I thông tin chung tác giả: ThS. Phan Đăng Liêm Cơ quan tác giả



tải về 77.15 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu18.01.2019
Kích77.15 Kb.

TBKT 03-06:2017/BNNPTNT

GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG HỆ THỐNG TỜI THỦY LỰC CHO NGHỀ LƯỚI CHỤP Ở VÙNG BIỂN XA BỜ VIỆT NAM



(Ban hành kèm theo Quyết định số 1263/QĐ-TCTS-KHCN&HTQT ngày 29/12/2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản)

I. THÔNG TIN CHUNG

1. Tác giả: ThS. Phan Đăng Liêm

2. Cơ quan tác giả: Viện Nghiên cứu Hải sản

- Địa chỉ: 224 Lê Lai - Ngô Quyền - Hải Phòng

- Điện thoại: 02253. 837898 Fax: 02253. 836656

- Email: pdliemrimf@gmail.com



3. Nguồn gốc xuất xứ:

Kết quả thực hiện dự án “Xây dựng mô hình cơ giới hóa nghề lưới chụp cho đội tàu khai thác hải sản xa bờ” do Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì và thực hiện trong năm 2016.



4. Đối tượng áp dụng: các tàu lưới chụp khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ (Cỡ tàu: chiều dài vỏ ≥18 m, chiều rộng ≥ 5 m, công suất máy chính ≥ 90CV).

5. Phạm vi áp dụng: Các tỉnh có nghề lưới chụp ở vùng biển xa bờ Việt Nam.

6. Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, xã hội, môi trường:



  • Chỉ tiêu năng suất:

- Năng suất khai thác khoảng 396,7 kg/mẻ cao hơn so với tàu lắp tời cơ truyền thống khoảng 6-12kg/mẻ. Trong đó, năng suất khai thác mực trung bình đạt khoảng 59,5 kg/mẻ, cá đạt khoảng 337,2 kg/mẻ.

- Năng suất lao động trung bình khoảng 453,4 kg/đêm cao hơn so với tàu không lắp hệ thống tời thủy lực khoảng 20 - 25%,.



  • Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm:

Thời gian thu lưới ngắn, chất lượng cá tốt hơn: Tốc độ thu lưới của tàu khi sử dụng hệ thống tời thủy lực (khoảng từ 20 - 32 vòng/phút) nhanh hơn tàu lắp tời cơ truyền thống (khoảng từ 12-16 vòng/phút) nên cá được đưa vào hầm bảo quản nhanh hơn nên chất lượng cá tươi và tốt hơn.

  • Chỉ tiêu kinh tế, xã hội:

- Lợi nhuận của các tàu tham gia mô hình cao hơn 15,1% so với các tàu không tham gia mô hình.

- Thu nhập trung bình của lao động trên tàu lưới chụp lắp tời thủy lực khoảng 9,8 triệu đồng/tàu/tháng cao hơn khoảng 1,5 lần so với tàu lắp tời truyền thống.

- Giảm 2 - 3 thuyền viên trên tàu lưới chụp khi áp dụng hệ thống tời thủy lực, điều này góp phần giải quyết tình trạng thiếu lao động đi biển trên các tàu khai thác xa bờ hiện nay từ đó giúp ổn định xã hội cho cộng đồng ngư dân.

- Tăng 2 - 3 mẻ lưới/đêm, do giảm thời gian thu lưới.

- Tăng tuổi thọ của dây giềng rút khoảng từ 3-4 tháng lên 6-7 tháng.

- Đảm bảo an toàn hơn khi hoạt động trên biển.



  • Chỉ tiêu môi trường:

- Giải pháp kỹ thuật này sẽ giúp các tàu khai thác có ảnh hưởng đến nguồn lợi như lưới kéo chuyển đổi nghề từ đó góp phần bảo vệ nguồn lợi hải sản.

- Thời gian thu lưới giảm từ đó giảm được thời gian chạy máy nên giảm được lượng khí thải ra môi trường.



II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP

1. Cấu tạo và thông số cơ bản của hệ thống tời thủy lực

- Cấu tạo hệ thống tời thủy lực:

Cấu tạo của hệ thống tời thủy lực, gồm: 1: Mô tơ điện; 2: Bơm thủy lực; 3: Két nhớt thủy lực; 4: Sinh hàn; 5: Hộp giảm tốc của động cơ thủy lực; 6: Hộp số; 7: Tang thu dây giềng rút; 7a: Ly hợp của tang thu giềng rút; 7b: Phanh hãm tang thu giềng rút; 8, 9, 10, 11: Các tang thu dây ganh; 8a, 9a, 10a, 11a: Ly hợp các tang thu dây ganh; 8b, 9b, 10b, 11b: Phanh hãm tang thu dây ganh; 12: Mô tơ nhớt. Chi tiết cấu tạo của hệ thống tời thủy lực ở hình 1.



- Thông số cơ bản của hệ thống tời thủy lực:

+ Hệ thống động cơ thủy lực: Hệ thống động cơ thủy lực trên tàu lưới chụp gồm: Mô tơ điện, bơm thủy lực, két nhớt thủy lực, sinh hàn, hộp giảm tốc của động cơ thủy lực, hộp số, mô tơ nhớt, ống nhớt. Thống số các thiết bị phụ thuộc vào kích thước tàu, trọng lượng ngư cụ, chi tiết thể hiện ở bảng 1.






Hình 1: Cấu tạo của hệ thống tời thủy lực trên tàu lưới chụp

Bảng 1: Một số thông số cơ bản của hệ thống động cơ thủy lực

TT

Các bộ phận hệ thống tời thủy lực

Trọng lượng của ngư cụ (chì, lưới và vòng khuyên)

Ghi chú

<1,5 tấn

1,5 - 2,5 tấn

>2,5 tấn

1

Mô tơ điện: - Công suất (Hp)

- Tốc độ vòng quay (vòng/phút)



30 - 50

960 - 1.450



50 - 75

960 - 1.450



60 - 75

960 - 1.450



Tàu công suất >90cv kích thước tàu: chiều dài ≥18m, chiều rộng ≥5m

2

Bơm thủy lực

Bơm bánh răng, piston

3

Hộp số giảm tốc: - Kiểu mẫu:

- Tỷ số truyền:



500

1:21.5


500 - 650

1:21.5


500 - 650

1:21.5


4

Hộp số

3 cấp

3 cấp

3 cấp

5

Sinh hàn (cái)

01

01

01

6

Két nhớt thủy lực (lít)

120 - 150

150 - 200

150 - 200

+ Hệ thống cơ khí: Hệ thống cơ khí được thiết kế, gồm: Tang thu dây giềng rút; Ly hợp của tang thu giềng rút; Phanh hãm tang thu giềng rút; Các tang thu dây ganh; Ly hợp các tang thu dây ganh; Phanh hãm tang thu dây ganh. Chi tiết kích thước của các bộ phận cơ khí thể hiện ở hình 2.

- Nguyên lý hoạt động của hệ thống tời thủy lực: Máy tời thủy lực được truyền động bằng hệ thống thủy lực (hình 1). Khi mô tơ điện (1) hoạt động thì bơm thủy lực (2) sẽ đưa dầu thủy lực từ thùng chứa (3) qua bộ chia thủy lực (4) lên hộp giảm tốc động cơ thủy lực (5). Động cơ thủy lực sẽ biến thế năng của dầu thủy lực thành cơ năng và được truyền trực tiếp đến hộp số (6) và trục quay. Dầu thủy lực sau khi đi qua động cơ thủy lực sẽ được hồi về két chứa.

Các tang thu dây giềng rút và dây ganh (7, 8, 9, 10) được liên kết hoặc tách với trục quay bằng hệ thống ly hợp (7a, 8a, 9a, 10a, 11a). Mỗi một tang thu dây sẽ có một bộ phanh hãm (7b, 8b, 9b, 10b, 11b).


  • Cách bố trí và lắp đặt hệ thống tời thủy lực trên tàu lưới chụp:

Hệ thống tời thủy lực có thể lắp đặt ở phía trước mũi tàu hoặc ở giữa tàu (phía trước cabin) như hình 3.

group 464

Hình 3: Vị trí lắp đặt hệ thống tời thủy lực trên tàu lưới chụp

Như vậy, toàn bộ dây giềng rút, dây ganh của lưới được tích hợp vào hệ thống tời thủy lực và lắp đăt ở phía trước mũi tàu hoặc giữa tàu (như hình 3) vừa tăng được diện tích mặt boong thao tác vừa thao tác dễ dàng hơn. Khi so sánh với tời cơ truyền thống cho thấy, trên tàu phải lắp đặt 02 bộ tời (một ở phía sau lái và 01 ở trước mũi) điều này không những mất nhiều diện tích mặt boong, mà việc thao tác thu thả lưới cũng khó khăn hơn.



2. Quy trình kỹ thuật khai thác khi sử dụng hệ thống tời thủy lực

  • S
    ơ đồ quy trình



Hình 3: Sơ đồ quy trình kỹ thuật khai thác trên tàu lưới chụp khai thác xa bờ

  • Các bước thực hiện quy trình

Bước 1: Thắp sáng tập trung cá

Khi tàu đến ngư trường đã định, thuyền trưởng cho tàu thả neo dù, chuẩn bị thắp sáng để tập trung cá:

- Khởi động hệ thống phát điện: khoảng 17h30 đến 18h30 (tùy theo thời tiết từng mùa) thuyền trưởng cho tiến hành khởi động máy phát điện. Trước khi khởi động cần kiểm tra và ngắt tất cả các thiết bị điểu khiển (cầu dao, công tắc, phích điện …) của phụ tải. Sau đó, thuyền trưởng chỉnh ga của máy phát điện để đảm bảo điện áp khoảng 220v.

- Thắp sáng tập trung cá: khi nguồn điện hoạt động ổn định, thuyền trưởng bắt đầu đóng các thiết bị điều khiển bóng đèn để thắp sáng. Việc khởi động cần tiến hành xen kẽ và lần lượt: lần lượt bật các bóng đèn từ trước mũi ra sau lái, các bóng được bật xen kẽ, thường thì mỗi lần bật khoảng 1/3 hoặc 1/4 tổng số lượng bóng đèn. Thường xuyên kiểm tra điện áp nguồn điện để có những điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo điện áp trong khoảng 220 v.

.



Ghi chú: (1) Tang thu giềng rút; (2) Bộ đầu thủy lực; (3) Phanh hãm; (4) Tang thu dây ganh; (5) Tang thu dây neo

Hình 2: Cấu tạo và kích thước các bộ phận cơ khí của hệ thống tời thủy lực

Bước 2: Chuẩn bị thả lưới

Sau khi phân tích, đánh giá đàn cá thông qua máy dò đứng, lựa chọn thời điểm thả lưới, thuyền trưởng ra lệnh cho các thuyền viên chuẩn bị cho quá trình thả lưới:

- Kiểm tra lại hệ thống áo lưới, dây giềng để đảm bảo cho quá trình thả lưới được thông suốt.

- Kiểm tra lại hệ thống trang thiết bị khai thác (máy tời thủy lực, hệ thống đèn gom …) đảm bảo trạng thái sẵn sàng làm việc

- Mở dây buộc giềng rút, mở phanh hãm 7b, 8b, 9b, 10b và 11b (hình 4) và đóng ly hợp 7a, 8a, 9a, 10a và 11a (hình 4) của các tang thu dây, gạt cần điều khiển hộp số thủy lực về số “0”.

- Đóng cầu dao điện của máy tời thủy lực. Kéo cần số thủy lực, từ từ thu để kéo căng dây giềng rút chì và các dây ganh.

- Sau khi các dây đã được kéo căng thì gạt cần số thủy lực về số “0”.

Bước 3: Định hình lưới

Sơ đồ bố trí nhân lực được thể hiện trong hình 4: thuyền trưởng có trách nhiệm điều hành chung; thủy thủ số 1 phụ trách điều khiển hộp số thủy lực và tang thu dây giềng rút; thủy thủ số 2 điều khiển 04 tang thu dây ganh (thủy thủ số 1 và số 2 phải phối hợp với nhau trong quá trình thao tác); thủy thủ số 3, 4, 5 và 6 có nhiệm vụ xếp lưới và hỗ trợ trong quá trình thả lưới.





Hình 4: Sơ đồ bố trí nhân lực bắt đầu thực hiện quá trình ra lưới

Khi có lệnh của thuyền trưởng, thủy thủ trên tàu bắt đầu tiến hành ra lưới:

- Thủy thủ số 2 mở ly hợp số 10a và 11a (ly hợp 7a, 8a và 9a vẫn đóng).

- Thủy thủ số 1 kéo nhẹ cần số, lúc này tang số 7, 8 và 9 sẽ hoạt động, còn tang số 10 và 11 không hoạt động do đã ngắt ly hợp. Tang số 7 quay sẽ thu dây giềng rút, nâng chì lưới và vòng khuyên lên cao. Tang số 8 và 9 sẽ đồng thời thu dây ganh của 2 tăng gông ở bên mạn trái tàu (tăng gông phía trước và phía sau) để kéo toàn bộ chì lưới và vòng khuyên ra phía ngoài mạn tàu.

- Khi quan sát thấy chì lưới và vòng khuyên đã được đưa ra ngoài mạn tàu thì thủy thủ số 1 nhanh chóng đẩy cần số lên phía trước để thả lưới xuống. Khi lưới đã được đưa xuống mặt nước thủy thủ số 1 kéo cần số về số “0” để hãm toàn bộ hệ thống.

- Thủy thủ số 1 hãm chặt phanh 7b lại, sau đó ngắt ly hợp 7a.

- Thủy thủ số 2 đóng ly hợp số 10a và 11a.

- Thủy thủ số 1 kéo cần số để các tang số 8, 9, 10 và 11 thu dây ganh, kéo lưới lên 4 tăng gông (đảm bảo tốc độ thu vừa phải, tùy theo tình hình sóng gió trên biển).

- Trong quá trình ra lưới, thủy thủ số 1 và số 2 phải quan sát 4 tăng gông, khi thấy lưới được kéo lên đầu tăng gông nào thì thủy thủ số 1 gạt cần số về số “0”, thủy thủ số 2 nhanh chóng hãm chặt phanh để giữ tang thu dây ganh ở tăng gông đó lại, đồng thời ngắt ly hợp của tang thu dây đó. Sau đó thủy thủ số 1 kéo cần số để tiếp tục thu các dây ganh còn lại.

Lặp lại các thao tác của bước 7 đến khi tất cả các dây ganh được thu hết lên 4 đầu tăng gông.





Hình 5: Sơ đồ bố trí nhân lực thực hiện định hình lưới

Kết thúc quá trình ra lưới, tất cả các ly hợp 7a, 8a, 9a, 10a và 11a đều được ngắt, các phanh hãm 8b, 9b, 10b và 11b được hãm chặt, riêng phanh hãm số 7b là được mở.



Bước 4: Thả lưới

Quá trình thả lưới khi sử dụng máy tời thủy lực được thực hiện theo kỹ thuật thả buông dây (dây ganh sẽ chìm theo lưới, hình 5).

Sau khi lưới đã được định hình ở 4 tăng gông, thuyền trưởng bắt đầu tiến hành quá trình giảm cường độ chiếu ánh sáng:

Đầu tiên, thuyền trưởng sẽ tắt đều số lượng bóng ở cả hai bên mạn tàu, lần lượt từ bên mạn phải rồi đến mạn trái, tắt từ mũi tàu đến đuôi tàu. Mỗi lần tắt từ 12 - 18 bóng, chu kỳ tắt khoảng 1 - 1,5 phút. Cuối cùng khi còn 10 - 12 bóng ở giữa tàu bên mạn trái thì thuyền trưởng bắt đầu bật đèn gom. Giảm dần cường độ sáng của gom bằng cách điều chỉnh hiệu điện thế. Thường xuyên quan sát trên máy dò và bằng mắt thường dưới mặt nước, khi thấy mực nổi lên nhiều thì ra lệnh thả lưới (bấm còi).

Khi có lệnh của thuyền trưởng, thủy thủ số 1 và 2 nhanh chóng mở các phanh hãm 8b, 9b, 10b và 11b (hình 1) để lưới chìm xuống dưới.

Các thủy thủ còn lại có nhiệm vụ xếp và thả đều đặn thịt lưới xuống theo tốc độ chìm của chì lưới (Thủy thủ số 3 và 4 sử dụng tay kéo dây giềng rút và 2 dây ganh sau lái ra để hỗ trợ cho lưới chìm nhanh hơn).





Hình 6: Sơ đồ mô tả quá trình chìm lưới

Thuyền trưởng quan sát trên máy dò, khi lưới chìm đến độ sâu nhất định (hoặc chạm đáy biển) thì ra lệnh bắt đầu quá trình thu lưới (bật đèn chiếu sáng ở vị trí đặt máy tời thủy lực).



Bước 5: Thu lưới

Quá trình thu lưới chia thành 2 giai đoạn: thu giềng rút và thu áo lưới.

Khi có lệnh của thuyền trưởng, thủy thủ số 1 nhanh chóng đóng ly hợp 7a (hình 4) và kéo cần số để bắt đầu quá trình thu dây giềng rút. Tốc độ thu vừa phải, nếu sóng gió lớn thì giảm tốc độ thu, ngược lại nếu biển êm thì tăng tốc độ thu.

Thủy thủ số 2 quan sát các dây ganh, nếu dây nào trùng thì đóng ly hợp của tang thu dây ganh đó để từ từ thu lại, khi dây ganh có dấu hiệu căng thì ngắt ly hợp.

Khi toàn bộ vòng khuyên và chì được cẩu lên trên boong tàu thì thuyền trưởng lặp lại quá trình thắp sắng tập trung cá, đồng thời bắt đầu tiến hành quá trình thu áo lưới. Áo lưới được gom gọn vào 1 chỗ, sau đó dùng tời cẩu dần từng phần lên, thu áo lưới đến đâu tiến hành xếp đến đó. Sơ đồ bố trí nhân lực trong quá trình thu áo lưới được thể hiện trong hình 7, thủy thủ số 1 điều khiển máy tời, thủy thủ số 3 và 6 buộc dây để tời lưới, thủy thủ số 2, 4 và 5 chịu trách nhiệm xếp lưới.



Hình 7: Sơ đồ bố trí nhân lực thực hiện quá trình thu lưới

Bước 6: Phân loại và bảo quản sản phẩm

Sau khi sản phẩm được đưa lên boong tàu, thủy thủ tiến hành phân loại theo loài, kích thước rồi cho vào từng két nhựa (mỗi két khoảng 15 - 20 kg). Dùng nước biển rửa sạch sản phẩm, để ráo nước sau đó lấy nắp đậy kín két và đưa xuống hầm, quy trình bảo quản như sau:

- Lót 1 lớp đáy dưới đáy hầm bảo quản, dày khoảng 20 cm.

- Đưa các khay sản phẩm đã được đậy nắp xuống hầm và xếp theo từng hàng, từng lớp. Giữa các khay rải 1 lớp đáy xay dày khoảng 10 cm.

- Xếp luân phiên các lớp khay sản phẩm, lớp đá cho đến khi đầy hầm cá. Lớp khay trên cùng phủ một lớp đá xay dày khoảng 20 cm, rồi đậy kín nắp hầm.

- Trong thời gian bảo quản, thường xuyên kiểm tra tình trạng cá và kịp thời bổ sung đá xay nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm. Thời gian bảo quản mực tốt nhất trong khoảng 5 - 6 ngày.







Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương