giáo án trên máy tính để tiến hành thực nghiệm. Và tiến hành thực nghiệm như đã trình bày ở phần phương pháp nghiên cứu.



3.3. Kết quả kiểm tra trong quá trình thực nghiệm

Bảng 1. Tần suất các điểm đạt được trong kiểm tra

Lớp

N

Số lượng học sinh đạt điểm Xi

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

ĐC

212

0

14

28

44

74

32

18

2

0

0

TN

214

0

0

4

10

34

56

68

32

10

0

Bảng 2: Tần suất phần trăm các điểm đạt được trong kiểm tra

Lớp

N

% số lượng học sinh đạt điểm Xi

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

ĐC

212

0

6,60

13,21

20,76

34,91

15,09

8,49

0,94

0

0

TN

214

0

0

1,87

4,67

15,89

26,17

31,78

14,95

4,67

0

Trong đó : N: Là tổng số học sinh của lớp hay tổng số bài kiểm tra

Xi: Điểm số theo thang điểm 10.


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương